Giá vốn

Chương mười: Giá vốn

I. Xét chung về kế toán.

1. Kế toán chung và kế toán công nghệ.

2. Nhất luật hoá các kế toán.

II. Tính giá vốn.

1. Tại sao cần biết giá vốn?

2. Giá vốn là gì? Không ai biết.

3. Có nhiều thứ giá vốn.

4. Cách tính giá vốn.

5. Phải tính cho hợp lí.

6. So sánh với các hãng khác.

I. Xét chung về kế toán

Tổ chức công việc để rút thì giờ làm việc và hạ giá vốn xuống, cho nên phải biết cách tính giá vốn để xem sự tổ chức có hiệu quả không.

Sự tính giá vốn thuộc về công việc kế toán, một ngành chuyên môn phải học ít nhất ba tháng mới hiểu được. Trong chương này tôi chỉ kể vài nguyên tắc quan trọng thôi.

1. Kế toán chung và kế toán công nghệ

Công việc kế toán chia ra làm hai loại với mục đích riêng biệt.

- Kế toán chung (comptabilite generale) cho ta biết tình hình tài chính trong xí nghiệp ra sao.

- Kế toán công nghệ (comptabilite industrielle) cho ta biết sức sản xuất và giá vốn hoá vật là bao nhiêu.

Kế toán chung cần phải đúng từng đồng từng xu, kế toán công nghệ không cần đúng như vậy nhưng cần phải làm cho nhanh.

Ví dụ trong tháng lấy ở quỹ ra 120.608 đ để mua nguyên liệu, trả công thợ... Cuối tháng ta phải cộng hết thảy những số chi tiêu đó xem có đúng 120.608 đ không. Nếu dư hoặc thiếu 1 đ chẳng hạn là ta đã làm toán lộn, phải tìm cho ra sự lầm lộn đó ở đâu để sửa lại sổ sách cho đúng. Đó thuộc về công việc kế toán chung.

Khi chế tạo một hoá vật nào rồi, phải tính giá vốn của nó cho nhanh để định giá bán. Sự tính giá vốn đó như ở đoạn sau bạn sẽ rõ, không thể nào hoàn toàn đúng được, cho nên chỉ cần tính một cách đại khái thôi. Nếu hoá vật đáng giá vài chục đồng thì tính sai một hai cắt cũng không sao. Đó thuộc về kế toán công nghệ.

Kế toán chung phải để cho phòng kế toán của xí nghiệp làm.

2. Nhất luật hoá các kế toán

Kế toán mỗi xí nghiệp làm một khác, điều đó rất bất tiện. Các nhà doanh nghiệp thường kiếm một nhà kế toán chuyên môn rồi để cho thợ tự ý lập kế hoạch kế toán (plan comptable) ra sao thì lập. Như vậy rất có hại vì có kế hoạch tốt mà cũng có kế hoạch dở, gặp phải kế hoạch dở thì sự tính toán không được rõ ràng, khó mà kiểm soát được. Vả lại các xí nghiệp cạnh tranh nhau cần có một cách tính toán như nhau mới có thể so sánh nhau được.

Ví dụ các xí nghiệp khác tính giá vốn mà trong đó không kể tiền lời của số vốn đặt ra để chế tạo hoá vật, nếu ta tính tiền lời đó thì giá vốn của ta cao hơn giá vốn của người, và đấu thầu chắc ta không thấy được.

Vì lẽ đó mà hội nghị kế toán vạn quốc (Congrès international de comptabilité), sau bốn năm thí nghiệm, đã cho xuất bản kế hoạch kế toán 1947 (Plan comptable 1947) để làm mẫu mực cho kế toán các xí nghiệp.

II. Tính giá vốn

1. Tại sao cần biết giá vốn?

Một xí nghiệp tư, một xí nghiệp quốc hữu hoá cũng vậy, cần biết giá vốn để:

- Tính xem lời hay lỗ.

- Định giá bán. Thường thì có nhiều xí nghiệp cùng chế một thứ hàng. Giá hàng tùy theo luật cung cầu mà lên hay xuống. Có nhiều người mua, giá hàng đương lên, nếu ta tính sai giá vốn mà bán rất rẻ, tất là đã thiệt cho những nhà sản xuất khác nữa.

2. Giá vốn là gì? Không ai biết

Nhưng có cách nào tính cho thiệt đúng giá vốn được không?

Tôi lấy ví dụ này: Ta đi chợ mua 10 lít gạo (nặng 8 kí lô) là 20 đ và 2 kí thịt là 24 đ, đi xe về nhà mất 3 đ. Vậy giá vốn của 20 lít gạo là bao nhiêu? Của 2 kí thịt là bao nhiêu? Ba đồng bạc đó phải chia ra làm sao? 10 lít gạo chịu bao nhiêu đồng? 2 kí thịt chịu bao nhiêu đồng?

a. Phải chia tùy theo sức nặng của gạo và của thịt?

b. Hay tùy theo giá tiền của nó?

c. Hay chỉ tính vào giá gạo thôi vì ta cốt ý mua gạo rồi thấy thịt rẻ, mới mua thịt về?

Tùy theo ba cách đó, ta tính ra, thấy giá vốn của mỗi thứ là:

Theo lối a - giá gạo = 20 đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-17.jpg

- giá thịt = 24 đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-18.jpg

Theo lối b - giá gạo = 20 đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-19.jpg

- giá thịt = 24 đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-20.jpg

Theo lối c - giá gạo= (20 đ + 3 đ): 10 = 2,30

- giá thịt = 24 đ: 2 = 12 đ

Nếu ta là một nhà bán gạo, tính theo giá 2 đ 14 một lít, còn những nhà khác tính theo 2 đ 24 thì tất nhiên là ta thiệt. Hoặc nếu ta bán cả 2 thứ gạo và thịt, gạo theo giá 2 đ 30, thịt theo giá 12 đ (nghĩa là tiền xe bắt gạo phải chịu hết) thì tất nhiên thịt có nhiều người mua mà gạo thì ế và ta phải lỗ.

Trong thí dụ đơn sơ đó, bạn cũng đã thấy rằng có tới 3 cách tính giá vốn. Cách tính nào cũng có lí hết, không biết cách nào là đúng cả, nghĩa là không biết giá vốn là cái gì, phải tính ra sao. Cho nên có người đã nói: “giá vốn ư: Không ai biết nó là cái gì hết. Không ai có thể biết nó là cái gỉ hết.”

3. Có nhiều thứ giá vốn

Chính vì giá vốn khó tính nên càng phải định rõ nghĩa để cho mỗi người đừng hiểu một cách khác nhau.

a) Giá vốn dự tính (1) (Prix de revient prévisionnel).

Năm ngoái ta làm nón bán, giá vốn tính ra là 30 đ một chiếc. Năm nay vật liệu và nhân công đều cao lên khoảng 20 đ, vậy giá vốn năm nay phải vào khoảng

30 đ + Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-21.jpg. Giá 36 đ đó là giá vốn dự tính.

b) Giá vốn kế toán (Prix de revient comptable).

Sau khi làm nón rồi, tính giá vốn lại thấy nó lên tới 40 đ chứ không phải 36 đ như đã định. Giá vốn 40 đ đó là giá vốn kế toán.

c) Nhưng ta nhận thấy sở dĩ gia vốn tới 40 đ như vậy là vì thợ đáng lẽ làm được 500 cái nón chẳng hạn, thì chỉ làm được 300 cái thôi, hoặc vì họ đau phải nghỉ, hoặc vì thiếu vật liệc cho họ làm. Nếu họ làm vừa sức họ, số nón sẽ nhiều hơn và giá mỗi chiếc sẽ hạ xuống chỉ còn 34 đ thôi. Giá 34 đ đó tức là giá vốn tính theo cách hợp lí (Prix de revient d'imputation rationnelle).

Ta lại phải nói rõ giá vốn vào lúc nào nữa: khi mới làm thành chiếc nón hay khi đã dán hiệu, đã làm cái hộp để đựng nó? Hay là giá vốn sau khi đã bán được? (Trong giá này có lương của những người đứng bán, tiền phí tổn về gian hàng, về quảng cáo v.v...).

Vì những giá vốn khác nhau như vậy cho nên nói giá vốn suông không được, phải chỉ rõ giá vốn nào? Vào lúc nào?

4. Cách tính giá vốn

Khi tính giá vốn, phải biết giá nguyên liệu và phí chế tạo. Trong phí tổn chế tạo có công thợ có phí tổn chung nhất định và phí tổn tỉ lệ, cũng kêu là phí tổn phụ thuộc.

Ví dụ hãng ta làm dao (lưỡi thép, cán đồng) và kéo. Thép và đồng là nguyên liệu. Phải dùng hai cái máy, một cái xưởng, một cái kho, một buồng giấy, hai thầy thư kí, 18 người thợ. Mỗi tháng làm được 10.000 con dao và 5000 cái kéo.

Số tiền mướn xưởng, mướn phòng giấy, số tiền trừ lần khoản hao mòn máy móc (amortissement), số lương thư kí... kêu là phí tổn chung nhất định.

Nhưng muốn cho máy chạy, cần có dầu nhớt, có điện... Những phí tổn đó cũng tính vào giá vốn, dao, kéo. Và tất nhiên không thể chia hai, dao chịu một nửa, kéo chịu một nửa. Máy làm kéo cần dùng nhiều dầu nhớt, nhiều điện thì phải tính toán nhiều phí tổn vào kéo, máy làm dao cần ít dầu nhớt và điện thì phải tính ít. Vì vậy mà những phí tổn đó kêu là phí tổn tỉ lệ.

Tóm lại, nếu

V là giá vốn

N là giá vốn nguyên liệu

C là tiền công thợ.

