Dạy trẻ và giảng lại bài cho trẻ

Chương V: Dạy trẻ và giảng lại bài cho trẻ

1. Chúng ta là cha, anh và không có cái gì liên quan tới con em, mà chúng ta không biết

Như tôi đã nói, ở nhà dạy thêm cho trẻ thì trẻ mau tấn tới lắm, nhưng phải biết cách dạy, nếu không, hại nhiều hơn lợi. Trong chương này, tôi sẽ chỉ ít qui tắc căn bản nên nhớ và những cách giảng bài học, bài làm về mọi môn. Tất nhiên là tôi sẽ vắn tắt, chỉ kể những điều quan trọng vì tồi không có ý viết một cuốn sư phạm mà chắc các bạn cũng không muốn tập cái nghề gõ đầu trẻ. Chẳng qua, muốn làm tròn bổn phận làm cha, làm anh thì ta phải biết sơ lược phương pháp dạy trẻ.

2. Những lỗi nên tránh

  • Trước hết, xin bạn nhớ rằng nếu trẻ đã đi học thì ở nhà ta chỉ giảng lại bài cho trẻ thôi, nghĩa là ở lớp, trẻ phải chăm chú nghe lời giảng của thầy rồi có chỗ nào chưa hiểu rõ, mới giảng thêm.
  • Những môn nào trẻ đủ sức theo nổi thì không cần giảng lại; đừng cho chúng ỷ lại vào ta, phải để chúng gắng sức tìm hiểu lấy.
  • Về bài làm, bạn chỉ nên gợi ý cho trẻ để trẻ tự tìm hiểu; đừng bao giờ “gà” cho chúng.

- Đừng bao giờ hỏi trẻ: “Con hiểu bài này không?”. Chúng sẽ luôn luôn đáp rằng hiểu, hoặc vì sợ ta rầy, hoặc vì tưởng là hiểu mà kỳ thực không hiểu. Phải hỏi chúng về đại ý trong bài, về những chữ khó. Riêng về Toán, Vật lý, Hóa, lặp lại được ý trong bài chưa chắc đã là hiểu, còn phải biết áp dụng những điều đã học nữa.

  • Luôn luôn tự đặt ta vào cái tuổi của trẻ, đừng giảng những điều quá cao. Khi chúng ta không phải là nhà mô phạm thì chúng ta thường mắc tật ấy lắm. Giảng một bài về vua Quang Trung cho trẻ lớp nhì, ta có thể cao hứng nói một thôi một hồi về sự giao thiệp của Nguyễn Huệ với La Sơn phu tử mà ta mới đọc được trong một cuốn của Hoàng Xuân Hãn; hoặc dạy về đường xe ở Nam Việt cho học sinh lớp nhất, ta có thể hăng hái khen công việc làm đường, xây cầu của dân La Mã hồi xưa...

3. Hai phương pháp dạy

Có hai phương pháp dạy:

- Theo phương pháp qui nạp: ta phải đi từ những sự thực riêng biệt tới một luật chung; như dạy văn phạm thì đưa ra điều thí dụ, rồi từ những thí dụ đó mà kiếm ra một qui tắc.

- Theo phương pháp diễn dịch thì ngược lại ta đi từ một luật chung đến những sự thực riêng biệt, như về môn Hình học ta học cách chứng minh một định lý nào rồi áp dụng định lý ấy để làm các bài toán.

Phương pháp trên hợp với trẻ ở ban Tiểu học hơn phương pháp dưới chỉ nên dùng cho những trò lớn ở ban Trung học.

4. Hai cách dạy

Có nhiều cách dạy mà hai cách chính là thuyết minh và hỏi.

Chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong lớp, giảng cho học sinh về một vấn đề nào đó, thao thao bất tuyệt theo một bố cục đã định trước, như vậy là thuyết minh. Cách ấy chỉ có kết quả khi học sinh biết ghi chép đại ý, nên chỉ dùng trong ban Đại học.

Còn cách sau là cách đặt những câu hỏi để học sinh suy nghĩ, tự tìm ra chân lý. Cách này tốn công, nhưng có nhiều lợi:

- làm cho lớp học vui.

- cho học sinh tập nói, tập suy nghĩ.

- do đó, học sinh dễ nhớ và nhớ lâu.

