Dionysus, Apollo

Hãy tự biết lấy Ngươi - Không gì được Quá.

Lời khắc lên đá trên vòm cổng lối vào đền thờ thần Appolo ở Delphi

Có rất nhiều ngụ ý tiên tri trong những hành xử kiểu Dionysus này và trong cơn ngất ngây của những hành động đó; và khi vị thần ấy đã đi sâu được vào trong thân xác con người, chúng đã chỉ ra tại sao Dionysus lại khiến cho anh có thể nói được về tương lai.

Euripides

Chương 28: DIONYSUS / APOLLO

Rất khó chứng thực các giả thuyết về mắt và mũi, không gian và thời gian nếu dùng những phương pháp khảo sát truyền thống của khoa học, bởi vì đã không có các hồ sơ hóa thạch liên quan đến nội dung đã được phác ra ở chương trước. Tuy nhiên, từ trong bối cảnh thần thoại, một sự khẳng định vô cùng thú vị lại xuất hiện. Bởi vì nghệ thuật và thần thoại gắn bó với nhau đến mức không thể tách rời, và cũng bởi vì luận đề của cuốn sách này là nghệ thuật luôn có các tiên nghiệm trước khoa học, cho nên tôi nghĩ rằng các thần thoại đã chứa đựng những lý thuyết khoa học ẩn tàng dưới những từ ngữ đầy chất thi ca và phúng dụ. Ý tưởng này đã được Joseph Campbell diễn tả hùng hồn khi ông viết:

“Không hề quá lời một chút nào khi nói rằng thần thoại là khoảng trống bí mật đã mở ra, để qua đó những dòng năng lượng vô tận của vũ trụ trút vào trong các biểu hiện văn hóa của con người. Các tôn giáo, các triết thuyết, các loại hình nghệ thuật, các hình thức xã hội của con người nguyên thủy và lịch sử, những khám phá chủ chốt trong khoa học và công nghệ, những ước mơ đã quấy rầy giấc ngủ ấy - tất cả đều đã sôi cuộn lên từ cái vũ đài tròn kì diệu, cơ bản ấy của thần thoại”.

Bằng những hình tượng soi sáng những nấc thang đi lên trên con đường dẫn đến trí tuệ biết tự ngẫm, thần thoại đã kể câu chuyện về trí óc phân chia ra không gian và thời gian, và sự tách biệt sau đó giữa nghệ thuật và vật lí.

Các nhà thần thoại học như James Frazer và Joseph Campbell đã phát hiện ra có một sợi chỉ xuyên suốt nhiều thần thoại khác nhau, mặc dù nguồn gốc của chúng xuất hiện ở những nền văn hóa cách xa nhau hàng vạn dặm không gian và hàng thế kỉ thời gian. Đã có ba lý thuyết chính được đưa ra để giải đáp cho hiện tượng lạ thường này.

Lí thuyết thứ nhất cho rằng việc đi lại trong các thời tiền sử đã dày đặc hơn chúng ta tưởng và sự tiếp xúc rộng rãi giữa các cộng đồng người đã khuếch tán và đồng nhất hóa các thần thoại. Lí thuyết thứ hai, như Freud đưa ra trong Vật tổ và điều cấm kị (1913) và trong Nền văn minh và những nỗi bất bình của nó (1930), ông cho rằng thần thoại đối với xã hội cũng tương tự như mơ ước đối với cá nhân, và cả hai đều có nguồn gốc từ những tưởng tượng thời thơ ấu của cá nhân. Theo Freud, cái bi kịch chính diễn ra ở mọi thế hệ giữa người mẹ, người cha và đứa con đã trở thành một nỗi ảm ảnh lớn mà trên đó các nền văn hóa khác biệt nhau đã dệt thành tấm thảm phong phú của cái thực sự chỉ là một đơn thần thoại. Những tình cảm dậy lên trong lòng Cedipus và Electra cũng là tình cảm phổ quát của con người, và không thể nào tránh được việc tất cả mọi bộ thần thoại đều tham dự vào đó, chia sẻ một số sợi chỉ cốt truyện chung[1].

Carl Jung đã đưa ra giả thuyết thứ ba và là giả thuyết cấp tiến nhất. Ông tin rằng thần thoại là những kí ức được thừa kế của loài. Ông gọi những khắc ghi này là vô thức tập thể. Ông đã gợi ý rằng chúng ta không sinh ra trên thế giới này như một cái bảng trắng, trống rỗng chẳng có thông tin gì. Trái lại, chúng ta sinh ra cùng với những kí ức vô thức bao gồm các sự kiện lớn trong hành trình tiến hóa của chúng ta. Thực tế, Jung đã mở rộng đề xuất của Kant về các phạm trù tiên nghiệm để thêm vào tri thức về những sự kiện cổ xưa[2].

Thế nhưng trong cái sơ đồ của Jung ấy, thì những thông tin này được lưu giữ ở đâu? Phân tử ADN là một thư viện đồ sộ chứa các bản vẽ thiết kế khác nhau của mọi thứ, từ vân tay đến màu tóc. Có thể hình dung được rằng ở một chỗ nào đó dọc theo các giá sách ngoằn ngoèo kéo dài của nó, có một khu vực dành cho lịch sử tiến hóa. Các kĩ sư công nghệ gen gần đây đã nhận dạng ra một số dải dài của ADN con người không có đóng góp gì để tạo nên các thuộc tính Cơ thể của cá nhân đó cả. Các nhà sinh học phân tử đã đưa ra giả thuyết rằng những đoạn câm lặng này hoặc là các ADN “bỏ đi”, hoặc có sẵn ở đấy cho những mục đích tương lai nào đó mà bây giờ loài người chưa khám phá ra được. Tôi muốn đưa ra thêm một giả thuyết nữa: có lẽ một số chúng chính là cái kho ghi khắc những kí ức cổ xưa.

