Giai cấp

II. GIAI CẤP

1. Bản chất giai cấp

a. Quan điểm của xã hội học tư sản

Nhiều nhà xã hội học tư sản khi quan sát trên bề mặt của xã hội thấy những hiện tượng khác nhau về địa vị xã hội, về tài sản thì lấy đó làm tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau về giai cấp nhưng họ chưa chỉ ra được nguồn gốc của những sự khác nhau đó.

b. Định nghĩa giai cấp của V.I. Lênin

  • “Người ta gọi giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất (thường thường những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
  • Phân tích định nghĩa: Định nghĩa giai cấp của Lênin cho thấy có 4 đặc trưng cơ bản để phân biệt sự khác nhau của các giai cấp:
    • Đặc trưng thứ nhất: Các giai cấp có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định: Không phải bất kỳ hệ thống sản xuất nào cũng sinh ra giai cấp. Sự tồn tại của giai cấp gắn liền với những giai đoạn nhất định của sự phát triển sản xuất vật chất. Chỉ có phương thức sản xuất nào dựa trên sự chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất mới có đối lập nhau về quyền lợi cơ bản giữa các tập đòan người và từ đó họ cũng có địa vị đối lập nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định - giai cấp thống trị và giai cấp bị trị.
    • Đặc trưng thứ hai: Các giai cấp có mối quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất của xã hội.

+ Địa vị khác nhau của các giai cấp trong một hệ thống sản xuất nhất định chủ yếu và trước hết là do quan hệ khác nhau của các giai cấp ấy đối với tư liệu sản xuất xã hội.

+ Giai cấp nào chiếm hữu tuyệt đại bộ phận tư liệu sản xuất hoặc những tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền sản xuất xã hội thì trở thành giai cấp thống trị; ngược lại, những tập đoàn người lao động nhưng không nắm tư liệu sản xuất trở thành giai cấp bị thống trị. Quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất là đặc trưng quan trọng nhất để phân chia giai cấp trong xã hội.

    • Đặc trưng thứ ba: Các giai cấp có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội Giai cấp thống trị chiếm tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì giai cấp đó nắm quyền lực về quản lý sản xuất và quản lý xã hội.
    • Đặc trưng thứ tư: Các giai cấp có phương thức hưởng thụ và quy mô thu nhập khác nhau đối với của cải xã hội. Giai cấp thống trị chiếm tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì giai cấp đó chiếm phần lớn của cải xã hội, họ chiếm đoạt lao động của giai cấp bị thống trị và phương thức huởng thụ của họ là hưởng thụ theo nhu cầu.

c. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa giai cấp của Lênin

  • Giúp giai cấp công nhân và nhân dân lao động hiểu đúng về bản chất giai cấp, định nghĩa này là vũ khí sắc bén chống lại mọi quan niệm sai lầm về giai cấp. Muốn hiểu một giai cấp cụ thể, phải đặt nó trong một phương thức sản xuất cụ thể và phải xem xét nó trong quan hệ với giai cấp khác trong cùng một hệ thống sản xuất vật chất.
  • Vạch cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động con đường đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, xây dựng xã hội không có giai cấp
  • Hiểu được kết cấu giai cấp trong xã hội có giai cấp và xác định đúng lực lượng cách mạng trong xã hội.

2. Nguồn gốc, điều kiện tồn tại của giai cấp

a. Quan điểm của một số nhà xã hội học tư sản

Một số nhà xã hội học tư sản cho rằng sự xuất hiện giai cấp do nguyên nhân chính trị như bạo lực, sự tước đoạt.

b. Quan điểm của CNDVLS

  • Sự phát triển của sản xuất tạo điều kiện khách quan để xuất hiện chế độ tư hữu và xuất hiện giai cấp
  • Chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp.
  • Lịch sử chứng minh rằng nguồn gốc giai cấp suy cho cùng là do lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định. Trong điều kiện phát triển mới của lực lượng sản xuât và của phân công lao động thì sản xuất riêng trong từng gia đình có lợi về kinh tế hơn là lao động sản xuất tập thể của thị tộc và bộ lạc. Nó đem lại năng suất lao động cao hơn và sản phẩm lao động làm ra dồi dào hơn trước. Quan hệ sản xuất công xã nguyên thuỷ không còn phù hợp nữa. Sự chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất dần dần xuất hiện và sản phẩm làm ra dần dần là sản phẩm riêng của từng gia đình. Một số người có quyền hành như các tộc trưởng, tù trưởng, những người chỉ huy quân sự trước đây do bộ lạc bầu ra đã lợi dụng quyền hành đó để chiếm làm của riêng những tài sản vốn là của công xã. Chế độ tư hữu xuất hiện đã làm cho xã hội chia ra kẻ giàu và người nghèo, kẻ bóc lột và người bị bóc lột.

Như vậy theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì bạo lực chỉ có thể đẩy nhanh hoặc làm sâu sắc thêm sự bất bình đẳng giữa các giai cấp chứ không thể là nguyên nhân sinh ra sự bất bình đẳng. Không thể giải thích sự xuất hiện chế độ sơ hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bằng sự cướp đoạt vì sự cướp đoạt chỉ có thể chuyển tài sản từ người sở hữu này sang người sở hữu khác chứ không thể sinh ra chế độ tư nhân.

3. Kết cấu giai cấp của xã hội có giai cấp

Phương thức sản xuất là cơ sở khoa học để phân định kết cấu giai cấp. Phương thức sản xuất thay đổi thì kết cấu giai cấp thay đổi. Trong xã hội có giai cấp, kết cấu giai cấp bao gồm các giai cấp cơ bản, giai cấp không cơ bản và tầng lớp trung gian.

  • Các giai cấp cơ bản có lợi ích đối kháng (giai cấp thống trị và giai cấp bị trị), do quan hệ sản xuất thống trị quy định. Giai cấp thống trị tiêu biểu cho quan hệ sản xuất thống trị của xã hội đang tồn tại. Giai cấp bị trị đại diện cho lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội. (Giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ;Giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân trong xã hội phong kiến; Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản giai cấp trong xã hội TBCN).
  • Các giai cấp không cơ bản không đối kháng nhau, là các giai cấp đại diện cho quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ hoặc mầm mống của quan hệ sản xuất mới. Ví dụ: Giai cấp tư sản trong xã hội phong kiến; Giai cấp nông dân trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
  • Các tầng lớp trung gian đó là những bộ phận không tiêu biểu cho một phương thức sản xuất nào. Nó thường xuyên bị phân hoá. Nhân tố chi phối sự phân hoá của các tầng lớp trung gian là lợi ích. Các tầng lớp trung gian ngả về phía giai cấp thống trị hay bị trị là tuỳ thuộc vào vị trí lợi ích của họ.Ví dụ:
    • Dân tự do trong xã hội chiếm hữu nô lệ.
    • Tầng lớp trí thức.
  • Ý nghĩa thực tiễn:
    • Nghiên cứu kết cấu giai cấp để định ra đường lối chính sách.
    • Ở nước ta, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều giai cấp: giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội; giai cấp nông dân đi theo chủ nghĩa xã hội đang từng bước trở thành nông dân tập thể; tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển đông đảo. Do vậy liên minh công - nông - trí là lực lượng cơ bản của cách mạng.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang
"Like" us to know more!