Dư luận

4. Dư luận

A. Tính cách của dư luận

Ta đã không tin hẳn rằng những điều mà nhiều thế hệ truyền lại cho ta trong cái túi khôn của nhân loại, thì đối với dư luận đương thời ta lại càng nên có thái độ NGỜ.

Có người hỏi Khổng Tử: “Người mà cả làng ai cũng ưa là người thế nào?” Ngài đáp: “Chưa chắc là người khá”. Lại hỏi: “Thế còn người mà cả làng ai cũng ghét?” Đáp: “Cũng chưa chắc đã là người khá. Không bằng người mà kẻ thiện trong làng ưa, kẻ bất thiện trong làng ghét.”

Quan niệm của Ngài đối với dư luận đáng gọi là hợp lý.

Dư luận là ý kiến của số đông trong một xã hội. Có khi nó chính đáng: như trong Hội nghị Diên Hồng, như hồi 1945 toàn dân nổi dậy đòi đuổi thực dân Pháp, như hồi 1925 toàn dân đòi Pháp phải trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu; nó rất chính đáng khi dân chúng ở châu Âu ở thế kỷ 19 đòi các chính phủ phải cấm sự mua bán người Da đen; nó rất chính đáng khi dân chúng Anh phản đối chủ trương của Laval-Hoare (năm 1935) muốn nhường Ethiopie cho Ý phát xít, và dư luận khắp thế giới ngày nay đòi hủy những khí giới nguyên tử cũng là rất chính đáng nữa.

Nhưng cũng có nhiều khi nó sai: nó đã nhiều lần công nhận, khuyến khích sự tàn sát lương dân của phe địch; nó đã hoan hô những kẻ như Hitler; vì nó sai nên nhà thiên văn học Copernic ở thế kỷ 15 tìm ra được rằng trái đất xoay chung quanh mặt trời mà không dám tuyên bố; vì nó sai nên người ta đã la ó Pasteur khi ông bảo những bệnh truyền nhiễm đều do những vi trùng sinh ra; vì nó sai nên Philippe Semmelweiss, tìm ra được một cách rất giản dị để trị bệnh sốt sản hậu là khử độc ở tay và dụng cụ y khoa trước khi khám bệnh, mà rồi chẳng ai nghe, đến nỗi ông phải buồn bực, chết trong một nhà thương điên...

Nó lại dễ thay đổi: cho nên hôm nay hoan hô ông X, mai lại đả đảo, đả đảo rồi lại hoan hô, cứ y như chong chóng cho nên dân chúng Pháp năm 1940 theo De Gaulle mà chống Đức, cho nên trong chiến tranh với Algerie, mới đầu dư luận Pháp thuận rồi bây giờ lại chống.

Dù sao ai cũng phải nhận rằng nó rất mạnh. Ngay từ thời Thượng Cổ, sách Quốc ngữ của Trung Hoa đã viết: “Giữ miệng dân khó hơn giữ nước sông, đắp sông mà sông vỡ thì làm tổn hại nhiều người, đối với dư luận cũng vậy. Cho nên người làm sông phải để cho sông chảy, người trị dân phải để cho dân nói. Ôi! dân lo trong lòng, phải nói ra miệng, giữ làm sao được” (Phan Khoang dịch).