Muốn có kết quả, ông thầy phải nghĩ trước sao cho câu hỏi được rõ ràng, rành mạch, theo một thứ tự hữu lý, hợp với trình độ học sinh và nhất là phải đủ thì giờ cho học sinh suy nghĩ, đừng hỏi xong rồi tự mình đáp liền. Cuối bài, nên tóm tắt những điểm chính để học sinh thấy sự liên lạc giữa các ý.

Tuy nhiên, có những môn như Sử ký, Địa lý, không thể luôn luôn áp dụng cách hỏi được. Chẳng hạn, trẻ chưa học về xứ Ấn Độ thì dù hỏi cả chục lần, cho suy nghĩ hàng giờ, trẻ cũng không sao kiếm được tên những sông, núi xứ đó.

Vậy bạn nên tùy trường hợp mà áp dụng hai cách đó và nên nhớ rằng phương pháp tự nó không có giá trị, chính nhờ sự thông minh, quyền biến của ta mới làm cho nó có giá trị.

Tôi nhớ một giáo sư Việt ngữ nọ khoe với tôi là nói luôn miệng trong lớp, nói tới lở miệng (hồi xưa, Bạch Cư Dị học tới lở miệng, thời nay có người dạy tới lở miệng!). Ông ăn nói rất hoạt bát, học sinh nghe ông giảng bài tất thú lắm, nhưng tấn tới thì tôi chắc là không sao tấn tới được vì thầy suy nghĩ giùm cho học trò rồi, trò có phải vận dụng óc nữa đâu.

Cách đây non ba chục năm, một giáo sư khác dạy chúng tôi thi vào trường Trung học Bảo hộ, nhân một bài thơ của Leconte de Lisle mà bỏ ra một giờ rưỡi và đốt hết chín, mười điếu thuốc thơm để giảng cho chúng tôi về danh từ art (nghệ thuật). Tôi không còn nhớ ông nói những gì, nhớ làm sao nổi? - chỉ nhớ già nửa lớp thiu thiu ngủ trong khi lời ông cuồn cuộn tuôn ra như nước sông Hồng Hà trong mùa lụt vậy.

Dạy học không phải là diễn thuyết, xin bạn nhớ kỹ điều ấy.

5. Dạy trẻ tập đọc

Trong cuốn “Thế hệ ngày mai” tôi đã chỉ một phương pháp mới mẻ và vui để dạy trẻ tập đọc, tức phương pháp tổng quát của Decroly[1].

Phương pháp ấy đã có thời bành trướng ở Âu Mỹ và nhiều nhà giáo đã dung hòa hai lối dạy cũ và mới: dùng phương pháp tổng quát trong những bài đầu tiên dạy trẻ đọc rồi sau dùng phương pháp phân tích, cho trẻ đảnh vần.

Ở Nam Việt, nữ sĩ Hợp Phố đã thử dùng cách dung hòa ấy. Nhưng tới nay bà vẫn chưa rút kinh nghiệm rồi công bố trên báo chí cho đồng bào biết. Tôi ngờ rằng cách đó không có lợi gì lắm.

  • Ta nên tập cho trẻ phát âm đúng giọng, nghĩa là phân biệt s, x, ch, tr, at, ac, an, ang... để trẻ dễ nhớ chính tả.

Vẫn còn một số nhà giáo cho uốn lưỡi khi đọc chữ s, chữ r là “theo Nam”, hoặc phân biệt v với d là “theo Bắc”, là lập dị, lố bịch... nhưng chẳng bao lâu nữa, họ sẽ phải tự nhận rằng tinh thần địa phương ấy rất hẹp hòi.

  • Ta nên tập cho trẻ biết đọc một cách thông minh, nhấn vào những chữ cần nhấn, biết ngừng hợp chỗ, chỗ đọc mau, chỗ đọc chậm, chỗ lên giọng, chỗ xuống giọng, chỗ nên vui, chỗ nên buồn... Nếu đọc sai thì đợi trẻ đọc hết câu rồi hãy đọc lại cho trẻ bắt chước; đừng bao giờ ngắt lời trẻ ở giữa câu.
  • Điều cần nhất là phải cho trẻ đọc nhiều để khi lên lớp nhì, trẻ đọc được nhanh rồi và thấy thích đọc sách; có vậy, học hết ban Tiểu học, dù không được tiếp tục học nữa và có quên hết những điều đã dạy ở trường thì công của ông thầy cũng không đến nỗi thành công dã tràng; trẻ đã thích đọc sách, tất sẽ tìm cách để đọc và óc chúng sẽ nhờ đó, lần lần mở mang thêm.
  • Công việc giảng văn nên để cho nhà trường, nhưng một đôi khi gặp một bài hay, bạn cao hứng muốn giảng cho trẻ thì nên theo cách sau này:

