Giá trị hoặc là trực tiếp hoặc là hoãn triển

ĐỊNH LÝ THỨ MƯỜI BA: Giá-trị hoặc là trực-tiếp hoặc là hoãn-triển

ĐỂ CHÚNG TA BIẾT MỘT CÁCH CHẮC CHẮN GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA CHÚNG TA

ĐỊNH LÝ THỨ MƯỜI BA.

GIÁ-TRỊ HOẶC LÀ TRỰC-TIẾP

HOẶC LÀ HOÃN-TRIỂN

Vì không hiểu tường-tận định-nghĩa của cái danh-từ nguy-hiểm: "Giá-trị" (valeur)[1] mà nhiều người trong bọn chúng ta phải mất tiền.

Có nhiều thứ giá-trị. Thí-dụ như một nhà nghệ-sĩ trong đám bè bạn tôi bảo rằng ngôi nhà của y đáng-giá 125.000 quan; tôi đặt nhiều câu hỏi để y trả lời; do đó tôi được biết rằng y mua ngôi nhà ấy 100.000. Y đem bảo-hiểm với giá 75.000 quan. Y sửa-sang lại và theo y sẽ có người mua với giá 125.000 quan. Nhưng nếu một ngày kia y phải bán nhà, thì chắc-chắn y không thâu được quá 25.000 quan.

Trong trường-hợp nầy, chúng ta thấy có bốn thứ giá-trị khác nhau:

Số tiền bỏ ra: 100.000 quan.

Giá-trị bảo-hiểm[2]:  75.000 quan.

Giá-trị trực-tiếp[3]:  25.000 quan.

Giá-trị hoãn-triển[4]:125.000 quan.

Giữa "bây-giờ" và "ngày sau" có một sự khác nhau rất lớn. Trong bọn chúng ta không có một người nào mua được rẻ, bán được hời, nếu không nhận rõ sự quan-trọng của định-lý thứ mười ba của chúng tôi: Giá-trị hoặc là trực-tiếp, hoặc là hoãn-triển.

Khi anh định mua giá-khoán - cổ-phần hay thương-phiếu- anh cần phải xét đến ba yếu tố: Sự An-toàn, Tiền-lời, Sự dễ bán. Nhiều giá-khoán lời ít mà giá cao vì người ta bán được liền nửa giờ sau. Cổ-phần hoàn-toàn chắc-chắn, lời 7 %, của những hội nhỏ, phải bán theo giá ghi bởi vì nó không thể bán được ngay. Điều ấy tỏ rằng, ngoài sự an-toàn (sécurité) và lãi-suất (taux du bénéfice) ra  chúng ta cần chú-ý đến nhiều yếu-tố khác.

Vai-trò của thị-trường chứng-khoán (Bourse) là tìm thị-trường trực-tiếp cho những giá-khoán được ghi vào giá-ngạch-biểu (valeurs cotées) mà khi bán không làm sụt giá bán của những giá-khoán nầy. Tổng-quát, thị-trường giữ vững giá bán và lo cho sự tiêu-thụ mau chóng. Nếu thị-trường chứng-khoán không có thì sự tranh-tụng sẽ mạnh hơn là sự buôn-bán.

Một trong những bi-kịch thường xảy ra trong giới doanh nghiệp là sự lỗ-lã vì bán ép giá; chỉ trong một nháy mắt, một tài-sản đồ-sộ có thể đồng giá với một đống sắt vụn. Tiền lời tiêu ra nước. Bất-cứ vật gì phải bán gấp thì sự mất giá của nó không thể có giới-hạn được.

NHỮNG GIÁTRỊ CÓ THỂ ĐỔI TIỀN MẶT (VALEURS RÉALISABLES).

Khi gia-sản bị đem bán đấu-giá thì người có gia-sản mới hiểu hai tiếng đấu-giá nghĩa là gì. Người nghèo học nghe được hai-tiếng ấy ở cửa tiệm cầm đồ; nhà thương-mãi hiểu được nó khi số hàng tích-trữ còn đọng trong nhà mà một cuộc chiến-tranh xảy tới làm gián-đoạn sự thương-mãi; nhà kỹ-nghệ nhận-thức được, khi toan đem cửa hàng cầm-cố để vay tiền.