Nó còn mạnh hơn dòng sông; nó là dòng thác. Chỉ đứng ở ngoài mới khỏi bị lôi cuốn. Chúng ta còn nhớ chiến tranh Phổ Pháp năm 1870. Cả vua Phổ là William đệ nhất và vua Pháp là Nã Phá Luân đệ tam đều muốn hòa bình, mà cả hai dân tộc Pháp, Phổ cũng không thù oán gì nhau cả. Chỉ có thủ tướng Phổ là muốn gây chiến để chiếm ưu thế trên lục địa Âu. Nhân một vụ truyền ngôi ở Y Pha Nho, Nã Phá Luân đệ tam yêu cầu vua Phổ khuyên cháu đừng tranh giành ngôi đó. Vua Phổ chịu nghe, nhã nhặn trả lời xứ thần Pháp rằng vấn đề đó được coi như đã giải quyết xong, kế đó ông đánh điện cho Bismark hay. Bismark muốn gây hấn, sửa đổi bức điện tín để chọc tức cả hai dân tộc rồi công bố trên báo chí. Dân Phổ đọc báo, sôi gan, mắng Pháp Hoàng đã dám làm mất thể diện của Đức Vua họ, còn dân Pháp hay tin cũng căm hận vì một tên lính hầu cận của vua Phổ đã làm nhục vị sứ thần thay mặt quốc gia mình, rủ nhau biểu tình gào thét những khẩu hiệu: “Chiến tranh vạn tuế!”, “Tiến đến Berlin!” trong khi bài Marseillaise vang lên ở khắp nơi. Bị dư luận bức bách, chính phủ Pháp phải tuyên chiến với Phổ. Bismark chỉ đợi cơ hội đó vì Phổ đã dự bị từ lâu, Pháp thì không đề phòng gì cả, đã giảm quân số từ mấy năm trước. Kết quả là Ba Lê bị bao vây trong một năm đằng đẵng, dân chúng đói rét, gặp gì ăn nấy (chuột giá hai quan một con). Sau cùng Ba Lê phải đầu hàng, và Pháp phải nhường hai tỉnh Alsace và Lorraine cho Phổ.

Trang sử đó cho ta thấy:

- Dư luận mạnh đến nỗi một chính phủ không chống nổi nó, mà phải để cho nó lôi cuốn.

- Chỉ một hai kẻ xảo quyệt cũng đủ gây được dư luận. Thời đó phương tiện thông tin chưa tiến mà Bismark gây được sóng gió như vậy, thì thời Hitler và nhất là thời này, sự tạo dư luận càng dễ dàng biết bao mà cũng có thể nguy hiểm biết bao! Ở những nước như Huê Kỳ, bất kỳ một người dân nào, cả người ngoại quốc nữa, cũng có quyền sớm tối lập ra một tờ báo và nếu có đủ tiền bạc, đủ mánh khóe thì có thể nếu không tạo được dư luận, cũng ảnh hưởng lớn đến dư luận

- Dư luận có ít tính cách lý trí mà đượm nhiều tình cảm. Dân Phổ và Pháp thời đó đâu có suy nghĩ rằng nguyên nhân chẳng có gì quan trọng, việc có thể thu xếp bằng ngoại giao được mà kết quả của chiến tranh bao giờ cũng tai hại. Một số người điên tiết lên, hô hào kẻ khác, đánh vào lòng tự ái, lòng ái quốc, lòng danh dự của họ, thế là thiên hạ ùn ùn theo. Rất nhiều người theo không phải vì cùng một quan điểm mà chỉ do sức lôi cuốn của quần chúng. Ở nhà với vợ con thì họ chẳng thích gì chiến tranh đâu, rủa lên một vài câu rồi đi ngủ, nhưng ra đường nghe những khẩu hiệu nẩy lửa của quần chúng, nghe bài Marseillaise thì họ chẳng suy nghĩ gì nữa, nghiến răng trợn mắt nhập bọn liền.

Ngay trong những cuộc hội họp thường để trò chuyện của ta cũng cảm thấy ảnh hưởng của số đông. Bạn ngồi riêng một mình bảo chiêu đãi viên pha cho một ly nước chanh tươi, nhưng ngồi chung với năm sáu người nữa thì ý kiến của bạn đã thay đổi, hai ba người kêu la ve thì bạn cũng trả lời chiêu đãi viên: “Ừ, cho tôi la ve.”

B. Những luật chi phối dư luận

Không những dư luận ít khi có tính cách hợp lý, mà nó còn dễ lầm lẫn vì những tin tức do quần chúng loan báo thế nào cũng sai lạc, mà ảnh hưởng lớn đến dư luận. Ông Alfred Sauvy đã nhận xét những sự sai lạc đó và tìm ra được ba luật chính dưới đây:

(1) Nếu tin tức liên quan đến quyền lợi vật chất thì sự sai lạc hướng về đường lối binh vực quyền lợi.