- cho trẻ đọc chầm chậm một hai lần, nếu trẻ hiểu đại ý bài thì bài đó là vừa sức trẻ;

- tìm những chữ khó trong bài mà hỏi nghĩa, nếu trẻ không hiểu thì giảng nghĩa; nghĩa gốc và nghĩa trong bài;

- khi trẻ đã hiểu trọn bài rồi, bạn hỏi trẻ: tác giả viết bài đó để làm gì? Ông có đạt mục đích đó không? Ông đã lý luận ra sao? Dùng phép hành văn nào?

- sau cùng, bảo trẻ tóm tắt đại ý và cho biết cảm tưởng khi đọc bài đó ra sao.

Nhiều nhà giáo biến một bài giảng văn thành một bài ngữ pháp (nghĩa là từ đầu giờ đến cuối giờ chỉ bảo trò phân tích, hết tự loại đến mệnh đề), hoặc một bài dụng ngữ (nghĩa là chú trọng vào sự giải nghĩa các tiếng khó rồi bảo làm câu bằng những tiếng ấy). Như vậy là sai phương pháp: bài giảng văn trước hết phải có mục đích dạy trẻ hiểu cái đẹp của văn đã; dù có giảng ngữ pháp hay dụng ngữ thì cũng chỉ là để giúp trẻ hiểu rõ ý nghĩa cùng cách hành văn trong bài thôi.

  • Bạn hỏi tôi nên lựa sách nào cho trẻ đọc? Thưa bạn, sách Pháp thì vô số mà sách Việt thì rất hiếm.

Lựa sách cho trẻ dưới mười tuổi thì từ trước tới nay tôi vẫn chỉ thấy loại sách hồng của Tự lực văn đoàn là hơn cả. Gần đây vài nhà cho xuất bản những truyện cổ tích hoặc những truyện lạ có vẽ hình, song phần nhiều chính tả sai, văn lại kém, chỉ có thể gọi là dùng tạm được thôi.

Còn sách cho thiếu niên như loại Bibliothèque verte, Bibliothèque rose... của Pháp thì bên mình thiếu hẳn; mà loại kiếm hiệp thì nhan nhản. Tại sao vậy? Tại thiếu niên không ham đọc sách bổ ích hay tại nhà văn nước mình không có tài viết?

6. Dạy trẻ tập viết

Dạy trẻ tập viết thì mới đầu nên cho trẻ tô những chữ ta đã viết trên bảng đá, rồi sau mới viết trên giấy.

Nên dạy theo thứ tự sau này:

1. i u t

2. n m r v p

3. coadđqex

4. y g

5. 1 h k b

6. s z

Phải tập cho trẻ ngồi ngay ngắn và cầm bút cho hợp phép.

Hồi xưa các cụ trọng sự tập viết lắm và công phu tập viết của các cụ cũng gần bằng công phu luyện văn. Bây giờ môn tập viết là một môn phụ, không mấy nhà giáo để ý tới. Đó là một sự thiếu sót trong nền giáo dục hiện hành.

7. Dạy Việt ngữ và ngoại ngữ

Ta nên nhớ rằng ngữ pháp không phải là một mục đích mà chỉ là một phương tiện. Trẻ học môn đó để biết viết đúng, biết tự sửa câu văn, chứ không phải để thuộc tên các tự loại và các mệnh đề.

Về ngữ pháp Việt Nam, mỗi nhà chủ trương một khác và những sách ngữ pháp dạy trong các trường sẽ phải sửa đổi nhiều cho họp lý. Vậy ta đừng bắt trẻ chú trọng đến môn đó quá.

Không nên dùng phương pháp diễn dịch trong khi dạy ngữ pháp: phải đưa ra nhiều thí dụ rồi mới vạch qui tắc sau. Để trẻ tự tìm hiểu lấy qui tắc thì trẻ học vui hơn và nhớ lâu hơn.

  • Về môn dụng ngữ, tại các lớp dưới (dự bị, sơ đẳng) chỉ nên dạy những tiếng cụ thể như tên những loài vật cùng đồ dùng mà trẻ trông thấy hoặc ở ngoài, hoặc ở trong hình. Đợi trẻ lên các lớp trên, hãy dạy những tiếng trừu tượng.

Khi dạy tiếng mới, nên dạy luôn những tiếng có liên lạc xa gần với tiếng ấy, chẳng hạn dạy tiếng Nam là phương Nam thì dạy cả:

- những tiếng chỉ các phương khác: Bắc, Đông, Tây.

- những tiếng cùng dòng với tiếng Nam, như nôm, nồm;

- những tiếng đồng âm: nam (con trai)...

Phải hiểu cách dùng mỗi tiếng rồi mới có thể nói là biết rõ tiếng đó. Vậy luôn luôn bảo trẻ làm một vài câu với tiếng (nhất là động từ, trạng từ) mới học.

  • Học sinh nào cũng ghét môn chính tả. Điều ấy rất dễ hiểu: học môn đó chán lắm, nhất là chính tả Pháp.

Nếu trẻ tập phát âm đúng giọng từ hồi nhỏ thì khỏi phải học chính tả, cứ phát âm làm sao, viết làm vậy, như trường hợp các bạn ở Nam Việt viết những tiếng có s, x, ch, tr... trường hợp ở Bắc Việt về các tiếng có dấu hỏi, dấu ngã, có c hoặc t ở đằng sau...

Chính tả Việt so với chính tả Pháp dễ học hơn nhiều: ta không có phần chính ngữ pháp mà chỉ có phần chính tả tự dạng. Trước sau học độ 1.000 tiếng là đủ dùng rồi vì có nhiều tiếng không cần phải học chính tả. Về các dấu hỏi và ngã, học chừng hai, ba trăm tiếng có dấu ngã là mười lần bỏ dấu trúng được tám, chín rồi.

Biết nguồn gốc của mỗi tiếng thì dễ nhớ chính tả của nó. Một lần, lại Sở bưu điện Long Xuyên, tôi thấy hai thầy ký cãi nhau về chữ “vuông” (là bốn góc bằng nhau); thầy bảo có g, thầy bảo không. Hai thầy hỏi tôi, tôi đáp:

- Vuông do tiếng Hán phương mà ra, phương có g, thì vuông cũng có g.

Từ đó hai thầy ấy không bao giờ quên chính tả chữ vuông nữa.

  • Đừng bắt trẻ viết một tiếng mà chúng chưa biết chính tả, vì nếu chúng viết sai, hình ảnh sai đó sẽ in sâu trong óc chúng, sau này sửa lại rất khó.

Cho nên khi dạy chính tả, phải viết những tiếng trẻ chưa biết cho trẻ thấy (dùng mắt), đọc lớn tiếng cho trẻ nghe (dùng tai), bảo trẻ đọc lại đúng giọng (dùng miệng), và chép lại cẩn thận (dùng tay); như vậy nhiều lần, trẻ sẽ nhớ.

Rồi vài hôm sau mới đọc một bài ám tả có những tiếng mới học đó để kiểm soát xem trẻ có nhớ không.

Nên bảo trẻ chép những tiếng mới học vào một sổ tay rồi thỉnh thoảng lật ra coi lại. Trẻ chép xong thì bạn phải xem lại ngay và sửa lỗi, nếu không, trẻ sẽ ghi sâu vào óc hình ảnh những lỗi đó và viết sai hoài.

Tôi có cần dặn bạn chỉ lựa những sách viết trúng chính tả cho trẻ đọc không? Biết bao lần tôi bực mình về những lỗi chính tả trên sách, báo. Tôi vẫn biết sử dụng viết với s, mà đọc báo thấy nhan nhản những chữ xử dụng, riết rồi quen mắt đến nỗi có lần viết chữ đó, tôi vô tình hạ bút cũng viết xử.

Từ đó, mỗi khi viết chữ sử dụng, tôi phải ngừng lại nhẩm: sửsai khiến, sai viết s thì sử cũng s.

Sách, báo in sai chính tả có hại cho người lớn chúng ta như vậy thì đối với trẻ còn hại gấp mấy nữa.

