Du học ở Nagasaki

2. Du học ở Nagasaki

21 tuổi lên đường đi Nagasaki

Và thế là tôi lên đường đi Nagasaki. Đó là vào tháng 2 năm Ansei (An-Chính) thứ nhất (1854-ND). Khi ấy tôi 21 tuổi (tính đúng ngày đúng tháng là 19 tuổi 3 tháng). Lúc này, ở Nakatsu chưa có ai đọc được chữ viết ngang và cũng chưa ai nhìn thấy bao giờ. Ở thành thị thì đã có môn học thuật gọi là Tây phương học từ một thế kỷ trước, nhưng Nakatsu vốn là thôn quê, nên chưa kể là sách nguyên văn bằng chữ viết của người châu Âu, mà cả chữ viết theo hàng ngang khi còn ở Nakatsu tôi cũng chưa từng nhìn thấy bao giờ.

Đúng thời điểm này, Perry đ ã vào Nhật Bản. Chỉ có sự kiện này và chuyện quân hạm của Mỹ cập cảng Edo là ngay cả người dân quê cũng biết. Cùng lúc đó, người ta bắt đầu bàn nhiều đến súng thuật. Mà cứ học súng thuật là theo trường phái của người Hà Lan. Thời kỳ đó, anh tôi bảo:

- Muốn nghiên cứu môn súng thuật của người Hà Lan thì thế nào cũng phải biết đọc sách nguyên văn.

Nghe thấy thế tôi không hiểu gì nên hỏi lại:

- Sách nguyên văn là sách gì ạ?

Anh tôi bảo:

- Nghĩa là sách vở viết theo hàng ngang do Hà Lan xuất bản. Hiện nay, ở Nhật có một loại sách gọi là sách dịch viết về phương Tây, nhưng muốn hiểu ngọn nguồn thì phải đọc nguyên bản bằng tiếng Hà Lan. Thế em có chí học không?

Khi đọc sách chữ Hán, tôi luôn vượt trội hơn bạn bè cùng trang lứa. Việc đọc và giải nghĩa sách Hán văn với tôi không khó nhọc gì. Vì thế, tự nhiên tôi thấy tự tin vào khả năng chữ Hán của mình, nhưng khi nghe anh hỏi thế tôi vẫn trả lời:

- Những gì người ta đọc thì mình cũng đọc, kể cả chữ viết ngang!

Sau đó, anh em tôi bàn bạc và đi đến thống nhất ý kiến. Tiện dịp anh đi Nagasaki, tôi liền đi theo và ở lại một mình để học.

Xa quê hương lòng không lưu luyến

Sau khi ổn định cuộc sống ở Nagasaki, tôi bắt tay ngay vào học bảng chữ cái viết ngang từ a, b, c. Đến nay, trên toàn nước Nhật đều thấy nhan nhản chữ viết ngang, ngay cả trên bình rượu. Loại chữ này nhìn quen mắt thì không sao, nhưng lúc đầu học rất khó. Tôi đã phải mất ba ngày để nhớ hết hai sáu chữ trong bảng chữ cái. Thế nhưng, càng đọc càng thấy không đến nỗi nào, dần trở nên dễ hơn.

Tuy nhiên, mục đích ban đầu của tôi khi quyết định đi Nagasaki, ngoài việc học Hà Lan học chủ yếu là vì quá chán không khí buồn tẻ ở Nakatsu. Văn chương hay võ nghệ, học gì cũng được, miễn thoát ra khỏi Nakatsu. Ngày rời xa quê hương mà tôi không hề lưu luyến, thậm chí còn nhủ thầm: “Nơi này có ai muốn lưu lại làm gì? Như viên đạn ra khỏi nòng súng, một đi là không còn muốn quay trở lại nữa!”. Tôi cảm thấy hôm đó thật là một ngày dễ chịu. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in là lúc đó chỉ ngoảnh lại nhổ nước bọt rồi rảo bước quay đi.

Bắt đầu các hoạt động ở Nagasaki

Đến Nagasaki, tôi được trọ trong chùa Kōeiji (Quang-Vĩnh-tự) ở khu phố Okeya-machi (Dũng-Ốc-đinh). Điều này là nhờ cậu Okudaira Iki (Áo-Bình Nhất-Kỳ), con trai Karō, lãnh địa Nakatsu là họ hàng thân thích của vị sư trong chùa, nên tôi được ăn nghỉ tại đó. Trong khi tôi đang ăn nhờ ở đậu nhà chùa thì ở Oide-machi (Tiểu-Xuất-đinh) có ông Yamamoto Monojirō (Sơn-Bản Vật-Thứ-Lang), vốn người dân gốc Nagasaki, đứng đầu hai nhóm cảnh vệ địa phương, đồng thời còn là một chuyên gia về súng thuật. Nhờ cơ duyên cậu Iki đang học súng thuật ở đó, nên đã nói giúp để tôi vào học và ăn ở luôn tại nhà thầy.

Thế là cuộc sống ở Nagasaki của tôi đã bắt đầu. Tôi làm tất cả những việc có thể làm được, không nề hà việc gì. Thầy Yamamoto mắt kém, không đọc được sách, nên tôi phải đọc sách chữ Hán của các đại danh Nho gia và sách vở kể về chuyện thời thế cho thầy nghe.