Người ta thường nói các chủ nhà băng là người bi-quan chỉ vì chủ nhà băng hay chú trọng đến giá-trị trực-tiếp (valeur immédiate). Công-việc của nhà băng trái hẳn với công-việc của người chủ-xướng và người đầu-cơ tức là những kẻ chỉ chú trọng đến giá-trị hoãn-triển (valeur différée). Hai quan-điểm đều chánh-đáng và ích-lợi như nhau, nhưng thường thường chối nhau như hướng đông và hướng tây.

Theo lẽ thì không nên bỏ hai phần ba vốn của mình vào những tài-sản mà giá-trị hiện-tại (valeur actuelle) tương-đối không cao lắm. Người ta hiểu một cách nguy-hiểm câu nầy của Andrew Carnegie "Hãy để trọn số trứng vào một thúng và coi chừng cái thúng ". Thật ra ông nói câu ấy khi cái thúng của ông đã mở rộng đến nỗi nó được an-toàn hơn các nhà băng. Trên đường làm giàu, Carnegie chú-ý đến nhiều công-cuộc doanh-nghiệp. Từ năm 1855 đến 1865, ông bỏ cổ-phần vào không dưới mười công-ty chưa kể công-ty kỹ-nghệ thép.

Có người muốn đầu-cơ đất và đem hết vốn mua đất-đai ở một vùng, ở đó mấy năm sau người ta phải cất một nhà ga. Trong trường-hợp ấy, sự đặt vốn (placement) của y vững-chắc. Khi đường sắt đặt xong, y có thể bán miếng đất với giá ba lần cao hơn. Nhưng y phải tự hỏi: "Tôi có thể chờ đợi không? "

Người nào vốn ít thì phải bám-chặc lấy tài-sản mà giá-trị hiện-tại cao bốn hoặc năm phần lời đủ làm cho y vừa lòng: chỉ người nào có vốn to để chịu đựng mới nên theo chánh-sách "đánh liều". Những số lời to phải dành riêng cho kẻ nào dám và chịu được thua lỗ to. Tôi nghĩ rằng những kẻ giàu to có bổn-phận dám chịu "đánh liều" để giúp-đỡ những công-cuộc làm ăn mới đặng mở thêm những trường hoạt-động mới; và chỉ có nhưng kẻ ít phương-tiện mới nên dè-dặt mà thôi. Tóm lại, bổn-phận đầu-tiên của một người là đứng vững, chớ không phải bổ nhào ra đất và ngăn hết lối đi.

Những người bỏ vốn làm ăn trong nhiều công-cuộc khác nhau phải giữ lo sao cho một phần vốn của mình đặng vững như trồng - đó là những chiếc tàu cứu nguy để phòng khi cơn bão tố xảy tới. Những người bỏ những giá-khoán ít lời để chụp giựt những giá-khoán nhiều lời luôn-luôn gặp nguy-hiểm; họ ham thứ lời 10% hơn là 4%. Và khi có người khuyến-khích họ mua những cổ-phần ưu-tiên (actions de préférence), để được hưởng những cổ-phần thường (actions ordinares) thì trong bọn chúng ta ai cũng thích cả.

Người nào có chút của đều có sẵn trong tủ sắt một cái gói chứng-khoán (titres) nhỏ buộc bằng một sợi dây gai… trong gói ấy vật có giá-trị chính là sợi dây gai!

Giữa những giá-trị ngẫu-nhiên (valeurs d'occasion) của một món hàng, có một sự khác nhau rất kỳ-dị. Giá-trị ngẫu-nhiên của giày dép, đồ-dạc v.v.. bao giờ cũng thấp; giá-trị ngẫu-nhiên của ngựa, đồ bạc y.y.. bao giờ cũng cao. Những tấm thảm Đông-phương chỉ bán lại trung-bình chừng hai phần ba giá mua, những chiếu trải nền nhà ít khi bán được một phần tư gia mua. Thường khi chúng ta cũng nhận thấy có khi dùng hột xoàn lại rẻ hơn dùng hoa tươi, vì hột xoàn dùng rồi cũng bán đặng hai phần ba giá, còn hoa tươi khi đã héo chỉ để vứt vào sọt rác.