  • Những qui tắc trên có thể áp dụng được khi dạy ngoại ngữ, như tiếng Pháp, tiếng Anh... Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ có nhiều đặc điểm thì cách dạy cũng có chỗ khác; chẳng hạn học tiếng Pháp phải chú trọng nhất đến động từ, đại từ là những phần khó học; học tiếng Anh thì cách phát âm quan hệ nhất, khó hơn ngữ pháp nhiều.

Tôi không thể kể hết những đặc điểm đó ra đây, chỉ xin nhắc bạn:

- tập cho trẻ so sánh ngữ pháp của các ngôn ngữ cho dễ nhớ,

- khi dạy một động từ thì luôn luôn cho trẻ học cả một câu có động từ ấy,

- bắt trẻ nói nhiều và viết nhiều, chứ chỉ chuyên học ngữ pháp và dụng ngữ, không ích gì mấy.

8. Dạy Ám độc

Trước khi cho trẻ học một bài Ám độc, phải biết chắc rằng trẻ đã hiểu kỹ và biết đọc có giọng đàng hoàng.

Cho trẻ học câu đầu, thuộc rồi mới qua câu thứ nhì...

Nếu bài dài hoặc khó học thì trẻ học làm nhiều lần, mỗi lần mười lăm phút thôi. Trẻ học trước khi đi ngủ, sáng dậy đọc lại vài lần, sẽ mau thuộc và nhớ lâu hơn là học vào những lúc khác.

9. Dạy Sử ký

Có hai cách dạy Sử ký:

- Một là cách thuyết minh mà tôi đã nói qua ở trên;

- Hai là cho trẻ học trong sách rồi giảng thêm và phê bình.

Cách sau phù hợp với học sinh ban Tiểu học hơn. Dù theo cách nào thì sau khi giảng hết bài rồi cũng nên hỏi trẻ ít câu xem trẻ có hiểu, nhớ được gì không, rồi bảo trẻ tóm tắt lại bài.

Bạn nên:

- chỉ những chỗ quan trọng cho trẻ nhớ;

- giảng những liên quan nhân quả giữa các sự kiện lịch sử;

- chú trọng đến tình cảnh, đời sống của dân gian của nền văn hóa trong mỗi thời hơn là những hành vi riêng tư của các vua chúa;

- tập cho trẻ rút những bài học ái quốc, hi sinh, tương thân tương trợ.

- xét một cách công bình hành vi của cổ nhân.

Đừng bắt trẻ nhớ nhiều niên hiệu quá. Lựa những niên hiệu quan trọng, bảo trẻ ghi vào sổ tay, và giúp trẻ tìm những thuật ký ức cho dễ nhớ. Chẳng hạn vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và băng hà năm 1820, hai niên hiệu đó khác nhau ở chỗ nào? Nguyễn Huệ thắng Tôn Sĩ Nghị năm 1789, năm có cuộc đại cách mạng Pháp; 7, 8, 9, ba síp đó liền nhau, dễ nhớ lắm.

10. Dạy Địa lý

Ai mà thích được môn Địa lý dạy theo lối bây giờ? Phải nhớ hàng trăm, hàng ngàn tên rắc rối, khó đọc, khó viết. Cho nên hồi nhỏ, môn đó đối với tôi là một cái nợ phải trả nhà trường. Chẳng riêng gì tôi, hết thảy các bạn của tôi đều như vậy. Nhớ lại nỗi khổ của ta hồi xưa thì cũng nên tránh nỗi khổ cho trẻ bây giờ.

Có những điều mà người lớn chúng ta cũng có quyền không biết thì tại sao lại bắt trẻ nhớ cho kỳ được? Chẳng hạn sông rạch ở Nga, chỉ nhớ vài tên là đủ, còn những tên khác, coi qua cho biết, học thuộc mà làm gì? Hồi học lớp nhất, một anh bạn thuộc lòng tên 89 hành tỉnh ở Pháp với tên quận quan trọng nhất trong mỗi tỉnh. Thầy chúng tôi khen anh lắm, có vẻ khuyến khích anh và khuyên chúng tôi noi gương anh nữa. Tôi rất phục anh nhưng không chịu bắt chước; ngay từ hồi đó tôi đã nghĩ, học như vậy chỉ phí sức.