Những sự kiện ban đầu của quá trình tiến hóa, truyền từ ADN và được mã hóa vào trong bộ não đang lớn dần của thai nhi, có thể đã trở thành cơ sở cho vô thức tập thể mà Jung đã nói tới. Nếu chúng ta xem giả thuyết của ông là một khả năng, thì việc tìm kiếm các nét tương đồng giữa thần thoại và những sự kiện tiến hóa có thể đem lại kết quả hữu ích. Thần thoại là một cách kể bằng biểu tượng một câu chuyện phức tạp với nhiều tầng ý nghĩa.

Suốt cuốn sách này, tôi đã coi di sản Hi Lạp là ảnh hưởng nổi trội nhất đến khái niệm của văn minh phương Tây về không gian và thời gian, cũng như cung cấp nền tảng cho các môn nghệ thuật và ngành vật lý của chúng ta. Thần thoại sáng tạo nên đỉnh Olympus của người Hi Lạp cổ đại đã miêu tả với sự chính xác đến kì diệu sự tách biệt mang tính tiến hóa giữa không gian và thời gian. Nó cũng phát lộ ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và vật lí, cũng như giữa hai bán cầu phải và trái của bộ não. Như một sự khẳng định bất ngờ, truyện thần thoại lại rất giống với giả thuyết đầy tính cách mạng của khoa học hiện nay về ý thức của con người.

Theo thần thoại về sự sáng thế thì thoạt đầu tiên tất cả chỉ là Hỗn mang. Trong tình trạng đó, thế giới không hề có vật thể, cũng không có các hình dạng, không chất liệu, không sự kiện - không có gì hết ngoài hỗn độn thuần túy, hay nói như chúng ta ngày hôm nay, thuần tuý chỉ có năng lượng. Bởi vì không có chỗ nào mà đứng nên một vị thần, trong một tiếng vọng có tính chất họ hàng với những gì nói trong Kinh Cựu Ước, đã chẻ đôi Hỗn mang thành trời và đất. Vị nam thần của bầu trời, Uranus, nhìn xuống nữ thần mặt đất đáng yêu là Gaea, đem lòng say đắm nàng và làm tràn trề những khe núi và thung lũng của nàng bằng những cơn mưa dịu dàng, rồi cây cỏ mọc lên và sau đó ra đời những con thú đơn giản đầu tiên. Dần dần, các loài của sự sống nối tiếp nhau xuất hiện, ngày càng phức tạp hơn và cuối cùng đến loài áp chót: tiền bối của những vị thần của đám phàm nhân chúng ta, được gọi là Titan. Đứng đầu nòi giống Titan là ba người con của Uranus: Kronos, Epimetheus và Prometheus cùng cô em là Mnemosyne.

Khúc mở đầu của câu chuyện về loài người đã bắt đầu bằng một vụ giết cha. Kronos, người con mạnh nhất của Uranus, uất ức dưới sự cai trị của cha mình, đã không kiên nhẫn để chờ nhận được quyền lực. Tức giận vì những sự trừng phạt độc ác và thất thường của chồng với con cái, Gaea đã vào hùa với âm mưu của Kronos. Bi kịch kiểu Oedipus đầu tiên đã mở ra khi Kronos giết Uranus trong giấc ngủ và rồi làm cho hành động của mình tăng thêm tính chất rùng rợn bằng cách lấy một chiếc liềm ghê rợn thiến cha mình. Kronos tự tuyên bố lên ngôi vua, giành lấy quyền trị vì trên tất cả các loài đang sống khác. Ông ta ép hai người anh em của mình, Epimetheus đầu óc ù lì và Prometheus trí tuệ sáng láng, cùng cô em gái Mnemosyne phải thề trung thành với ông ta, và như vậy công nhận quyền lực của ông ta.

Câu chuyện cho đến lúc này chứa đựng một biên niên kỉ chính xác về vũ trụ học và quá trình tiến hóa. Chúng ta có thể nhận ra trạng thái hỗn loạn vô định hình của vũ trụ ở thời kì đầu tiên, vụ nổ lớn, sự bắt đầu của không gian và thời gian, việc hình thành nên vật chất, mối quan hệ mật thiết giữa nước và sự sống, và sự ra đời liên tục tiếp nối thành chuỗi của các loài sinh vật ngày càng phức tạp hơn, lên đến đỉnh điểm là tổ tiên của loài người, qua việc tách một loài linh trưởng ra khỏi tất cả những loài khác. Đặc điểm nổi bật đầu tiên của loài linh trưởng dạng người này là một loài thú săn mồi ăn thịt nguy hiểm, có khả năng giết chóc. Trong hơn một trăm loài linh trưởng, chỉ có một loài, Homo sapien, thường xuyên thỏa mãn hầu hết nhu cầu dinh dưỡng của nó bằng cách ăn thịt con mồi. Cũng cần nói thêm ngoài lề, chúng ta để ý thấy rằng trong các thần thoại về sự sáng thế, mở đầu bao giờ cũng có một ai đó bị giết.

Sự tương ứng đến kì quái đằng sau câu chuyện về Kronos như tiền thân của loài Homo sapien càng trở nên khiêu khích khi tên của ông ta và các anh chị em ông ta được dịch sang tiếng Anh. Kronos nghĩa là “thời gian”. Tên ông ta là nguồn gốc cho các từ chronicle “biên niên, thường xuyên”, chronological “theo niên đại” và chronic “kinh niên”. Vào đêm giao thừa trước năm mới, thần Thời gian được tượng trưng dưới hình ảnh một ông lão với chiếc lưỡi hái, giết thời gian năm cũ già lụ khụ. Nguyên mẫu này chính là Kronos với chiếc liềm của ông ta. Trong ngôn ngữ của tiến hóa, các khái niệm nguyên thủy về thời gian của loài linh trưởng dạng người cổ hơn phải bị giết chết, theo đúng nghĩa đen, để mở đường cho một kiểu thời gian mới xuất hiện. Vua Thời gian trở thành người trị vì thế giới khi khả năng cảm nhận được thời gian trở thành điều kiện tiên quyết, mang tính chất cốt tử cho việc hình thành nên ý nghĩ của con người. Nhu cầu xử lý thời gian như một tọa độ tách biệt khỏi không gian đã trở thành động lực làm nên sự chuyên môn hóa về thời gian của não trái, là điều xảy ra tiếp theo sau khi các tế bào hình nón và não trái cùng hợp tác sáng tạo nên ảo giác về chuỗi trình tự.