Thầy có cậu con trai độc nhất, chừng mười tám hay mười chín tuổi, mặc dù không phải là giỏi giang, nhưng vẫn bị bắt đọc sách. Và tôi có nhiệm vụ dạy cậu đọc Hán văn. Đấy là một việc. Thêm nữa, nhà thầy tuy nghèo nhưng lại tiêu xài xa hoa. Vì nhà có nợ, nên tôi phải viết thư thương lượng về tiền bạc, khất nợ cũ và đi vay nợ mới. Trong nhà có một người hầu gái và một anh nô, nhưng thể trạng anh nô khá yếu. Mỗi khi anh đau ốm, tôi phải đi gánh nước thay. Còn việc dọn dẹp nhà cửa mỗi sáng mỗi chiều thì tất nhiên là việc của tôi. Cả khi thầy Yamamoto tắm, tôi cũng phải kỳ lưng hay xách nước nóng vào cho thầy. Thêm nữa, bà giáo lại là người thích vật nuôi, nên trong nhà có cả chó, mèo và chồn, sóc. Tôi cũng phải chăm sóc chúng.

Đại thể là tôi rất tháo vát, một mình nhận lấy từ việc lớn đến việc nhỏ. Là một thanh niên chịu thương chịu khó, không than thở và tính tình lúc nào cũng tỏ ra dễ chịu, nên dần tôi được cả gia đình thầy Yamamoto quý mến. Đến một ngày, thầy gặng hỏi tôi: “Con có muốn ở lại làm con nuôi ta không?”. Tôi có kể cho thầy nghe chuyện tôi thuộc tầng lớp sĩ tộc ở Nakatsu và trước đây đã được chú ruột nhận làm con nuôi từ khi chưa biết gì. Nghe thấy thế, thầy mừng lắm và nhiều lần nhắc đi nhắc lại: “Thế thì con làm con nuôi ta nữa đi. Ta sẽ lo lắng cho”.

Bị cậu Okudaira Iki ganh tức

Thời đó, một nhà súng thuật như thầy Yamamoto thường giữ một cuốn sách mật truyền. Mỗi khi cho mượn đều được nhận về một khoản tiền hậu tạ kha khá. Ai muốn có bản sao thì lại mất tiền sao. Đó đã trở thành một khoản thu nhập không thường xuyên của gia đình thầy Yamamoto.

Tuy nhiên, mắt thầy kém nên mọi thủ tục cho mượn hay sao chép sách đều qua tay tôi. Nhờ vậy, tự nhiên tôi trở thành người thâu tóm được hầu hết những người học súng thuật thời đó và việc gì tôi cũng làm. Các nhà Tây phương học đến từ Uwajima (Vũ-Hòa-Đảo), Gotō (Ngũ-ảo), Saga (Hạ-Tá), Mito (Thủy-Hộ) để hỏi về những chuyện đại loại như đường đi đến khu phố của người Hà Lan ở Dejima (Xuất-Đảo) hay nhờ cho xem bản thiết kế để về họ đúc súng theo đó... Tất cả những công việc này là của gia đình thầy Yamamoto, nhưng trên thực tế tôi đều đảm đương cả.

Tôi vốn là kẻ ngoại đạo về súng thuật, chưa từng nhìn người khác bắn bao giờ, nhưng tra các bản thiết kế mẫu súng thì không khó gì. Dần dần, tôi cũng thành người có thể giở tìm rất nhanh các mẫu thiết kế, viết hướng dẫn cách luyện súng và giúp đỡ, hỏi han như một nhà súng thuật đã vào nghề mười năm vậy.

Thế nhưng, chính người giúp đỡ cho tôi vào ăn ở nhà thầy Yamamoto, tức cậu Okudaira Iki, lại có vấn đề. Việc thay đổi ngôi chủ khách giữa tôi và cậu Iki trong nhà thầy Yamamoto làm cậu ta khó chịu. Iki vốn là người khá Hán học, lại con nhà quyền chức (mặc dù chỉ là quyền chức của một lãnh địa nhỏ), nhưng tính tình rất hẹp hòi. Thêm một điều nữa, mục đích của tôi là đọc thông thạo sách nguyên bản, nên quyết tâm học bằng cách tới lui nhà một bác sĩ Hà Lan và một thông dịch viên người Hà Lan để tiếp xúc, trao đổi. Vì thế, mặc dù là lần đầu tiên học đọc sách nguyên bản, nhưng chỉ khoảng 50 đến 100 ngày sau là tôi đã dần dần đọc và hiểu được ý nghĩa và ngày càng tiến bộ. Còn Iki vì là một cậu ấm, một quý công tử, nên có vẻ như không cần thiết phải khổ sở đọc những sách vở khó đến thế. Vì vậy, giữa tôi với cậu đã sinh mối bất hòa.

Nhìn tổng thể, Iki không phải là người nham hiểm, mà đơn giản chỉ là một công tử không có trí tuệ và không có lòng độ lượng. Biết vậy, nên tôi cũng cố gắng nhẫn nhục chiều theo, nhưng ngược lại, Iki càng tỏ ra tức tối một cách xuẩn ngốc. Cậu ta hơn tôi mười tuổi mà tính tình trẻ con đến mức chỉ vì ghen tỵ mà lập mưu bắt tôi về Nakatsu, làm tôi một phen lao đao.

Khó khăn trong việc ở lại Nagasaki

Quan hệ giữa tôi với cậu Iki đã dẫn đến một chuyện thế này. Cha của Iki là ông Yohē (Dự-Binh-Vệ), đã nhường chức vụ của một gia trưởng lại cho con. Gia đình tôi vẫn kính trọng ông và gọi là Go-Inkyo-sama. Cha tôi mất 20 năm trước, nên từ khi trưởng thành, anh tôi phải làm công việc như của cha tôi và cứ đến phiên anh lại lên Ōsaka. Ở Nakatsu chỉ còn lại mình mẹ tôi. Các chị tôi đều đã đi lấy chồng. Người có thể nhờ cậy được lúc đó là cậu em họ Fujimoto Gentai (Đằng-Bản Nguyên-Thải). Gentai là thầy thuốc và vốn ham đọc sách, hiểu biết rộng. Sau khi mật bàn với cậu Iki, ông Yohē đã làm một việc không biết đến trước sau, là cho gọi cậu Fujimoto đến bảo: “Nhà bay cho gọi ngay Yukichi về! Ở đấy nó chỉ làm vướng chân cậu Iki. Gọi nó về ngay! Nhưng trong thư thì phải viết là: Mẹ ốm, về ngay!”.