Chẳng hạn khi chính phủ dò dư luận xem vật giá tăng lên bao nhiêu thì dư luận bao giờ cũng phóng đại ít nhiều để mong chính phủ tìm cách hạ giá xuống hoặc tăng lương cho công chức tư chức.

Trong thời đại chiến tranh vật thực khan hiếm, nếu có người Pháp nào thì thầm rằng nhà máy nọ nhà máy kia chế bơ để cho quân Đức làm mỡ chùi máy móc thì tin đó loan truyền một cách mau lạ lùng. Mười mấy năm trước ai mà không biết tin Pháp dùng lúa để đốt máy trong khi dân Bắc chết đói?

Trái lại những tin mất mùa thời đó lan rất chậm là vì nếu loan tin mất mùa thì giá gạo giá lúa sẽ tăng hoặc chính phủ sẽ hạn chế sự mua bán lúa, gạo; còn loan tin phí phạm vật thực thì là mong vật thực sẽ dồi dào hơn, có khi bớt phí phạm đi, mà lòng căm thù quân địch đồng thời có chỗ để xì ra.

(2) Nếu tin tức liên quan đến tình cảm, thị dục thì sự sai lạc hướng về chiều có lợi cho tình cảm, thị dục, làm cho nó hóa ra hữu lý và mạnh lên.

Người mộ đạo trông vào đâu cũng thấy những phép của Chúa, của Thánh. Nhà luân lý nhìn đâu cũng thấy xã hội suy đồi, luân thường đảo ngược.

Thời chiến tranh, những tin về những hành động dã man của địch chẳng cần phải đăng báo mà ai cũng biết; còn những tin về tinh thần anh dũng, hy sinh, nhân đạo của quân đội mình thì bất kỳ trong cuộc họp nào người ta cũng kể đi kể lại.

(3) Nếu tin liên quan tới mục đích, đường lối chung thì sự sai lạc hướng về công ích, về đoàn kết.

Đảng viên bao giờ cũng phóng đại tin có lợi cho đảng. Và trong chiến tranh, chiến công của mình bao giờ chẳng vẻ vang hơn chiến công của địch.

Chính vì dư luận dễ lầm lạc, nên nhiều người chỉ trích chế độ phổ thông đầu phiếu, cho rằng nhân loại phải tạm nhận nó vì chưa thấy cách nào hơn. Ông Marcel Boll nói: “Sự bình đẳng của các cử tri làm cho lá phiếu của một người cha có mười đứa con vị thành niên ngang giá trị với lá phiếu của một người độc thân; lá phiếu của một kẻ mù chữ ngang giá trị với lá phiếu của một người được giải thưởng Nobel. Người ta chỉ còn hy vọng rằng nền giáo dục sẽ nâng cao trình độ hiểu biết của quần chúng lên, chứ hiện nay thì ngay ở những nước văn minh, đa số quần chúng cũng chẳng hiểu gì về những cái mà họ biểu quyết cả.” Ông Alexis Carrel còn quyết liệt hơn, trong cuốn L'homme cet inconnu và cuốn Réflexions sur la conduite de la vie đòi thay đổi nền giáo dục, chú tâm vào sự đào tạo những người thông minh, đạo đức, đứng phí công phí tiền giáo hóa những kẻ ngu độn và điên khùng, nghĩa là ông đả đảo sự bình đẳng trong giáo dục. Ôn hòa như ông Phan Khoang mà cũng nói:

“Dư luận đã có thể uốn nắn như cục đất sét trong tay người thợ gốm như thế thì chắc không phải là ý kiến chân thật của công chúng, và không biểu thị được lẽ phải rồi, mặc dầu là lẽ phải tương đối, lẽ phải mà công chúng ấy có thể có được.

“Nhưng không lẽ trong số người gồm thành công chúng ấy ai nấy đều sai lạc cả. Phải có người sáng suốt, thấy rõ sự thực chứ?

“Có, và có thể có nhiều cũng nên. Nhưng cái thời đại mà cái luật “thiểu số phục tùng đa số” đã được áp dụng thì hạng người sáng suốt kia, vì ít hơn, nên tiếng nói của họ phải bị lấn át và không ai đếm xỉa đến cả. