Giá vốn là tổng số tiền mua ban đầu cộng thêm sở phí gìn giữ

ĐỊNH LÝ THỨ CHÍN: Giá vốn là tổng-số tiền mua ban đầu cộng thêm sở phí gìn-giữ

ĐỂ CHÚNG TA ĐỪNG MUA VẬT GÌ MÀ KHÔNG SUY NGHĨ VÀ KHÔNG DỰ BỊ TRƯỚC

ĐỊNH LÝ THỨ CHÍN

GIÁ VỐN LÀ TỔNG-SỐ TIỀN MUA BAN ĐẦU CỘNG THÊM SỞ PHÍ GÌN-GIỮ

ĐÓ LÀ một sự thật rõ-ràng như hai với hai là bốn. Nhưng bởi không nhận biết cái định-lý giản-dị và khắc-nghiệt nầy mà lắm xưởng máy, lắm nhà buôn và lắm gia-đình sạt-nghiệp.

Nếu phải đổi định-lý này thành ra cách-ngôn, tôi sẽ nói: "Trước khi anh định  khởi-công làm một việc gì, anh hãy nhìn vào định-lý nầy hai lần."

Như phần nhiều định-lý của chúng tôi đã nêu ra  định-lý này trong mấy chục năm sau đây đã trở thành quan-trọng lắm.

Sở-phí để gìn-giữ (les frais d'entretier) dầu là thuộc về máy-móc hay là đồ dùng trong nhà đã tăng lên với một tỉ-lệ ghê-gớm đến nỗi có những công-việc kinh-doanh cơ-hồ suy-sụp vì nó.

Vào thời xưa làm ăn dễ-dãi, sở-phí gìn-giữ gần như không có. Những máy-móc rắc-rối, cơ-khí phiền-tạp chưa ra đời, những kỹ-nghệ những nhà-buôn còn tiêu-sơ quá. Thưở ấy người ta làm việc để " kiếm cơm hàng bữa ", với đồng lương tối-thiểu ấy, ngày nay bọn nô-bộc cũng không thèm. Người học nghề thì làm việc thí công, và trong các hiệu buôn bé tí-tẹo người mua không tìm thấy vật gì để mua cả. Còn những nghề làm có tiền thì chắc-chắn không có bao nhiêu.

Nói và sở-phí gìn-giữ thì ngày nay khác hẳn với ngày trước. Ngày nay chúng ta phải bỏ tiền ra luôn luôn. Mỗi một bước đường chúng ta đều thấy tốn kém; thật vậy, mỗi vật chúng ta mua hình như có một lỗ nẻ - lỗ nẻ để bỏ  xu- lỗ nẻ để bỏ bạc cắc, - lỗ nẻ để bỏ bạc đồng. Tiền mua một vật gì chỉ là một số tiền trả trước đó mà thôi. Tiếp theo đó anh còn phải trả thêm nữa.

Thí-dụ như anh mua một máy hát. Khi máy hát  ấy vào tay anh rồi, anh đã có gì chưa? - Chưa có gì hết. Một mình nó, cái máy hát chưa dùng được việc gì. Cái máy hát ấy chỉ là một cái cớ để anh tốn-tiền mua đĩa hát trọn đời anh, nó chỉ là cái giấy vô cửa để anh có dịp tiêu-phí thêm tiền.

Anh mua một chiếc xe hơi. Anh viết một ngân-phiếu. Anh thấy mang-máng rằng anh vừa tiêu một món tiền lớn và tiêu một lần thôi. Kế đó người ta đem đến cho anh một đơn hàng, rồi một đơn hàng khác để đòi tiền anh nữa. Khi anh trả đến cái đơn hàng thứ hai mươi rồi, anh bắt đầu nói rằng chiếc xe hơi của anh là một người làm công mà anh phải trả lương rất đắt: nó hút tiền của anh hơn người xếp kế-toán của anh nhiều.

Có những thứ của-cải - như hột xoàng chẳng hạn - mới xem qua hình như không cần phải tốn tiền gìn-giữ, nhưng bề nào anh cũng mất lợi về số tiền bỏ ra mua nó - hột xoàng không làm ra lợi - ngoài ra nó còn có thể bị mất, bị trộm hơn là tiền anh để trong nhà băng.

Những vật dùng để trang-sức là những vật luôn- luôn làm hao-tốn, vì một lý-do rất rõ-ràng là món nầy kéo đến món kia. Nếu anh mua một tấm thảm của Đông-phương, anh phải đặt nó lên một sàng nhà xinh-đẹp. Sửa lại sàng nhà cho đẹp, anh phải nghĩ đến việc sơn nhà, quét vôi và do đó anh thấy cần phải mua một cái màn mới, đặt bàn ghế mới v.v..

Một vật mới sắm khiến ta phải thay đổi cả toàn-thể và khiến ta có những ước-muốn mới, nhu-cầu mới.

Chữ Tổng-Cộng (Total) là một danh-từ giả-dối nhứt trong ngôn-ngữ thương-mãi. Danh từ ấy là một gánh nặng: anh càng mang lấy nó, nó càng trì nặng trên vai anh; đó là một danh-từ đáng chán và đáng sợ. Không biết bao nhiêu nhà doanh-nghiệp phải sạt-nghiệp vì không làm được một cái bản TỔNG-CỘNG.

Một nguyên-giá tổng-cộng (prix coûtant total) không phải là một sản-phẩm giản-dị như món xúp bột, mà là một sản-phẩm hết sức phiền-phức như là món bánh plum-pudding[1] gồm có rất nhiều vị, và muốn dung-hoà các vị ấy cần phải có một tay đầu bếp thiện-nghệ. Kế-toán dùng để tính nguyên-giá ngày nay phải tiến-bộ hơn kế-toán của thời xưa nhiều lắm.

Tôi có thể nói theo Kipling rằng: "Người chỉ biết mặt những con số, thì hiểu được gì trong những con số ấy? (Que connait-il des chiffres, celui qui ne connaít que les chiffres?) Những nhà kế-toán chỉ biết làm bộ máy sắp số, cộng, trừ, chia, mà không biết những con số ấy chứa-đựng cái gì, là những nhà kế-toán quá-thời rồi.

Nhà kế-toán hiện-đại không phải là một người máy biết toán học, không phải là bộ máy cộng. Một nhà kế toán khác hẳn một bộ máy. Không có bộ máy nào thay thế nhà kế-toán được. Nhà kế-toán không những là người điều-khiển con số, mà còn phải biết con số ấy có nghĩa gì, gợi ra cái gì, và biểu-thị cái gì.

Phần đông các công-ty Huê-kỳ dùng những nhà kế-toán có tài và nhận thấy vai trò thiết-yếu của họ: họ lãnh lương-bổng rất hậu và được dự tất cả cuộc hội-họp của hội-đồng quản-trị. Một nhà kế-toán có tài đôi khi có thể cứu-vãn nổi những cửa hàng sắp khánh tận.

Ngày nay, giá vốn không phải trước sau như một mà biến-đổi luôn-luôn; ấy là một sự đổi mới không ngừng, một vật linh-động và đồng-thời giả-dối. Anh tưởng rằng đã nắm chặc được nó trong tay: vút một cái nó đã trốn rồi; khi anh tìm nó lại được, anh thấy nó lớn hơn trước.

Người nào có tài tính được giá vốn ấy là người biết tìm ra nguyên-do sự lãng-phí (gaspillage).

Đó là một lời nói quả-quyết, quan-trọng đáng được ghi nhớ. Trong nhiều trường-hợp, những hãng dùng đến 500 công-nhơn thường có mướn một nhà chuyên-môn tính giá vốn. Ngoài lương-bổng, chủ còn cho y thêm tiền nhà, có khi tiền thuế mà công-việc làm chỉ là áp-dụng phương-pháp mới của kế-toán đặc-biệt. Nếu anh chưa có dịp thấy một nhà kế-toán chuyên-môn ấy làm việc, anh không thể quan-niêm nổi giá-trị của họ.

Giá-vốn TỔNG-SỐ = GIÁ TIỀN MUA BAN ĐẦU + SỞ. PHÍ GÌN-GIỮ. Những chữ dùng để giải-thích định-lý nầy là TỔNG-SỐ và GÌN- GIỮ. Hai chữ ấy gợi ra hai ý nầy: nguyên-giá do tất cả những giá tiểu-tiết cộng lại mà ra và số tiền bỏ ra ban đầu thường kéo theo nó nhiều số tiền khác nữa.

Trong doanh-nghiệp biết định giá-vốn TỔNG-SỐ là một việc thiết-yếu. Trước hết, anh nên biết (và không khó) giá trước kia như thế nào; kế đến, giá ngày nay như thế nào (cũng là điều dễ nữa); sau hết giá ngày sau ra làm sao: điều sau nầy hết sức hữu-ích và người ta có thể biết tinh-tường được.

Anh có thể tiên-đoán các thứ giá một cách tinh-xác hơn là nhà khí-tượng tiên-đoán thời-tiết ngày mai. Anh còn có thể làm hơn nữa: trong nhiều trường-hợp, anh có thể quy-định giá được, ghi giá trước một cách chắc-chắn, anh không cần nhìn lại các giá cũ mà tiên-liệu được.

Điều cốt-yếu của Khoa-học là tiên-liệu. Không biết trước được tương-lai ít nhiều, tức là không khoa-học. Nếu tôi biết trước được ba phút việc gì sẽ xảy ra ở Thị-trường chứng-khoán (Bourse), chắc-chắn tôi sẽ trở nên nhà giàu nhứt trên thế-giới..

Theo đó, anh thấy cần phải luôn-luôn xem-xét tinh-tường đầy-đủ các nguyên-giá (prix coûtant). Đối với một vấn-đề quan-trọng như vấn-đề nầy không thể ước-chừng được.

Phải đem con số thay thế cho sự-kiện (les faits) và đem những bảng kê đồ-biểu thay thế cho con số. Khi một nhà kỹ-nghệ hoặc một thương-gia tiếp nhận mỗi bữa thứ hai, vào buổi trưa, một bảng đồ-biểu (statistique) trong đó ghi bằng mười hàng chữ những kết quả mỗi ngành hoạt-động của cửa hàng y trong tuần-lễ trước, người ấy có cảm-giác cầm vững công-việc của mình trong tay.

Nếu trong bảng đồ-biểu ấy đường cong chỉ "lên" thì mọi việc đều trôi chảy, ngành hoạt-động thuộc về đồ-biểu ấy có thể tự sức mình chạy được; nếu đường cong chỉ "xuống", thì sự trục-trặc sắp xảy ra: cần phải coi chừng ngành hoạt-động ấy, phải dùng sức bên ngoài tiếp-viện nó cũng như tiếp-viện một đạo binh, nếu đội binh ấy bắt đầu thất-thế trước kẻ thù.

Đối với phần đông chúng ta, hình như trong công-việc doanh-nghiệp ai cũng cố-gắng để hạ giá vốn. Và sự thật là thế; sự thật ấy sẽ như thế mãi-mãi không có một đạo luật nào có thể bỏ qua vấn-đề hạ giá vốn được.

Chú thích

  1. Món bánh của người Anh, trong đỏ có nhiều gia vị.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: 16 bí quyết để hái ra tiền
  • Tác giả: Herbert N. Casson
  • Người dịch: Phạm Cao Tùng
  • Nhà xuất bản Đại Nam
  • Nguồn: TVE-4U
"Like" us to know more!