Nghiêm lệnh được ban ra, nên cậu Fujimoto không thể chối từ, đành ra vẻ vâng lời ra về, sau đó kể rõ sự tình cho mẹ tôi và viết thư cho tôi. Mặt ngoài, cậu Fujimoto viết một lá thư: “Mẹ ốm, về ngay!”, nhưng lại lén gửi một lá thư khác kể rằng vì ông Yohē ra lệnh như vậy, không còn cách nào khác cậu phải viết một lá thư theo đúng lệnh và dặn tôi không phải lo nghĩ gì về mẹ tôi cả.

Đọc thư xong, tôi giận sôi người. Đúng là kẻ đê tiện! Lập kế hoạch bắt người khác nói dối rằng mẹ ta bị bệnh! Đã thế thì ta sẽ liều cho biết tay! Ta sẽ làm ầm lên chứ chẳng chơi! Tôi định như vậy, nhưng nghĩ lại thấy mình làm như thế cũng không được gì, chỉ rước thêm họa vào thân. Giằng co với nhà Karō ấy thì chắc chắn là tôi thua. Thắng bại đã nhìn thấy trước, nên tôi không dại gì mà đứng ra cãi cọ. Tôi tính lại thấy phải giữ lấy thân mình hơn là đi khẩu chiến với những kẻ tồi tệ như vậy. Để cơn giận nguôi dần, tôi mới lấy vẻ mặt âu lo đến gặp cậu Okudaira Iki, bảo đã nhận được tin dữ từ Nakatsu rằng mẹ tôi ốm nặng. Tôi bảo: “Trước nay, mẹ tôi vẫn khoẻ mà không hiểu sao bỗng dưng lại ngã bệnh thế này. Không hiểu tình trạng của mẹ tôi ra sao? Tôi ở xa rất lo!” Tôi lấy vẻ mặt lo âu và nói như bị ngắt hơi. Nghe thấy thế, cậu Okudaira làm ra vẻ sửng sốt hỏi:

- Thật thế à? Khổ thân bay quá! Chắc lo lắng lắm hả? Nhanh nhanh thu xếp mà về đi, khi nào mẹ bay khỏi ta lại giúp cho quay lại học tiếp.

Cậu ta ra chiều thông cảm và an ủi, nhưng trong dạ lại mừng thầm, vì đã lừa phỉnh được tôi. Thấy thế, tôi lại tiếp lời:

- Theo lời chỉ giáo của cậu, tôi sẽ gấp rút chuẩn bị về ngay. Cậu có cần nhắn gì về cho ông Go-Inkyo-sama không? Thế nào tôi cũng sẽ đến thăm ông nhà. Cả đồ đạc gì cần gửi tôi cũng mang về cho.

Nói xong, tôi xin phép về ngay. Sáng hôm sau, khi quay lại đã thấy công tử chạy ra đưa tôi lá thư gửi về nhà bảo mang đến tư dinh giúp, rồi còn dặn phải nhắn cho cha cậu ta điều gì. Sau đó, cậu ta đưa tôi một lá thư để gửi cho em họ mẹ tôi là cậu Ōhashi Rokusuke (Đại-Kiều Lục-Trợ), bảo tôi phải mang đến tận tay và còn nói dối rằng, nhờ thế mà tôi sẽ dễ dàng quay trở lại Nagasaki để học. Cậu ta cố tình không dán lá thư này lại.

Tôi ra chiều vâng theo mọi mệnh lệnh và lễ phép cáo lui. Về đến nhà, thử mở thư ra đọc, thì thấy viết rằng: “Yukichi nói mẹ bị ốm, nên ta phải chiều theo ý cho về. Vì cậu ta đang học dở nên bay liệu tính thế nào để cho Yukichi có điều kiện quay trở lại học tiếp!”. Đọc đến đây, tôi càng bực. “Đúng là đồ khỉ gió! Tự tay dìm người xuống lại còn giả vẻ đạo đức kéo lên!”. Tôi chỉ rủa thầm trong bụng chứ không dám nói với thầy Yamamoto. Nếu như chuyện vỡ lở và làm tổn hại đến thể diện của dòng họ Okudaira, thì không thể lường được tai họa gì sẽ giáng xuống đầu. Tôi chỉ cáo lỗi với thầy là mẹ tôi bị ốm để xin về.

Quyết chí lên Edo

Đúng lúc tôi định lên đường thì có một người buôn chuyến tên là Kuroganeya Sōbē (Thiết-Ốc Vật-Binh-Vệ) đến Nagasaki. May sao ông ta bảo sẽ về Nakatsu, nên tôi tạm hẹn trước là sẽ theo về cùng, nhưng trong thâm tâm tôi không hề muốn trở lại Nakatsu chút nào. Chỉ có một chỗ đến duy nhất là Edo và tôi quyết tâm sẽ đi thẳng một mạch từ Nagasaki lên Edo. Nhưng phải hỏi han, xin ý kiến ai đó vì tôi không biết gì ở Edo.