Nếu tôi là nhà buôn, tôi tập cho người làm công của  tôi biết phân-biệt giữa hai tiếng: TRỰC TlẾP và HOÁN TRIỂN. Tôi chia hàng-hoá ra hai thứ: thứ tin-cậy được và thứ hoài-nghi, thứ cần-thiết và thứ dư dùng. Tôi sẽ ghi chữ TRỰC TIẾP trên thứ hàng-hóa dư dùng và tôi sẽ đối-xử và trả tiền lương cho người làm công của tôi tùy theo sức họ bán những thứ hàng-hoá ấy. Ngoài ra, tôi còn lấy một số lợi to về những thứ hàng-hoá TRỰC TIẾP. Bán đường thì tôi bằng lòng một số lời 8 %, nhưng bán xa-xỉ-phẩm, tôi cố-gắng lời cho được 200%.

Như vậy yếu-tố thời-gian xen vào vấn-đề giá-trị bằng mọi cách; có nhưng món tăng giá, có những món mất giá; có thứ hàng-hoá bán được đến nỗi được quí-trọng gần như vàng; thứ khác lại có một giá-trị mỏng-manh, tương-đối đến nỗi người ta coi như đồ bỏ. Giá-trị cố-hữu (thực-giá) (valeur intrinsèque) thường là một danh-từ rỗng.

Định-lý thứ mười ba nầy, đem áp-dụng vào sự dùng nhân-công cũng đắc-lực lắm. Giá-trị một người làm công tài-bộ, lanh-lợi là một giá-trị TRỰC TIẾP, giá-trị một người làm công mới, thiếu huấn-luyện là một giá-trị hoán-triển. Mỗi một người làm công mà giá-trị chưa thành-tựu là một gánh nặng. Người làm ra lời, chính là người đã được huấn-luyện, người đi làm việc nhiều năm. Công-ty "Bell Telephone" ở Huê Kỳ nhận thấy rằng nhân-công của họ bổ-đồng không làm việc quá bốn năm. Thấy vậy Công-ty thi-hành một chế-độ mới, lo cho nhân-công trong lúc đau-ốm, hưu-trí, và sự giáo-dục khiến cho người làm ở lại lâu hơn. Từ đó công-việc giao-thông bằng điện-thoại của công-ty phát-triển đến-tột bực.

Tóm lại, tôi nói rằng trong từ-ngữ thương-mãi có nhiều chữ mà người ta không hiểu hết nghĩa, và trong những chữ ấy có chữ GIÁ-TRỊ.

GIÁ TRỊ không phải là một tiếng có một định-nghĩa giản-dị, định-nghĩa của chữ ấy thật là phiền-phức, nó có góc, có ngạnh. Một món hàng có mười giá-trị khác nhau đối với mười bạn hàng khác nhau. GIÁ-TRỊ tuỳ nhiều sự-kiện, nhiều thời-thức, nhiều tư-ý và nhiều tình-cảm; nó vừa là tinh-thần, vừa là vật-chất; nó có thể mỏng-manh như sắc điệu của màu hồng và cũng vĩnh-cữu như sông núi.

Chú thích

  1. Valeur có nghĩa có nghĩa “giá khoán” khi nói đến giá cả trên “Thị trường chứng khoán”.(lời chú của dịch giả)
  2. Tức là giá trị ngôi nhà, y đánh giá với sở Bảo hiểm.
  3. Tức là giá trị tối thiểu ngôi nhà, lúc nào bán ít nhứt cũng không kém số đó.
  4. Tức là giá trị y phỏng định nếu có người thật muốn mua thì có thể bán đến giá đó. (Lời chú của dịch giả)

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: 16 bí quyết để hái ra tiền
  • Tác giả: Herbert N. Casson
  • Người dịch: Phạm Cao Tùng
  • Nhà xuất bản Đại Nam
  • Nguồn: TVE-4U
"Like" us to know more!