Hàng hoá nhiều thì giá hạ. Hàng hoá khan thì giá cao

ĐỊNH LÝ THỨ TƯ: Hàng-hoá nhiều thì giá hạ. Hàng-hoá khan thì giá cao

ĐỂ CHÚNG TA NHỚ ĐỂN QUAN  ĐIỂM CỦA CÔNG-CHÚNG.

ĐỊNH LÝ THỨ TƯ

HÀNG-HOÁ NHIỀU THÌ GIÁ HẠ.

HÀNG-HOÁ KHAN THÌ GIÁ CAO.

GIÁ-TRỊ cố-hữu của một món hàng ít liên-quan với giá bán của món hàng ấy. Trên thị-trường nào cũng thế, giá hàng thường trồi-sụt, bởi vì thật-ra món hàng tốt xấu không quan-hệ, điều quan-hệ là công-chúng cần đến mọn hàng ấy hay không, nghĩa là có sẵn-sàng mua hay không.

Giá hàng thay đổi tuỳ theo sở-thích của người mua đối với món hàng, tuỳ theo món hàng có nhiều hay ít trên thị-trường, tuỳ thời-trang, tuỳ thói-quen và sợ-thích của công-chúng. Nhưng không có một uỷ-ban chuyên môn nào định rõ  được những điều trên đây như có người đã lầm-tưởng.

Theo ý tôi, món hàng rẻ nhất trên thế-giới là tờ nhựt-, báo mà mỗi ngày người ta gởi đến nhà anh, giá một xu. Khi một người phu dốt, chuyên sống bằng tay chưn, mang chiếc va-li của anh từ xe hơi đến xe lửa, anh trả cho người phu ấy bốn xu, với bốn xu ấy y mua được bốn tờ nhựt-báo, mỗi tờ một xu và nhờ đó y tiếp được trong bốn ngày liền những tin-tức quan-trọng nhứt trên thế-giới: đó là điều bất thường trong giá hàng.

Xét theo định-lý nầy, nếu số phu khuân vác không khan mà lại khan xe-lửa thì người phu còn có thể đòi thêm một số tiền nước khá cao tương-đối với việc y làm cho anh. Nếu xe-lửa chạy liền-liền năm phút một chuyến, và người phu ấy có thể giúp việc cho hai chục hành-khách mỗi giờ, tiền công của y sẽ sụt xuống một xu.

Năm 1860, báo Times, báo Nem, báo Post bán với giá 50 xu. Thuế báo được huỷ bỏ, người ta bắt đầu đăng quảng-cáo trên báo, rồi đến máy in hiệu Hoe ra đời, in được mỗi giờ 120-000 tờ báo, thêm sự cạnh-tranh giữa các báo với nhau, giá báo sụt xuống, nhưng không bao giờ người ta nói đến giá-trị cố-hữu của tờ báo.

HÀNG-HOÁ NHIỀU THÌ GIÁ HẠ. HÀNG HOÁ KHAN THÌ GIÁ CAO. Nếu người ta so-sánh vấn-đề giá bán với một vùng cát rộng thì sự thật trên dây rõ-ràng như một hòn đá cuội nổi trên vùng cất ấy. Nhưng chính cái chân-lý ấy lại thường bị người ta dễ bỏ quên hơn két. Những công-việc doanh-nghiệp sở-dĩ bị thất-bại, bởi vì người chủ-trương xem thường cái chân-lý ấy.

Ta thử đem chân-lý nầy áp-dụng vào sự đầu-cơ bán đất. Vì một lý-do nào đó, một số đông người đổ-xô tới một miếng đất bán ở tại một vùng nào đó; 1000 người mua, mà chỉ có 500 lô đất. Giá bán vụt lên không ngừng. Người mua càng đông, giá bán càng cao. Nhưng khi số người mua sụt xuống thì giá bán cũng sụt theo. Dần-dần số lồ đạt tương-đương với số người mua; khi ấy sự đầu-cơ phải dừng lại và sự phá-giá bắt đầu.

Không bao giờ món hàng tự nó đại-diện cho giá bán của nó; người ta tuỳ từng lúc, từng nơi mà đánh giá nó. Trái dâu vào tháng Sáu chỉ bán được sáu xu một hộp mà sang Noel thì lại lên đến ba quan. Vì lẽ đó mà những bức tranh và tác-phẩm nghệ-thuật bán giá cao: người ta chỉ tạo ra mỗi thứ một bức mà thôi.

Tháng chín năm 1914, sau khi chiến-tranh tuyên-bố, các nhà hàng Wanamaker rao lên rằng họ chỉ còn mua được ít tá áo dài ở Ba-lê nữa mà thôi. Các nhà hàng ấy tuyên-truyền rằng ông Paul Poiret[1] phải tùng-chinh, ông Worth đóng cửa tiệm và tại tiệm nầy họ chỉ còn mua được một chiếc áo đàn-bà mà thôi. Lối quảng-cáo ấy có kết-quả lạ thường. Ngày hôm sau, mười ngàn phụ-nữ đổ-xô tới nhà hàng để xem chiếc áo duy-nhứt mua được tại tiệm ông Worth.

Nếu mỗi năm trời chỉ có một đám mây, và suốt mùa hè chỉ có một đoá hoa nở thì thiên hạ nô-nức xem mây, ngắm hoa đến bực nào!