Lúc đó, ở Nagasaki có một người tên là Okabe Dōchoku (Cương-Bộ Đồng-Trực) từ Edo xuống Nagasaki học Hà Lan học. Cậu là con của một thầy thuốc. Qua giao tiếp, tôi thấy Okabe là người đáng trọng nể, nên kể chi tiết đầu đuôi câu chuyện cho Okabe nghe. Tôi nói rằng: “Sự tình như vậy nên tôi không thể ở lại Nagasaki được nữa. Bực quá, tôi định phóng thẳng lên Edo ngay, nhưng ở đó tôi không có họ hàng thân thích, lại không biết đường đi lối lại. Nhà cậu ở Edo phải không? Tôi nghe nói cha cậu là thầy thuốc, nên có thể nhờ gia đình giúp được không? Mặc dù về nghề thuốc tôi không biết, nhưng những việc đơn giản như tán hay viên thuốc thì tôi làm được! Xin hãy cho tôi được giúp”. Nghe thấy thế, không hiểu vì thương hại hay đồng cảm với tôi mà Okabe đồng ý ngay: “Được thôi. Thế thì cậu đi Edo đi. Cha tôi mở hiệu thuốc ở Nihom-bashi (Nhật-Bản-kiều), Himono-chō (Cối-Vật-đinh). Tôi sẽ viết ngay thư cho cha tôi để cậu cầm đi!”.

Tôi nhận thư từ tay Okabe mà vui mừng khôn xiết, nhưng vẫn không quên dặn lại: “Chuyện này nếu lọt ra ngoài sẽ rất nguy hại. Xin cậu giữ kín, đừng để cho ai biết, nhất là với thầy Yamamoto và cậu Iki. Ngay bây giờ, tôi sẽ lên thuyền đi Shimonoseki (Hạ-Quan) để từ đó đi Ōsaka. Mất độ 10 hay 15 ngày thì đến nơi. Cậu áng chừng đến lúc đó hãy nói với mọi người và cả cậu Iki giùm là ngay từ đầu Nakamura (lúc này tôi lấy họ là Nakamura) đã không muốn trở về Nakatsu mà sẽ từ Nagasaki đi Edo. Phiền cậu quá, nhưng gắng giúp tôi với nhé!”. Chúng tôi cùng cười và tôi nhận ra rằng, từ trong thâm tâm đã hình thành tình thân giữa hai chúng tôi.

Chia tay với ông Kuroganeya ở Isahaya

Tôi định đi Edo ngay, nhưng vì đã trót nhận chuyển quà và thư giúp cậu Iki, nên phải gửi Go-inkyo-sama cho bằng được. Thư tôi viết rằng: “Cháu đã dời Nagasaki, định về Nakatsu và đã đi đến Isahaya (Gián-Tảo), nhưng tự dưng giữa đường lại muốn lên Edo. Bây giờ cháu sẽ lên Edo. Cháu xin gửi lại thư và lời nhắn của cậu Iki cho ông đây ạ”. Tôi nắn nót viết như vậy. Còn lá thư không dán phong bì Iki gửi cho cậu Ōhashi thì tôi có viết thêm vài dòng rằng: “Lá thư này rất lạ là từ lúc cháu nhận đã không được dán lại. Không có gì ngu ngốc hơn thế này nữa, nhưng cháu cứ để nguyên như thế gửi cho cậu! Kẻ đứng ra lập mưu gọi người ta về mà còn ngang nhiên đi lừa thêm cả người khác là kẻ đểu cáng đến cùng cực! Cháu không về Nakatsu nữa mà sẽ đi Edo. Cậu xem thư sẽ rõ!”.

Tôi viết những dòng đó và chuẩn bị đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, sau đó cùng ông Kuroganeya Sōbē rời Nagasaki đến Isahaya. Từ Nagasaki đến Isahaya khoảng 7 Ri (tức khoảng 27.300m - ND). Thuyền đến Isahaya lúc chiều tối. Đêm đó trăng tháng ba vằng vặc sáng! Tôi nói lời từ biệt ông Kuroganeya:

- Bác Kuroganeya ạ, lúc rời khỏi Nagasaki tôi định về Nakatsu, nhưng đến đây tự dưng tôi lại muốn lên Edo. Tôi đã chán về Nakatsu! Bác mang đồ đạc của công tử và cả rương quần áo này về giúp tôi. Tôi chỉ cần một hai tấm áo kimono là đủ. Từ bây giờ, tôi sẽ đi Shimonoseki để từ đó đi Ōsaka, tiếp theo sẽ lên Edo.

Nghe tôi nói thế, ông Kuroganeya giật mình sửng sốt:

- Không được đâu! Trẻ người non dạ, lại chưa quen đường sá như cậu thì không thể đi một mình được!

- Bác không phải lo, đường đi là ở miệng! Từ đây lên Edo thì có chuyện gì đâu bác?

- Nhưng về Nakatsu thì tôi biết ăn nói sao với mẹ cậu được?

- Chuyện ấy thì bác khỏi lo. Tôi có chết hay làm sao đâu nào? Bác cứ nói với mẹ tôi là tôi đi Edo. Bà cụ hiểu ngay ấy mà!

Ông Kuroganeya có vẻ như không còn cách thoái thác nào nữa. Được thể tôi nói thêm:

- Thực ra tôi muốn đi Shimonoseki, nhưng không quen biết ai ở đó cả. Bác đi nhiều nơi, liệu có biết nhà thuyền nào ở đó không?

- Có ông chủ thuyền Sembaya Yasuguemon (Thuyền-Trường- Ốc Thọ-Cửu-Hữu-Vệ-Môn) là chỗ thân quen của tôi. Nếu cậu đến chỗ ông ấy thì chắc là được thôi.