Tên các anh chị em của Kronos cũng để lộ ra nhiều điều không kém phần thú vị. Metheus nghĩa là “ý nghĩ”. Các từ thesis “luận đề”, theory “lí thuyết”, thinking “tư duy” đều phái sinh từ cái gốc của nó. Epi có nghĩa là “sau”, như vậy Epi-metheus có nghĩa là “nghĩ-về phía sau”, tức là nghĩ về quá khứ. Tên em gái ông ta, Mnemosyne, là từ gốc của memory “trí nhớ”. Mọi sinh viên đều đã dùng tên cô gái này để tạo ra các mnemonic, các “phao ôn thi” để giúp nhớ được những chuỗi dài sự kiện. Mnemosyne là mẹ của các nữ thần thi ca và nghệ thuật Muse, bởi vì trí nhớ làm cho tất cả các nghệ thuật trở nên có thể thực hiện được. Pro-metheus có nghĩa là “nghĩ-lên trước”, điều không thể thiếu được khi dự đoán tương lai. Prometheus đồng nghĩa với “tiên đoán”. Như vậy, theo thần thoại, vua Thời gian cùng với hai anh em Nghĩ-lên trước, Nghĩ-về phía sau và cô em Trí nhớ là tổ tiên chú bác họ của loài người. Theo lý thuyết nhân loại học thần kinh được chấp nhận ngày nay, chúng cũng là những điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự phát triển của tất cả những khả năng then chốt của bán cầu não trái đang hình thành.

Tiếp tục câu chuyện, Kronos được một nhà tiên tri cảnh báo rằng sẽ có ngày, một trong số những đứa con của ông ta sẽ giết ông để trả đũa lại tội giết cha mà ông ta đã phạm phải. Để đề phòng lời tiên tri này, Kronos, sau khi lấy một người em gái khác là Rhea, đã hình thành một thói quen ghê tởm là nuốt sống tất cả những đứa con của mình ngay khi chúng vừa chào đời. Ông ta đã liên tiếp ăn Hades, Poseidon, Haephestus, Pan và Hera trước khi Rhea lập kế hoạch chấm dứt hành động xấu xa này. Khi sinh ra Zeus, bà đã nhanh chóng giấu biến đứa trẻ và thay bằng một hòn đá nặng bốn cân rưỡi quấn kín tã bên ngoài. Không có thể khen gì được về sự nhạy cảm của răng miệng Kronos, bởi vì ông ta đã không hề nhận ra sự khác biệt. Ông ta nuốt chửng hòn đá, đinh ninh rằng một lần nữa mình đã khôn hơn nhà tiên tri.

Được các gia nhân của Rhea nhanh chóng đem ra khỏi cung điện, Zeus đã lớn lên trong lẩn trốn và khi đã đủ trưởng thành, dấy binh trả thù cái chết của ông nội[3]. Chàng đã giết chết Kronos sau một trận giao tranh ác liệt và rồi, theo lời kể của thần thoại, rạch toang bụng người cha của mình. Trước sự ngạc nhiên và thích thú của Zeus, từ trong bụng Kronos tất cả các anh chị của chàng đã lần lượt nhảy vọt ra.

Hai người anh em khổng lồ Titan của Kronos là Prometheus và Epimetheus đã rời khỏi loài giống Titan để gia nhập phe của Zeus. Sau vụ giết cha thứ hai này, Zeus và cái nhóm nhỏ của mình đã đánh nhau với toàn bộ các Titan còn lại trong cuộc chiến nổi tiếng giữa những người khổng lồ đã trở thành bất tử qua dải phù điêu khắc trên trần tường điện Parthenon, và đã khuất phục hoặc giết chết tất cả những thành viên còn lại của loài khổng lồ Titan bất hạnh.

Cho đến điểm nối này của thời tiền sử, con người phàm trần chưa xuất hiện, mà mới chỉ có toàn nam thần và nữ thần. Loài người chỉ bắt đầu được sinh ra dưới vương triều của Zeus, và đấng sáng tạo ra nó không phải là ai khác ngoài Prometheus. Theo thần thoại, Prometheus đã nặn ra một hình người ghép gồm một nam một nữ từ đất sét mịn và nước mưa[4]. Hiếm có nhà nhân loại học nào lại phản bác cái ý niệm cho rằng thuộc tính kì lạ nhất của con người là biết tiên đoán. Ở đây, trong thần thoại này, đấng sáng tạo ra loài người chúng ta là một vị thần có cái tên mang nghĩa đen là “đoán trước”.

Bởi Prometheus tuân phục Zeus, cho nên Zeus được coi là cha của người phàm trần. Nhưng Prometheus, ông chú yêu quí của loài người, vẫn tiếp tục đóng vai trò chú bác trong sự phát triển của cái loài mới này. Ngài là người đã liều lĩnh trước cơn thịnh nộ của thần Zeus, lén ăn cắp lửa từ đỉnh Olympus đem xuống tặng cho con người. Cũng không kém phần ý nghĩa to lớn, Prometheus đã có công dạy cho con người bảng chữ cái và các con số, rồi khởi xướng ra các nghề thủ công - tất cả các món quà này đều cần phải có được một sự nhận biết về thời gian, bởi vì mỗi một chúng đều phụ thuộc sinh tử vào chuỗi trình tự.

Trong vở kịch Prometheus bị xiềng, Aeschylus đã để cho Prometheus miêu tả những món quà đã ban tặng cho loài người:

“Họ vốn giống như những hình dạng mà ta thấy trong các giấc mơ và trong suốt cuộc đời dài của mình, họ trộn lẫn mọi cái vào với nhau, không mục đích… Và rồi ta tìm ra cho họ nghệ thuật sử dụng các con số, điều đó làm chủ được khoa học, sắp xếp trật tự của các con chữ, và một trí nhớ miên man, một tài năng để trở thành mẹ của các nàng thơ Muses”.

Khả năng sử dụng được bảng chữ cái, tư duy trừu tượng và các con số đã phân biệt loài chúng ta khỏi các loài đười ươi bậc cao. Trí nhớ hùng mạnh của con người đã cho phép chúng ta đặt được trật tự lên một chuỗi sự kiện theo niên đại, không còn “trộn lẫn mọi cái vào với nhau một cách không mục đích” nữa.

Một thần thoại Hi Lạp khác đặc biệt đã làm bất tử cái thời điểm mà các chức năng của hai bán cầu não được phân vùng. Câu chuyện này liên quan đến thần Zeus, một kiểu người vô luân, đa tình, chung chạ với cả các nữ thần lẫn con gái trần gian, bất kể khi nào ông ta cảm thấy họ hấp dẫn. Những cuộc phiêu lưu tình ái ấy của Zeus đã tạo ra một loạt con cái đông đảo sống trong thế giới các thần của thần thoại Hi Lạp.

Một buổi sáng, Zeus kêu nhức đầu. Ngày dần trôi đi, cơn nhức đầu biến thành một cơn đau quằn quại. Chúa tể các thần thét lên vì đau đớn và sai Hermes, thần đưa tin, đi tìm một người về chữa cho dịu cơn đau. Để giúp Zeus, Hermes đã tìm được một vị thần, người này đặt một cái nêm lên giữa trán và giáng một nhát búa chí tử, bổ toác đầu Zeus. Từ khe nứt này ở giữa trán vị Chúa Trời, nhảy vọt ra nữ thần Athena, hoàn toàn đã lớn, đầy đủ giáp trụ, không hề trải qua thời ấu thơ, thời thiếu niên hay bất cứ lễ nghi quá độ nào để đạt đến tuổi trưởng thành[5].

Athena là nữ thần của minh triết, nghĩa là nữ thần của việc học được kinh nghiệm từ phép thử-sai và của việc kết hợp kiến thức quá khứ cùng với trực giác để tiên đoán được các kết quả tương lai. Minh triết đồng nghĩa với đánh giá đúng đắn. Nó dựa trên kinh nghiệm tích hợp từ thông tin của cả hai bán cầu não phải và trái. Hầu hết mọi người đều coi đạt được minh triết là mục tiêu cao nhất của cuộc đời. Theo thần thoại Hi Lạp, minh triết, hiện thân thành Athena, đã đi vào thế giới này từ việc phân lập hóa bán cầu mang tính thần thoại của vị thần hùng mạnh nhất. Và ai trong số tất cả các nam nữ thần là người mà thần Hermes đã gọi đến để đặt nêm và giáng búa bửa đôi trán Zeus? Không là ai khác, ngoài Prometheus, vị thần của Suy nghĩ trước, vị thần duy nhất có khả năng thực hiện một phẫu thuật thần kinh triệt để đến vậy. Và như thế, điều mà thần thoại Hi Lạp muốn nói với chúng ta là minh triết đã ra đời khi bộ não được tách ra làm đôi bằng Suy nghĩ trước, để thời gian có thể mở rộng đến tương lai. Từ nay trở đi, một nửa vỏ não sẽ xử lý các thông tin không gian và nửa kia là trong thời gian. Dưới các điều kiện này, cá nhân sẽ sử dụng kiến thức của quá khứ để dự báo về tương lai. Vị thần có tên mang nghĩa là suy nghĩ lên phía trước đã làm bà đỡ cho sự ra đời của minh triết.

Sự xuất hiện của Athena, hoàn toàn trưởng thành, đã theo khá sát với các ước đoán của khoa học hiện đại về quá trình chuyên môn hóa của bộ não người thành hai bán cầu có các chức năng khác nhau. Tuy các loài đười ươi bậc cao cũng đã thể hiện một sự phân vùng bán cầu não nào đó, nhưng mẫu mực của kiểu bố trí về não như thế này chỉ tìm thấy được ở con người. Hơn thế nữa, quá trình phân chia này rõ ràng là đã xảy ra với một tốc độ nhanh đến kinh ngạc, và vẫn đang còn là một trong những câu đố nhân loại học bí ẩn trêu ngươi nhất, chưa được giải đáp cho đến tận bây giờ[6].

Ba triệu năm trước kia, bộ não của loài linh trưởng họ người đã tiến hóa cao và nặng khoảng 900 gam. Trong thoáng chốc một triệu năm nữa, cái cơ quan tối quan trọng này lớn lên thêm một phần ba cân nặng của nó, thêm đến gần nửa kilogam chất xám. Khối lượng của nó ngày nay là khoảng 1.400 gam và nó hình như đã thôi không tiếp tục lớn nữa. Toàn bộ sự tăng thêm này thực sự xảy ra ở vỏ não, làm cả hai bán cầu nở ra. Ngay lập tức sau khi có sự phát triển này, các thuộc tính mà chúng ta cho rằng chỉ duy nhất có ở con người đã xuất hiện: suy nghĩ lên phía trước kiểu Prometheus, lời nói, việc chế ngự lửa, tạo tác ra công cụ, các bằng chứng rõ ràng của việc thuận một bên tay. Trong thế kỉ hai mươi, nhà cổ sinh học Raymond Dart đã quan sát thấy rằng sọ của các con linh dương khai quật ở Nam Phi bị một thứ vũ khí nào đó đập vỡ, và các chỗ vỡ ấy thường nằm về bên trái. Điều đó chứng tỏ con người thời đồ đá cũ cầm thứ vũ khí ấy đã thuận tay phải.

So với những giả thuyết khoa học dựa trên thực tế có tài liệu chứng thực, cũng không phải là quá xa xôi gì khi phỏng đoán rằng sự ra đời của minh triết đã xảy ra đồng thời với việc hai vỏ não mở rộng ra hẳn như vậy cùng với sự phân chia chức năng của chúng, Athena đã xuất hiện hoàn toàn trưởng thành từ cái đầu của thần cha, không hề qua bất kì giai đoạn quá độ nào; các hồ sơ hóa thạch về não loài người thời kì đầu tiên cũng gợi nên một bước nhảy vọt tương tự liên quan đến kích thước của bộ não.

Cả Athena và Prometheus đều là những vị thần phù hộ chủ yếu của loài người, một số đáng kể những món quà mà họ ban phát là giống như nhau. Theo lời kể của thần thoại, Athena cũng dạy cho Con người nghệ thuật sử dụng chữ cái và con số. Nữ thần rất giỏi nghệ thuật quân sự và hầu như không bao giờ thua trận. Thậm chí Ares, vị thần chiến tranh hung hăng và dữ tợn, cũng không thể đánh bại được nàng, bởi vì nàng thắng nhờ vào chiến lược ưu việt - nghĩ trước và minh triết - hơn là dùng sức mạnh thuần túy. Nữ thần đã dạy cho đàn bà con gái các nghề thực tiễn: dệt vải, nặn đồ gốm, làm ra các vật dụng hằng ngày, tất cả đều dựa trên việc học được một loạt các bước phải thực hiện theo một trình tự chính xác. Nữ thần còn dạy cho họ biết cách thiết kế, trang trí một cách khéo léo.

Mặc dù là nữ thần, nhưng Athena có giới tính không nghiêng về một bên nào. Nữ thần là lưỡng tính, kết hợp tất cả những đặc tính quan trọng của cả nam và nữ. Theo thần thoại, nàng chưa bao giờ si mê hay từng chung đụng với ai; đó là một cách khác để nói rằng nữ thần hiếm khi để những tình cảm của bên não phải ảnh hưởng đến những xét đoán lý trí của mình. Khi Pallas, một khổng lồ Titan, phạm sai lầm buông mấy lời gạ gẫm đầu tiên, Athena đã giết chết Pallas vì dám cả gan làm như vậy. Nữ thần sau đó chiếm lấy tên anh ta, như một lời cảnh cáo cho những kẻ khác. Pallas Athena không phải là người đàn bà mà một gã đàn ông có thể đùa bỡn được.

Sinh vật được Athena bảo trợ là con cú. Loài chim săn mồi này nổi tiếng vì khả năng nhìn rất tinh của nó, thậm chí trong cả bóng tối. Mắt cú chứa những chức năng tốt nhất của cả tế bào hình nón lẫn tế bào hình que, xin mở ngoặc đơn, cũng là những chức năng của bán cầu trái và phải. Cú là một trong số ít loài hiếm hoi trong toàn bộ vương quốc cầm thú có khả năng quay đầu để nhìn thành một vòng tròn trọn vẹn 360 độ: nó có khả năng nhìn được về phía sau lưng để thấy những gì đã qua đi, cũng như nhìn tới phía trước để thấy cái gì đang đến. Và như vậy, con cú già khôn ngoan là linh vật hoàn hảo để thờ Athena.

Sau khi bộ não được tách ra làm đôi, sinh ra minh triết, Zeus còn làm cha hai vị thần nữa, Dionysus và Apollo, những người ra đời đại diện cho hai mặt rất khác biệt nhau trong tâm hồn con người. Mặc dù Dionysus là vị thần cuối cùng đạt được vị thế của một cư dân trên đỉnh Olympus, nhưng có thể coi Dionysus là người đầu tiên, vì cái nhìn của vị thần này là nguyên sơ hơn tất cả. Phù hợp với mối liên hệ chặt chẽ tới hệ limbic cổ xưa hơn của bộ não, giống như Athena, Dionysus cũng được sinh ra từ một phần của cơ thể. Nhưng nếu như Athena đã ra đời từ bộ não của Zeus, thì Dionysus lại sinh ra từ bẹn của chúa tể các thần.

Trong thần thoại, Zeus thèm khát đến mê mệt cô gái xinh đẹp Semele ở dưới trần, người chỉ chiều theo dục vọng của Zeus với một điều kiện là Zeus phải ban cho nàng một điều ước. Bừng bừng lửa thèm muốn, Zeus đã đồng ý, và Semele sau đó có thai Dionysus. Khi Semele mang thai đến tháng thứ bảy, Zeus đến thăm và Semele thỉnh cầu Zeus thực hiện lời hứa của mình. Thoạt đầu chúa thần đồng ý, nhưng khi nàng nói với Zeus rằng nàng muốn nhìn thấy Zeus không phải dưới dạng người mà là dưới dạng một vị thần, Zeus cáu kỉnh, rồi sau đó van nài nàng hãy ước một điều gì khác. Zeus giải thích, không một người trần mắt thịt nào có thể nhìn thấy được Zeus hiển hiện chân thân trong đầy đủ lễ phục chúa thần huy hoàng mà lại sống sót cả. Semele khăng khăng không chịu và bắt Zeus phải giữ lời hứa.

Miễn cưỡng, Zeus biến mình trở lại dạng thần tràn đầy oai linh, đùng đùng sấm sét sáng lòa vây quanh, và Semele chết cháy trong quầng sáng nóng trắng tỏa ra từ đó. Xót xa trước kết cục thảm thương của người con gái, Zeus đã dứt Dionysus còn thiếu tháng từ trong bụng mẹ, bắt Hermes khâu cái thai nhi ấy vào trong bẹn của chính mình, nơi nó tiếp tục được nuôi lớn lên trong hai tháng còn lại. Được hoài thai sát cạnh cơ quan sinh dục của chúa thần, bản chất tính cách của Dionysus đã định hình theo đó. Dionysus là vị thần của hoan lạc, của các cuộc tiệc tùng truy hoan, tràn trề rượu chè và nhảy múa. Đạo thờ Dionysus là phản đề của các nghi lễ tôn thờ trí tuệ. Dionysus là vị phù thủy mang đầy nghịch lý của khoái cảm và đau đớn, vẻ đẹp và sự tàn bạo, thiên tài và sự điên rồ, sung sướng đê mê và khiếp hãi kinh hoàng.

Những hình ảnh xuất hiện trong các giấc mơ và các cơn ác mộng của chúng ta - thần rừng đầu người mình dê, các nữ thần cỏ cây trẻ trung hấp dẫn, con ngoáo ộp đuôi rắn mình dê đầu sư tử - tất cả đều có thể thấy trong một buổi lễ tế Dionysus. Thần được ràng buộc mật thiết với sự sinh sôi, con rắn và con cừu đực, hai biểu tượng của dương vật, là hai con vật nằm dưới sự che chở của thần. Theo những người Hi Lạp cổ đại, sự sống hồi sinh mỗi mùa xuân là nhờ có linh khí của Dionysus. Thần đã cho con người biết được những trạng thái bị biến đổi của ý thức bằng cách dạy cho họ trồng nho. Trong đoàn tùy tùng của Dionysus có các nàng Muse của tất cả các nghệ thuật. Dionysus tính khí thất thường và ít lời. Được gắn với mặt trăng và được tượng trưng bằng chiếc mặt nạ, Dionysus là một tình nhân, chứ không phải là một chiến binh, hấp dẫn các tín nữ bằng sự tồn tại của chính mình, chứ không phải bằng cách ra tay nam nhi hành động thông thường. Mặc dù không đầy trí tuệ, nhưng thần sáng suốt: linh cảm, phỏng đoán may mắn, kiến thức trực giác đều là những phần thuộc lãnh địa của thần. Các thuộc tính của Dionysus chính là các tính chất của não phải.

Người con cưng nhất của Zeus, Apollo lạnh lùng và điềm đạm, là đối cực ngược hẳn với Dionysus em mình. Apollo, “người ngời sáng”, thần mặt trời, là vị thần của suy lí, khoa học, y học, luật và triết học. Là một chiến binh nghiêm nghị, không bao giờ đùa bỡn, Apollo đã đạt được quyền năng quan trọng nhất của mình khi lấy được món quà tiên tri, bằng cách chiếm ngôi đền thiêng ở Delphi từ Pan, một vị thần tiền thân của Dionysus, giống Dionysus đến kinh ngạc.

Ngôi đền thiêng ở Delphi đã trao cho các nữ tu đồng trinh ở đó cái quyền năng quan trọng siêu việt là nhìn thấy tương lai. Để có thể kiểm soát được ngôi đền tiên tri, Apollo phải giết con mãng xà khổng lồ Python, một con vật thiêng của Dionysus. Thần đã thực hiện chiến công này bằng một thứ vũ khí mới do thần sáng tạo ra - cây cung tên. Truyền thuyết này là một phúng dụ tinh tế về việc não trái lấn át mạnh mẽ đã giành được thế trội như thế nào so với phần đối diện hình thành sớm hơn của nó. Nó cũng phảng phất tiếng vang của câu chuyện về Adam, Eve và con rắn. Kinh Cựu Ước đã ngụ ý về mối liên hệ giữa sự hiểu biết, quả táo và con rắn. Trong tiếng Hi Lạp, một từ phái sinh từ cái tên Apollo là từ apple “quả táo”.

Tiên đoán tương lai, cái raison d’être[7] của một nhà tiên tri, mang tính quan trọng sống còn đối với khoa học, công nghiệp và quân sự. Một lý thuyết khoa học chỉ trở thành định luật nếu như nó có thể tiên đoán chính xác kết quả của thực nghiệm. Phố Wall đang nhan nhản thầy bói dự đoán các trào lưu lên xuống của thị trường tài chính tương lai - với kết quả kém xa thành công của nhà nữ tiên tri ở Delphi của Hi Lạp cổ đại. Một nhà chiến lược quân sự thành công sẽ dự đoán được chính xác phía địch sẽ làm gì trong trận chiến. Vì vậy, sau khi chiếm được quyền kiếm soát Delphi từ thần rừng Pan và bản sao của thần là Dionysus, không có gì là ngạc nhiên là Apollo đã trở thành vị thần bảo trợ cho những nỗ lực của con người trong các lĩnh vực này.

Các nhà triết học Hi Lạp, được giao trách nhiệm tách tư duy của con người ra khỏi các vướng mắc lẫn lộn của nó với những tin tưởng phi lí, cảm thấy có một mối quan hệ thân thuộc với Apollo, bởi vì Apollo là vị thần đã suy nghĩ thấu suốt mọi sự vật. Suy nghĩ hợp lí, logic, thuyết trình có cân nhắc là đặc điểm của bản chất Apollo. Qua các tác phẩm của mình, Plato, hơn tất cả các nhà triết học khác, đã tôn vinh những phẩm chất Apollo ấy. Bác sĩ phương Tây bắt đầu lời thề Hippocrates[8] của mình bằng câu: “Trước Apollo, tôi xin thề..”.. Bởi vì Apollo đem luật pháp đến cho con người, nên Apollo là vị thần bảo trợ cho các luật sư và thẩm phán. Sau khi Prometheus đem bảng chữ cái đến cho con người, Apollo trở thành thần che chở cho nó. Người Hi Lạp tôn sùng cái bộ mã đơn giản này, nó đã trở thành chìa khóa để chuyển lời nói vô hình thành một dạng thức im lặng, nhìn thấy được.

Vị thần nghiêm trang này là mẫu mực của nguyên lý nam tính, không thể tiếp xúc được với của đối ngẫu nữ tính của mình. Tình yêu và sự lãng mạn dường như lảng tránh Apollo. Ví dụ như khi Apollo cố gắng tán tỉnh nàng Daphne xinh đẹp, thần đã thực sự không thể đụng được vào nàng: ghê sợ những sấn sổ của Apollo, Daphne đã biến thành một cây nguyệt quế và vĩnh viễn trốn thoát. Tương tự như vậy, Dionysus đã không có đường đến được sự phân biệt rạch ròi duy lí, mà vì thiếu nó thần đã mãi mãi bị buộc vào lời nguyền chỉ thực hiện được những trò nhục cảm vô đạo đức.

Các mặt tối của Dionysus và Apollo lần lượt tượng trưng cho mối nguy và sự tuyệt sinh của việc phân vùng hóa bán cầu não một chiều. Hai anh em không thể nào so sánh được với nhau này đã chẳng có gì chung nhiều nhặn cho lắm trong những chiến công thần thoại của họ. Vậy mà người Hi Lạp vẫn công nhận sự bổ sung cho nhau của hai người. Theo thần thoại, Apollo sống ở Delphi chín tháng trong năm. Sau đó thần ra đi, để Dionysus trị vì trong ba tháng. Hơn thế nữa, xương của Dionysus được chôn dưới chân bệ thờ chứa thánh cốt của Apollo ở Delphi. Bất chấp ác cảm đối với nhau được che đậy, cả hai đều chung nhau một lãnh địa chủ chốt: Apollo và Dionysus đều là các thần bảo trợ cho âm nhạc.

Người Hi Lạp công nhận có hai loại âm nhạc khác nhau, bởi vì đúng vào lúc triết học duy lý và nghệ thuật duy lý ra đời trong Hi Lạp cổ đại, tách khỏi mê tín dị đoan và chủ nghĩa nguyên thủy thô sơ, thì âm nhạc cũng được phân vùng hóa. Khát khao tình dục là động lực đã tạo nên nhạc cụ đầu tiên. Pan, vị thần đầu người mình dê và nguyên mẫu cho Dionysus, đặc biệt si mê giọng nói ngân nga như hát và vẻ quyến rũ của nàng Syrinx, một trong số các nữ tư tế của thần Dionysus, Pan chết mê chết mệt Syrinx, nhưng nàng lại không đáp lại tình cảm đó và chạy trốn khỏi sự chú ý của Pan, nấp sau đám sậy nước. Đúng vào lúc Pan sắp sửa tìm được nơi Syrinx lẩn trốn, như có phép thần, nàng đã biến thành một ống sậy và vĩnh viễn biến mất. Khi nhận biết được điều gì đã xảy ra, Pan vô cùng buồn bã vì tình yêu không được đáp lại. U sầu, Pan ngồi xuống bên bờ nước và cắt sậy thành những đoạn dài ngắn khác nhau, ghép lại thành một chiếc kèn ống, và thổi lên những âm thanh đầu tiên của cái sẽ trở thành một chuỗi dài những bản tình ca bi thương. Nguồn gốc những bài ca đầy ám ảnh của Pan sẽ luôn luôn được người ta nhớ: thuật ngữ giải phẫu học chỉ cơ quan phát ra tiếng hót của loài chim, tương tự như thanh quản (larynx) của loài người, là minh quản, syrinx. Dionysus thừa hưởng cây kèn ống của Pan và nhạc cụ bộ hơi trở thành biểu tượng cho âm nhạc kiểu Dionysus.

Âm nhạc kiểu Dionysus có một đặc tính làm mê đắm thôi miên người nghe. Những nhịp điệu nguyên sơ man dã của nó có thể kích thích các nữ tư tế thờ Dionysus, phát cuồng lên trong một cơn điên dại giữa nửa đêm, tràn ngập âm nhạc và múa may, kết thúc bởi nghi lễ tàn bạo xẻ vụn vật sống tế thần có thể là một con người hay một con thú. Sau khi đã xé nát vật tế thần, tất cả tín đồ đều lấy máu của nó trát lên khắp người mình. Các lễ hội tụ tập phù thủy đêm Sabbat và Walpurgisnacht đều có nguồn gốc từ nghi lễ tế thần Dionysus này[9].

Apollo ghét cay ghét đắng âm nhạc kiểu Dionysus và thay vào đó, thần chọn một phong cách nghiêm túc, trầm tư. Nhạc cụ của thần là cây đàn lyre, tiền thân của các loại đàn hạc, violon và viola ngày nay. Cây đàn lyre của Apollo luôn luôn có bảy dây, tượng trưng cho bảy nguyên âm của bảng chữ cái. Âm nhạc kiểu Apollo tạo ra môi trường thích hợp cho suy tư, bởi vì nó êm ái, có trật tự, là thuốc giải độc đối với các nhịp điệu kích động của Dionysus. Plato, một người cổ suý nhiệt tình cho âm nhạc kiểu Apollo, hiểu rõ ảnh hưởng gây bất ổn của các nhạc cụ hơi của Dionysus, đã từng ban ra một nghị định lệnh rằng trong nước Cộng hòa của ông, chỉ những nhạc cụ bộ dây của Apollo mới được phép chơi, Plato tin rằng các loại sáo hơi, kèn ống, tù và của Dionysus là các nhạc cụ xúi giục nổi loạn.

Thậm chí cho đến ngày nay, vẫn còn tồn tại hai kiểu thức âm nhạc đối lập nhau đại diện cho Dionysus và Apollo. Không phải tình cờ mà trong tất cả các giàn nhạc giao hưởng, các nhạc cụ bộ dây, cháu con của cây đàn lyre, lại được gắn kèm với sự nghiêm trang và tôn trọng, qua việc chúng được xếp ở phía trước, trong khi đó bộ hơi bằng gỗ và bằng sừng thì bị bố trí ở phía sau. Tuy nhiên, điều ngược lại cũng đúng như vậy đã xảy ra với một dàn nhạc jazz, một hình thức âm nhạc của Dionysus, nơi mà các cây kèn clarinet, saxophone và trumpet kiêu hãnh đứng ở phía trước, còn chiếc đàn guitar bass, thường là nhạc cụ bộ dây duy nhất, được đặt đơn độc ở phía sau cả về vị trí lẫn vai trò.

Apollo đại diện cho tất cả những thuộc tính mà các nhà khoa học thần kinh hiện đại gán cho bán cầu não trái. Ngược lại, Dionysus là hiện thân hoàn toàn đúng về tất cả những đặc tính của bán cầu não phải. Đoàn tùy tùng của Dionysus gồm có âm nhạc, kịch, múa, thơ, hội họa và điêu khắc. Apollo trị vì khoa học, quân sự, công nghiệp, giáo dục, y học, luật và triết học. Dionysus là hình mẫu của nghệ sĩ, cũng như Apollo là hình mẫu của nhà vật lí.

Chưa có được những thành quả của khoa học hiện đại, nhưng người Hi Lạp cổ đã biết gán cho hai vị thần khác nhau rất lớn này những nét đặc trưng điển hình của hai bán cầu tách nhau của não. Khám phá của các nhà khoa học thần kinh hiện đại về các chức năng bất đối xứng của hai bán cầu não đã khẳng định việc phân chia chức năng não người của thần thoại Hi Lạp. Bản chất kép của trí tuệ-tâm hồn não người đã hiển lộ hầu như không giấu nổi trong các thần thoại cổ. Nhân cách đối lập nhau của Dionysus và Apollo, với sự biết trước mang tính tiên tri, đã xác định những sự khác biệt giữa hai nửa phải và trái của bộ não, tương tự như những gì giữa nghệ thuật và vật lí, không gian và thời gian.

Chú thích

  1. Theo thần thoại Hi Lạp, Oedipus là Con trai của Laius và JoCàstà, vua và hoàng hậu xứ Thebes. Vì không rõ lai lịch của nhau sau một thời gian dài lưu lạc nên Oedipus đã vô tình giết cha và lấy mẹ. Trong tâm lý học, mặc cảm Oedipus dùng để chỉ nhóm tình cảm phức tạp, thường là vô ý thức của con trai nhỏ, say mê, muốn sở hữu mẹ, ghen ghét ganh tị với cha. Tương tự như vậy là mặc cảm Electra: Electra là con gái của vua Agamemnon và Clytemnestra. Sau khi Clytemnestra và tình nhân là Aegisthus ám hại Agamemnon, Electra đã thuyết phục em trai là Orestes giết mẹ và tình nhân của mẹ để trả thù. -ND
  2. Nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky gần đây cũng đưa ra ý tưởng tương tự, cho rằng chúng ta ra đời đã có kiến thức về cú pháp của ngôn ngữ trước khi chúng ta học thứ tiếng ấy.
  3. Sợi chỉ xuyên suốt câu chuyện này là một đơn thần thoại. Một người con trai, được nuôi dưỡng lớn lên trong bí mật bởi nỗi sợ hãi hay căm giận người cha, sau này lên làm vua là câu chuyện về Moses trong đám sậy, về Oedipus, Perseus, Theseus, Romulus, Cyrus và nhiều nhân vật thần thoại khác.
  4. Plato, trong tác phẩm Tiểu luận của mình, đã kể lại một phiên bản của nhà viết kịch Aristophanes về sự kiện trọng đại này. Khi Prometheus, tự hào với sáng tạo mới có bốn chân, bốn tay, hai đầu của mình, đem nó ra khoe với Zeus, thì vị chúa tể của các thần tỏ ra lo lắng. Ông sợ hãi trước sức mạnh có thể có của cái loài mới hùng mạnh này và nói với Prometheus đang cụt hứng rằng một loài như vậy có thể thách thức được quyền cai trị của các thần. Tuy nhiên, Zeus đã nghĩ ra một giải pháp. Ông bảo Prometheus tách đôi tạo vật ấy ở chính giữa, gọi nửa này là "đàn ông" và nửa kia là "đàn bà". Zeus khôn ngoan vạch ra cho Prometheus thấy rằng do bị tách ra làm hai như vậy, mỗi nửa sẽ bỏ ra cả đời mình để đi tìm nửa kia và công sức dành cho chuyện ấy sẽ giảm đi mối đe dọa của chúng đối với các thần trên đỉnh Olympus.
  5. Một nhân vật khác nữa trong thần thoại Hi Lạp lúc ra đời đã lớn hoàn toàn là Aphrodite, nữ thần của tình yêu nhục cảm. Vì khát khao tình dục chín muồi chỉ bắt đầu có ở tuổi vị thành niên, cho nên rất hợp lý về mặt thần thoại khi Aphrodite đã xuất hiện trong hình dạng một Cô gái trẻ trung, khêu gợi.
  6. Khác với những quan niệm trước đó cho rằng sự tiến hóa là một quá trình diễn ra chậm rãi liên tục, nhà tiến hóa học Stepen Jay Gould đã đưa ra giả thuyết rằng trong một số dịp, quá trình tiến hóa đã tăng tốc theo một bước nhảy vọt lượng tử thực sự.
  7. Raison d’être: Lý do tồn tại, lẽ sống. - ND
  8. Hippocrates (?460-?377 trước CN); Thầy thuốc Hi Lạp cổ đại, được coi là ông tổ của ngành y. Các thầy thuốc khi tốt nghiệp ra trường đều làm lễ tuyên thệ tuân theo bộ luật về y đức bắt nguồn từ thời của Hippocrates. - ND
  9. Sabbat hay Sabbath: Một cuộc tụ tập hội hè nửa đêm của các nữ phù thủy, có sự tham dự của quỷ Satan, thường tổ chức ở những vùng rừng núi khuất nẻo ở các nước châu Âu, không có ngày nhất định. Walpurgisnacht (Đêm Walpurgis): Lễ hội đón mùa xuân của nhiều nước Bắc và Trung Âu, tổ chức vào đêm 30/4 và 1/5 hằng năm. - ND

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nghệ thuật và vật lý
  • Tác giả: Leonard Shlaintli Bach
  • Biên dịch: Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều
  • Nhà xuất bản tri thức
"Like" us to know more!