Nếu các anh muốn tăng giá-trị một món hàng thì đừng nên bán hạ-giá và đừng phân-phát ra nhiều quá. Ai cũng biết rằng ở các phòng triển-lãm và những cuộc thịnh-diễn thí không thì ít người lui tới; cái gì mà ai cũng sắm được thì không còn ai tha-thiết nữa, đó là một sự thật tuyệt-đối, một sự thật tối-quan-trọng trong công-việc doanh-nghiệp.

Nếu tôi là vua và tôi muốn hạ uy-quyền của bọn quý-tộc, tôi không thèm bớt số vương-hầu, mà ngược lại, tôi tạo thêm 10.000 tước-vị mới: không có sức mạnh nào hại uy-quyền bọn quý-tộc hơn là thủ-đoạn làm cho bọn quý-tộc đông quá đến mất giá-trị.

Muốn áp-dụng sự thật nầy vào thực-tế, thì khi nào anh đem bán một hoá-vật nào, anh nên sắp-đặt cho nó có một tánh-cách duy-nhứt. Nếu anh có một cửa hàng, anh phải làm cho cửa hàng ấy có cái đặc-sắc của nó. Công-chúng không những cần món hàng mà thôi, họ cần thỏa-thích hứng-thú và trước hết họ chú-ý đến món hàng nào khêu-gợi được sở-thích của họ,làm cho họ hay nhắc-nhở đến.

Món hàng nào làm cho khách-hàng tự-đắc được, thì khách-hàng sẽ trả giá gấp đôi. Khi gặp được một món hàng khiến họ có thể hãnh-diện được giữa đám chị em thì người đàn-bà sẵn-sàng mua đắt món hàng ấy. Thật vậy, tôi không có ý cổ-võ sự tăng giá hàng, tôi chỉ nói rõ rằng sự hạ thấp giá hàng không có ích-lợi gì mà còn tai-hại nữa. Nếu anh bán rẻ quá, tại vì các anh không biết cách bán đó thôi.

Nhưng cái định-lý của chúng tôi còn một mặt khác nữa. Ta còn có thể làm cho món hàng đương ứ-đọng thành ra món hàng khan bằng cách tăng-giá số người mua lên. Số người mua không có hạn-định: người bán có thể tạo nên số người mua được.

Hàng-hoá đã cũ-kỹ mà tìm được cho nó một lối dùng mới ấy là một sự khôn-khéo trong nghề buôn. Những nhà xuất-sản hơi, xi-măng, gỗ trắc-bá, đá cẩm-thạch và nhiều hàng-hoá khác đều hiểu cách chuyển-biến ấy. Nhờ đó mà có nhiều thứ hàng trong bao nhiêu năm bị ngưng-đọng, nhờ đổi tên và đổi cách dùng mà có thể đem ra tiêu-thụ rất nhiều.

Đó là tất cả bí-quyết của một sự quảng-cáo có hiệu-quả. Mục-đích của quảng-cáo là làm cho những khách hàng mới thành ra những khách hàng quen, thấy hàng là mua. Nếu tên anh là Skinner và anh bán hàng sa-tanh, anh phải quảng-cáo cách nào cho hàng phụ-nữ thích mặc sa-tanh và khi bước chưn vào nhà hàng thì họ hỏi ngay thứ sa-tanh Skinner.

Tăng số người mua lên tức là giữ được giá bán cao, và như thế thì có cơ phát-triển được sự sản-xuất và bớt được giá vốn. Sản-xuất 100.000 cây bút máy sẽ lợi hơn 10 cây. Vậy thì sự quảng-cáo khéo làm để tăng số người tiêu-thụ sẽ không thiệt-hại gì cả. Trái lại sự quảng-cáo ấy sẽ được bù lại một cách dồi-dào nhờ số lời nó đem lại.

Ta đừng nên tưởng rằng công-chúng biết rõ những điều mà họ muốn. Thật ra thì công-chúng cần phải được huấn-luyện, chỉ-dẫn mới chọn lựa được sở-thích của mình.

Chế-tạo được món hàng tốt nhứt hoàn-cầu cũng chưa đủ. Anh còn phải lo trình-diện món hàng ấy với công-chúng, phải quảng-cáo, phải chưng trong tủ kiếng để nó gợi sự chú-ý của người ta.

Thuở xưa người ta không dùng máy gặt lúa. Hầu hết dằn cày quen dùng liềm. Khi Mac Cormick phát-minh ra máy gặt, ông phải tốn mười bảy năm mới bán được 100 chiếc đầu-tiên. Ngày nay cũng thế, một món hàng hoàn-toàn mới không được mấy ai để-ý.

Khi một món hàng ứ-đọng quá, thì có hai cách cầm giá được. Cách thứ nhứt là huỷ-bỏ một phần số tích-trữ, cách thứ hai là tìm cách tăng thêm nhu-cầu và sở-thích của công-chúng. Trong hai cách, cách thứ hai hợp-lý hơn. Người bán phải làm quảng-cáo, phải tìm phương-pháp hiệu-nghiệm để làm cho hàng-hoá bán chạy.

Chú thích

  1. Những tay thợ may có tiếng ở Paris lúc bấy giờ. (Lời chú của dịch giả)

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: 16 bí quyết để hái ra tiền
  • Tác giả: Herbert N. Casson
  • Người dịch: Phạm Cao Tùng
  • Nhà xuất bản Đại Nam
  • Nguồn: TVE-4U