Tôi phải nhờ đến ông Kuroganeya chuyện ấy, là vì trong túi tôi có rất ít tiền. Tôi được nhà cho 1 Bu, sau đó bán cuốn từ điển tiếng Hà Lan quý giá đi nữa thì tổng cộng được 2 Bu và 2 hay 3 Shu gì đó. Ngần ấy tiền tôi áng chừng không đủ để lên đến Ōsaka, nên mới phải nhờ ông Kuroganeya như vậy. Sau khi hỏi kỹ tên người lái thuyền đó, chúng tôi chia tay nhau. Từ Isahaya, tôi qua biển Amakusa (Thiên-Thảo) bằng thuyền mộc. Người ta bảo mất 580 Mon tiền thuyền thì sáng sớm hôm sau sẽ đến Saga. Quả nhiên sáng hôm sau, tôi đến được Saga mà không gặp sóng gió gì. Từ Saga, tôi phải đi bộ mà không có ai hướng dẫn, không biết tên làng nằm hai bên đường, không biết cả tuần tự các nhà trọ mà cứ một thân một mình nhằm thẳng hướng đông đi. Tôi nghĩ là sẽ hỏi đường đi Kokura (Tiểu- Thương), sau đó qua Chikuzen (Trúc-Tiền) thì có lẽ sẽ đến được Dazaifu (Đại-Tể-phủ). Mãi đến ngày thứ ba tôi mới đến được Kokura.

Viết thư giả mạo

Trên đường đi, tôi gặp khá nhiều chuyện gian nan. Tôi đi một mình, trông bên ngoài lại mang dáng vẻ một võ sĩ trẻ và nghèo, không quen thân ai. Người ta sợ ngộ nhỡ tôi đau ốm hay làm điều bạo loạn gì lại phiền đến họ, nên không dễ gì họ cho tôi vào nghỉ. Về phần mình, tôi không nề hà về nhà trọ tốt hay xấu, mà chỉ cần có chỗ đặt lưng là được. Tôi nghỉ hai đêm và đi bộ chừng ba ngày thì đến được Kokura.

Giữa đường, tôi đã viết giả mạo thư của ông Kuroganeya rằng: “Ngài đây là cậu công tử thuộc dòng dõi sĩ tộc ở Nakatsu, con của ông Nakamura. Tôi vẫn hay ra vào dinh thự nhà cậu, nên không có chuyện nhầm lẫn nào ở đây cả. Trăm sự nhờ ông!”. Tôi viết tên ông Kuroganeya Sōbē gửi ông Sembaya Yasuguemon ở Shimonoseki và dán phong bì cẩn thận. Tôi nghĩ, hôm sau đến Shimonoseki sẽ phải cần đến thư đó.

Nhưng ngay đêm ấy, khi đến Kokura và nghỉ trọ tôi đã chứng kiến một chuyện rất lạ lùng. Tôi đi lòng vòng quanh Kokura để tìm chỗ trọ, nhưng đến đâu cũng bị từ chối. Cuối cùng, cũng có một nhà cho tôi vào nghỉ. Đó là một nhà trọ bẩn thỉu và tất cả khách trọ đều phải ngủ chung. Nửa đêm bỗng nghe thấy tiếng nước tí tách, rõ mồn một. Thì ra đó là tiếng đi tiểu của cụ già bị phong. Ông cụ không phải là khách trọ mà là người nhà của gia chủ. Đến nay, tôi vẫn còn nhớ cảnh khách trọ nằm chung với người bệnh. Bẩn không thể chịu được.

Tác dụng của lá thư giả mạo

Đến Shimonoseki, tôi tìm ông Sembaya và mang thư giả mạo đến, thì quả nhiên như ông Kuroganeya nói là chỗ thân quen, nên chỉ lướt qua thư ông đã đồng ý ngay cho tôi trọ và đón tiếp hết sức chu đáo. Tiền thuyền đi đến Ōsaka là 1 Bu 2 Shu, ngoài ra còn tiền ăn tính theo số ngày. Bởi vậy, nếu trả hết tiền thuyền, tôi sẽ chỉ còn lại được hai, ba trăm Mon, nên trước tiên tôi chỉ định trả tiền thuyền, còn tiền ăn ở sẽ khất khi nào đến Kurayashiki của lãnh địa Nakatsu ở Ōsaka. Ông chủ thuyền thông cảm và đồng ý cho tôi như vậy. Thật chẳng hay ho gì, nhưng tất cả là nhờ vào lá thư giả mạo.

Vượt biển Bakan

Khi đặt chân lên thuyền từ Kokura đến Shimonoseki đã có chuyện đáng sợ. Giữa đường, gió thổi mạnh và sóng chồm lên dữ dội, nên ông chủ thuyền phải nhờ cả khách quá giang như tôi những việc nào là kéo dây thừng, dây chão, nào là chỉnh chỗ này chỗ kia khi đầu thuyền chao đảo. Vật lộn với sóng gió, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Shimonoseki. Tôi lại giúp ông thu dây chão, kéo cột lên. Đến nơi, tôi mới nói chuyện với bà chủ nhà trọ:

- Hôm nay được ngày mưa bão, cháu bị sóng đánh ướt hết quần áo, bác ạ.

Nghe thấy thế bà mới vội bảo:

- Nguy hiểm quá! Trong trường hợp là lái thuyền chuyên nghiệp thì không nói, chứ thực ra ông ấy vốn chỉ làm nghề nông. Nhân lúc nông nhàn thì làm thêm kiếm sống. Không quen việc, nên chỉ cần chút sóng gió thôi là đã không tránh khỏi sơ suất.

Tôi nghe xong thì giật thót mình. Ra thế lúc đó ông chủ thuyền mới phải lạy lục nhờ tôi giúp như vậy.

Lên thuyền từ Bakan

Từ chỗ ông Sembaya Yasuguemon, tôi chuyển sang thuyền khác để đi Ōsaka. Đó là vào khoảng tháng 3 nên người ta thường đi thăm thú ở vùng Kamigata (Thượng-Phương). Trên thuyền có đủ hạng người, từ thanh niên trai tráng đến cụ già đã rụng hết tóc, từ những cô gái làng chơi vùng Kamigata đến những cô gái con nhà nghèo ở Shimonoseki, có cả các nhà sư, nông dân… Tất thảy chen chúc trên một chiếc thuyền chật hẹp. Trong khi họ vui thú với việc uống rượu, đánh bạc, chửi tục và nói những chuyện không thể vào tai, thì chỉ mình tôi là im lặng, không nói năng gì.

Khi thuyền đến Miyajima (Cung-Đảo) ở Aki (An-Nghệ), tuy không có việc gì, nhưng tôi cũng lên thăm thú. Những người khác có hội có thuyền thì ăn uống rất vui vẻ. Tôi cũng muốn uống một chút rượu, nhưng không có tiền, nên chỉ đi tham quan và sau đó về thuyền ăn cơm. Ông chủ thuyền dường như không thích những người khách như vậy, nên đưa mắt lườm tôi tỏ vẻ khó chịu. Cử chỉ đó làm tôi nhớ đến tận bây giờ.

Trước khi đến Miyajima, thuyền ghé qua cầu Kintai-bashi (Cẩm-Đới-kiều) ở Iwakuni (Nham-Quốc). Tôi có lên thăm. Sau đó, thuyền dời Miyajima đến Sanuki (Trấm-Kỳ), nơi có ngọn núi thờ thần Kompira (Kim-Tỷ-La). Từ bến Tadotsu (Đa-Độ-Tân) chỉ đi khoảng 3 Ri (khoảng 11.700m-ND) là đến núi Kompira. Những người khác thì đều rời thuyền đi, chỉ mình tôi trực lại. Không phải tôi không muốn đi, nhưng không có tiền nên đành ở lại. Sau một đêm, họ lục tục trở về thuyền, người thì say khướt, kẻ thì bàn chuyện huyên náo. Tôi thấy khó chịu, nhưng biết làm sao được.

Lên bờ từ Akashi

Trên con thuyền nhộn nhạo, khó chịu ấy, sau 15 ngày cũng đến được vùng Banshū (Bá-Châu) của biển Akashi (Minh-Thạch). Dự tính rằng nếu trời yên bể lặng thì 5 giờ sáng hôm sau thuyền sẽ rời bến. Nhưng đi với những kẻ như vậy khó chịu vô cùng. Định lên đi bộ, nên tôi hỏi xem từ đó đến Ōsaka bao xa, thì được trả lời là 15 Ri (khoảng 58,5km-ND). Tôi bảo với ông chủ thuyền:

- Từ đây tôi sẽ xuống đi bộ đến Ōsaka. Đồ đạc tôi xin gửi lại. Nhờ ông khi nào đến Ōsaka thì ghé qua Kurayashiki của lãnh địa Nakatsu lấy tiền ăn giùm tôi được không?

Ông chủ thuyền không nghe và bảo:

- Không được, cậu phải trả luôn bây giờ!

Nhưng dù ông ta có nói thế chăng nữa thì trong túi tôi cũng không có tiền để trả. Lúc đó, tôi chỉ có hai bộ kimono kiểu Sarasa (Canh-Sa) và Kenchū (Quyên-Trừu), nên gói cả vào đưa cho ông chủ thuyền:

- Tôi có hai bộ kimono này bán đi có thể đủ để trả tiền ăn. Ngoài ra, tôi còn có sách, nhưng chắc không giải quyết được chuyện gì. Tôi cũng có thể ký gửi hai thanh kiếm, nhưng còn cần trong khi đi lại. Khi nào đến Ōsaka, ông cứ qua Kurayashiki của lãnh địa Nakatsu mà lấy!

Tôi nói đến thế mà ông chủ thuyền vẫn không chịu nghe:

- Kurayashiki của lãnh địa Nakatsu thì tôi biết, nhưng cậu thì tôi không biết là ai! Cậu cứ theo thuyền đến Ōsaka, khi nào lên đấy tôi sẽ lấy. Sau mấy ngày cũng được, chứ giữa đường tự dưng lại đòi xuống là không xong với tôi!

Tôi là người đi nhờ vả nên cố nhún nhường. Nhưng càng nhún nhường ông chủ thuyền càng khăng khăng không chịu và càng thêm nóng giận, to tiếng hơn. Giữa lúc gay go ấy, có một người vốn làm nghề buôn ở Shimonoseki tiến lại gần bảo:

- Việc này để tôi!

Nói rồi, anh quay về phía ông chủ thuyền bảo:

- Lão nói vô lý quá đấy! Người ta đã có hai bộ kimono để trả thay cho tiền ăn rồi còn gì nữa? Ông này là võ sĩ hẳn hoi, thèm gì mà lừa ông vài đồng bạc? Nếu giả sử ông ta có chạy làng thật, thì tôi sẽ trả cho ông! Thôi, ông võ sĩ cứ đi đi, có đâu tôi chịu!

Nghe thấy thế, ông chủ thuyền yên tâm, không kỳ kèo gì thêm nữa. Tôi như người chết đuối vớ được cọc, rối rít cảm ơn anh bạn người Shimonoseki tốt bụng rồi nhảy phắt lên bờ.

Đi bộ suốt 15 Ri trong đêm tối

Trong suốt chặng đường dài 15 Ri từ Akashi đến Ōsaka, tôi không xin nghỉ trọ ở đâu được. Trong túi chỉ còn vẻn vẹn 60 hay 70 Mon gì đó, tức là không có đủ 100 Mon để trọ một đêm, nên dù đêm tối cũng phải cố mà đi.

Giữa đường, tôi đã ghé vào quán phía bên trái (tôi không biết khi đó mình đang ở vùng nào) uống 2 Gō (Hợp) rượu, mỗi Gō mất 14 Mon với một đĩa măng nấu rất to và ăn liền bốn, năm bát cơm. Ăn xong lại mải miết đi.