Dạy Địa lý, cần nhất phải tập cho trẻ:

- nhận xét đất đai, sông núi, dân cư, kinh tế, phong tục miền trẻ ở hoặc đi qua;

- so sánh miền này với miền khác;

- nhận xét ảnh hưởng của đất cát và thời tiết đến nền kinh tế và đời sống của con người ra sao;

- biết đọc một bản đồ, vẽ phác bản đồ một miền nhỏ.

- biết dùng thống kế biểu - statisque[2]

Học như vậy vừa bổ ích vừa không thấy chán. Và nếu nhà trường bắt trẻ nhớ nhiều tên sông núi, châu thành... ngoại quốc mà trẻ nhớ không nối thì bạn cũng nên khoan hồng với chúng.

11. Dạy Cách trí

Môn cách trí phải có mục đích tập cho trẻ nhận xét, ghi chép, suy nghĩ, so sánh, phán đoán, tìm những luật thiên nhiên rồi áp dụng vào đời sống, chứ không phải là bắt trẻ học thuộc lòng và vẽ những hình bươm bướm, chuồn chuồn, tô màu thật đẹp, đánh bóng thật nổi...

Vậy, trẻ học về con mèo thì bạn nên chỉ cho trẻ thấy mắt của nó trong chỗ tối và ở chỗ sáng khác nhau ra sao; nó ở trên cây leo xuống hay tụt xuống, tại sao?[3]

Và khi trẻ phải học về những con đại bàng, con tê thì ít nhất bạn cũng nên mở tự điển “Larousse”, tra những tên aigle và hippopotame, chỉ hình những con vật đó cho trẻ thấy. Rồi trẻ nhớ được thì nhớ, không thì thôi.

Bạn bảo: “không nhớ thì làm sao đi thi được?”

- Thưa bạn, tôi đã nghĩ đến điều ấy và trong một chương sau, tôi sẽ chỉ cách nhồi sọ trẻ trước kỳ thi, mặc dầu tôi thầm oán lối nhồi sọ. Nhưng tôi tưởng giám khảo nào có hỏi những trẻ mười một, mười hai tuổi về các loài vật kỳ dị đó thì cũng là tinh nghịch mà hỏi chơi, chứ không nỡ nào đánh hỏng trẻ.

Chú thích

  1. Ông viết những câu rất ngắn ra lệnh cho trẻ, như:
    Em lại đây.
    Đặt trái xoài lên bàn.
    Trẻ nhìn vào những câu ấy mà coi như những hình vẽ, hiểu nghĩa rồi thì ghi hình ảnh trong óc.
    Lần sau trông thấy những hình ấy là nhớ lại nghĩa và làm theo lệnh, hoặc đi lại gần ông, hoặc đặt trái xoài lên bàn.
    Ít lâu sau, ông viết tên một đồ vật lên một miếng giấy để bên cạnh vật ấy. Các em biết tên vật rồi, nhìn chữ và biết ngay cách đọc. Chẳng hạn, bên cạnh trái cam ông viết chữ cam. Các em nhìn trái cam, biết ngay hình vẽ đó đọc là cam, và lần sau gặp hình nào y như hình ấy thì cũng đọc là cam.
    Lần lần các em biết hết những chữ chỉ các vật thường dùng và chỉ tên các bạn trong lớp.
    Dạy viết cũng theo cách đó. Chỉ trong một năm là trẻ biết đọc, biết viết.
    Phương pháp ấy lợi dụng ký tính rất mẫn tiệp của trẻ về hình ảnh và hợp với óc chưa biết phân tích, chỉ mới biết nhận xét toàn bộ của trẻ.
  2. Chẳng hạn khi chỉ cho trẻ một thống kế biểu về số gạo nước nhà xuất cảng mỗi năm, ta cho trẻ so sánh số đó với số mẫu ruộng khai phá thêm trong thời kỳ ấy để biết sự mở mang đất đai ảnh hưởng đến sự sản xuất lúa ra sao; rồi lại so sánh số xuất cảng của ta với số xuất cảng của các nước láng giềng như Thái, Miên...
  3. Nó ở trên cây tụt xuống, đầu đưa lên, vì móng của nó quặp vào, nếu đưa đầu xuống dưới thì móng không bám được vào cây.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Săn sóc sự học của con em
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản: Văn hóa Thông tin, 11/2003
  • Nguồn: TVE-4u
"Like" us to know more!