T là phí tổn tỉ lệ

P là phí tổn chung nhất định

Thì V = N+C+T+P

Nhưng N+C+T tức là giá vốn ở xưởng, ta gọi là V1

Vậy V = V1 + P

Bạn thấy rằng nếu làm 1.000 con dao thì cũng phải một cái xưởng, một phòng giấy, hai cái máy mà làm 100 con dao cũng vậy. Nghĩa là phí tổn chung nhất định đó không đổi. Nếu làm 100 con thôi, thì mỗi con phải chịu:

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-22.jpg

Vậy sản xuất càng nhiều thì giá vốn càng nhẹ đi.

5. Phải tính cho hợp lí

Tính giá vốn rất khó, phải cẩn thận, có thứ tự lắm mới khỏi lầm lẫn, khỏi bỏ sót. Muốn vậy, phải để cho một người hoặc một cơ quan chịu trách nhiệm thôi. Bất kỳ giấy tờ kế toán gì cũng phải do người đó hoặc cơ quan đó phát ra rồi lại thu về để tính toán.

Ở dưới đây, chúng tôi sẽ nhắc lại những điều cần nhớ để tính cho hợp lí.

a) Ta dùng thép làm dao, nhưng trong kho có ba, bốn thứ thép mua trước, mua sau, thứ đắt, thứ rẻ; khi tính giá nguyên liệu phải lấy giá nào? Giá cũ nhất? Giá mới nhất? Giá cao nhất? Giá thấp nhất? Giá trung bình? Tính theo lối nào cũng có lí hết. Điều cốt yếu là các hãng cạnh tranh nhau phải cùng tính một lối như nhau.

b) Số vốn dùng để làm ăn, nếu đi vay, tất nhiên ta phải chịu lời. Nếu không vay thì tự nó cũng phải sinh lời. Có nên kể số lời đó vào giá vốn hoá vật chế tạo ra không? Thuyết xưa cho rằng không, nhưng thuyết ngày nay khuyên nên kể, và kế hoạch kế toán 1947 đã theo thuyết sau này. Vì nếu không kể thì giá vốn các xí nghiệp sẽ khác nhau nhiều. Bạn có xưởng, khỏi đi mướn, giá mướn đó tôi phải tính trong số phí tổn chung nhất định, cho nên giá vốn của tôi cao hơn giá vốn của bạn. như vậy làm sao so sánh được?

c) Còn một vấn đề nữa bàn cãi cũng đã nhiều, là cách trừ dần khoản hao mòn máy móc. Ta mua một cái máy năm 1936 giá 10.000 đ, định cho nó chạy 10 năm rồi thay. Vậy mỗi năm phải trừ lần:

Kipkis.com-To-chuc-cong-viec-theo-khoa-hoc-23.jpg

Đến năm 1946, trừ đủ 10.000 đ và ở trong sổ, ta ghi máy đó không đáng giá gì nữa. Nhưng thật ra thì vì thời cuộc, máy móc hiếm, giá tăng lên, cho nên năm 1946 máy đó vẫn còn bán được 5.000 đ. Số 5.000 đó, nếu muốn công bằng, phải chia đều cho các cổ đông (cổ phần).

Nếu năm 1946 máy đó hoàn toàn vô dụng, bán không được tiền nữa, ta phải mua máy khác. Nhưng số 10.000 đ đã trừ vào máy trước, nay không đủ để mua máy mới (vì máy 1946 đắt hơn nhiều). Nay phải trả 100.000 đ chẳng hạn. Như vậy nghĩa là ta đã trừ ít quá.

Cho nên khi tính số tiền trừ lần khoản hao mòn máy móc, phải tính sao cho tổng cộng các số tiền đã trừ từ trước tới nay phải bằng giá bây giờ của máy mới trừ với giá bây giờ của máy cũ.

Thí dụ máy mua năm 1942. Từ đó đến năm 1948, đã trừ được 50.000 đ. Máy đó, năm 1949, nếu bán lại thì được 30.000 đ. Và nếu mua một máy mới y như vậy phải 100.000 đ - 30.000 đ = 70.000 đ. Mà như trên kia đã nói, những năm trước ta đã trừ lần được 50.000 đ rồi, vậy năm nay ta phải trừ thêm: 70.000 đ - 50.000 đ = 20.000 đ. Năm nay ta phải trừ thêm: 70.000 - 50.000 = 20.000 đ.

6. So sánh với các hãng khác

Sau khi đã biết giá vốn rồi phải tính xem:

- Tiền công bằng mấy phần trăm giá vốn.

- Tiền nguyên liệu bằng mấy phần trăm giá vốn.

- Tiền công bằng mấy phần trăm giá nguyên liệu.

- Tiền công bằng mấy phần trăm tiền phí tổn để quản lí.

- Rồi so sánh với những hãng cạnh tranh với ta, để biết phí tổn nào quá đáng và tìm cách giảm nó đi.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tổ chức công việc theo khoa học
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
  • Ebook: Goldfish (12/05/2012, e-thuvien.com)
"Like" us to know more!