Đến vùng Kōbe ngày nay tôi không biết phải đi bằng đường nào. Sau đó, đến gần Ōsaka tôi có qua mấy con sông. Hồi ấy, các tuyến sông được coi là những mạch giao thông quan trọng như đường tàu ngày nay. Cũng may tôi là võ sĩ nên đi lại không mất tiền. Nhưng khi mặt trời lặn, trời tối, không hỏi thì không biết đường, mà hỏi nhỡ gặp phải kẻ xấu, lại ở chỗ vắng người thì thêm vạ vào thân. Lúc đó, tôi chỉ mang bên mình hai thanh kiếm, một dài một ngắn. Thanh dài hiệu Sukesada (Hữu-Định) khá chắc chắn, còn thanh ngắn thì mảnh dẻ, không mong giúp gì được. Thực ra, hồi đó ở Ōsaka cũng không hay có chuyện giết người mờ ám và có lẽ không phải lo lắng đến chuyện đó. Nhưng đi một mình giữa đêm tối mịt mùng, nên bệnh nhát gan lại có dịp túm lấy làm tôi vừa đi vừa sợ, phải dựa vào hai thanh kiếm giắt lưng để phòng thân. Nhưng về sau ngẫm lại, tôi mới nghĩ, có khi chính điều đó đem đến hiểm họa cho mình cũng nên.

Về chuyện đường sá, từ thuở nhỏ tôi đã biết Kurayashiki của lãnh địa nằm ở khu Dōjima (Đường-Đảo), Tamae-bashi (Ngọc-Giang-Kiều), nên chỉ cần hỏi đường đến đó là được. Mười giờ đêm tôi mới mò được đến Kurayashiki của lãnh địa Nakatsu và gặp được anh trai, nhưng chân thì mỏi nhừ.

Đến Ōsaka

Lên Ōsaka, tôi không chỉ được gặp anh trai sau những ngày đằng đẵng, mà ở trong và ngoài khu Kurayashi của lãnh địa còn nhiều người biết tôi từ khi còn nhỏ. Tôi về quê năm lên ba và đến khi hai mươi hai tuổi quay trở lại thì gặp rất nhiều người biết tôi từ lúc mới lọt lòng. Tôi cũng không thay đổi so với hồi nhỏ là mấy. Trong số những người quen có một bà vợ người phu thuyền đã cho tôi bú từ tấm bé và cả ông Buhachi (Vũ-Bát) từ Nakatsu lên theo hầu anh tôi lần này. Ông vốn là người chất phác, trước đây cũng đã từng giúp việc trong nhà tôi và đã chăm bẵm tôi. Ngay sau hôm lên đến Ōsaka, tôi cùng ông đi qua phố số 3 hay số 4 gì đó của khu Dōjima, ông bảo rằng:

- Lúc cậu sinh, tôi đã từng đi đón từ nhà bà đỡ về giữa đêm khuya đấy! Bà này bây giờ vẫn là người đỡ đẻ lành nghề. Thế rồi cậu lớn lên một chút, tôi lại bế cậu đến nhà tập Sumō xem. Nhà bà đỡ ở chỗ kia, còn nhà tập Sumō thì ở đây này!

Theo tay ông chỉ, bao nhiêu kỷ niệm thời thơ bé hiện về làm nước mắt tôi lăn trào. Ở đó, tôi không nghĩ mình đang đến một nơi lạ mà thực sự cảm thấy như được trở về cố hương. Lúc đầu, anh tôi có hỏi:

- Sao tự dưng em lại lên đây?

Vì là anh trai, nên tôi không ngại gì kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong anh bảo:

- Cứ theo tuần tự đường đi thì em từ Nagasaki về thẳng Nakatsu sẽ tiện hơn chứ. Thế mà chẳng phải là em đi qua Nakatsu và tránh không về nhà gặp mẹ hay sao? Anh không ở đây thì không sao, nhưng đã gặp em ở đây mà để cho em đi thành ra anh em đồng mưu à? Dù thế nào cũng không được! Mẹ chắc không nghĩ đến như thế, nhưng với anh thì không được! Ở đây cũng có thầy dạy Hà Lan học, chi bằng em ở lại đây học là tốt nhất.

Tôi ở lại chỗ anh, tìm và được biết ở Ōsaka có thầy Ogata.

Những chuyện trứ danh ở Nagasaki

Làm những việc tỉ mẩn là sở trường của tôi. Hồi còn tá túc nhà thầy Yamamoto, bên cạnh việc học thấu đáo môn Hà Lan học, tôi còn làm mọi việc từ lớn đến nhỏ, không nề hà việc gì. Không bao giờ tôi bảo không làm được việc này hay không thích việc kia. Đúng vào lúc vùng Kamigata có động đất lớn là khi tôi dạy con trai thầy đọc sách chữ Hán xong và ra bờ giếng múc nước. Vừa đặt thùng nước nặng lên vai, đưa một chân định bước đi thì thấy loạng choạng trượt chân. Quả thật là rất nguy hiểm.

Đoàn nhóc tùy tùng của vị hòa thượng

Bây giờ, các nhà sư không còn theo phong tục đó nữa, nhưng trước đây chùa Kōeiji trực thuộc chùa Higashihongan-ji (Đông-Bản-Nguyện-tự), nhưng lại có quyền quản hạt ba chùa nhỏ khác. Thường các vị hòa thượng ở các chùa lớn của Nagasaki đều có một thời gian lên kinh đô dùi mài kinh sử. Sau khi lập thân, thành danh trở về, phải đi khắp các sở chức dịch để chào hỏi. Khi đó, họ thuê một đoàn nhóc tùy tùng, còn vị hòa thượng thì mặc áo dài lướt thướt trông rất buồn cười.

Có lần tôi được thuê làm tùy tùng. Khi đến cổng của Sở chức dịch, vị hòa thượng xuống lọng và tôi phải rón rén đi đằng sau nhấc pháp y theo. Cảnh tượng thật nực cười! Vào những dịp lễ tết, vị hòa thượng đó đến thăm nhà các Phật tử của mình. Nếu đi theo hầu vào dịp đó thì trong khi đợi vị hòa thượng túy luý ở trong, người nhà cũng đem lộc thờ như Zōni (tạp-chử) chia cho tôi. Tất nhiên, tôi cũng vui vẻ đánh chén ngon lành.

Đi xin vào dịp Setsubun

Vào dịp Setsubun (Tiết-phân), tôi đã từng đi xin đồ. Dịp này, theo phong tục của Nagasaki, tối hôm đó người ta thường đi quanh làng và thổi bằng vỏ ốc một nhạc điệu kèm theo việc đọc một câu gì đó. Còn ở Tōkyō, người ta gọi là Yakubarai, nghĩa là trừ ác. Đứng ở cửa nhà ai đó và khẩn cầu trừ ác, thì sẽ được họ thưởng tiền hoặc gạo.

Gần nhà thầy Yamamoto có một thanh niên trẻ tuổi tên là Sugiyama Matsusaburō (Sam-Sơn Tùng-Tam-Lang), tính tình khá hay. Hôm Setsubun, cậu ta sang rủ tôi:

- Tối nay đi không?

Tất nhiên là tôi đồng ý. Thế là Matsusaburō đi mượn ở đâu đó được chiếc tù và bằng vỏ ốc về. Cả hai bịt kín mặt, Matsusaburō thổi kèn còn tôi thì đi theo đọc những câu đã học thuộc từ nhỏ trong sách Mông Cầu hay Thiên tự văn như: “Vương Nhung giản yếu...”, “Thiên địa huyền hoàng...”. Chúng tôi đã khéo lừa được người ta và nhận khá nhiều tiền, gạo, sau đó đi mua bánh Mochi cùng thịt vịt về nấu Zōni ăn no nê.

Thầy trò đổi ngôi

Lần đầu tiên tôi đến Nagasaki học tiếng Hà Lan, có một người học về ngành y, đến từ Sasshū (Sát-Châu) tên là Matsuzaki Teiho. Hồi đó, lãnh chúa Satsuma-no Kami (Sát-Ma-thủ) của Sasshū là một bậc cao danh về các môn khoa học của người phương Tây. Ông muốn gây dựng môn Hà Lan học nhờ vào các sinh viên ngành y của lãnh địa. Anh Matsuzaki cũng được lệnh đi học Hà Lan học, nên đến Nagasaki và ở trọ luôn đó. Vì thế, tôi nghĩ, nhờ một trong những người như vậy dạy cho sẽ tốt và đến chỗ anh.

Anh Matsuzaki viết chữ a, b, c sau đó ghi cách đọc lên trên làm tôi ngạc nhiên vô cùng. Chữ viết thật lạ lùng, không dễ lý giải. Lúc đầu phải rất khổ công để nhớ hai mươi chữ cái, nhưng nếu đã nhớ được thì sẽ rất nhanh tiến bộ.

Dần dần, tôi đã hiểu ra cách kết nối và tư duy trong tiếng Hà Lan, đồng thời cũng nhận ra thực chất người thầy của mình. Tôi cho rằng, đấy không phải là một người tài như người ta vẫn thường tán tụng và thầm nghĩ: “Đây mà là người tài à? Thử đọc chữ Hán xem có được không? Mình mới gọi là tài chứ! Chữ Hán, chữ Hà Lan đọc được làu làu và giải nghĩa vanh vách như nhau! Người thầy này chẳng có gì làm mình phải sợ cả. Mình sẽ thay đổi và sẽ có ngày dạy lại Hà Lan học cho anh ta mà xem!” Mới vào học mà tôi đã nghĩ như thế, chẳng qua cũng vì tính hiếu thắng, kiểu con trẻ mà thôi.

Chuyện này tưởng như chỉ dừng ở đó. Sau đấy, tôi đi Ōsaka, vào học trường của thầy Ogata. Vì trước đó đã học một năm ở Nagasaki, nên tôi tiến bộ rất nhanh. Ba năm liền, tôi đều học giỏi nhất trong số 890 môn đệ. Mà trái đất tròn thế nào, thầy Matsuzaki lại từ Kyūshū xin vào trường của thầy Ogata. Khi đó, tôi đã học ở lớp trên, bỏ khá xa thầy. Khi tôi xuống giảng bài ở lớp dưới, cả thầy Matsuzaki cũng đến học. Trong suốt ba, bốn năm, thầy trò đổi ngôi lẫn lộn. Sự ham muốn đầy hiếu thắng của tôi ngày xưa đã trở thành hiện thực. Tôi im lặng, không nói với ai và nghĩ là không nên nói, nhưng trong lòng thì hả hê, khoái chí uống rượu một mình.

Cũng như vị tướng lập được công, nhà chính trị lập được danh, thương gia tích được tài sản, ai cũng cuồng nhiệt như nhau, nhìn qua thì thấy đó là những ham muốn phàm tục, nghĩ kỹ thì thấy những kẻ cuồng điên theo đuổi hư vinh chỉ là những kẻ ngu ngốc. Nhưng đấy là chuyện không phải chỉ để cười phiếm. Các học giả tốn giấy mực để bàn luận, lập lý lẽ về điều này, nhưng chính họ cũng không tránh khỏi những tham vọng. Đó là điều mà ai cũng mang trong mình, nên việc các học giả đem ra để phê phán là điều hết sức buồn cười.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha
"Like" us to know more!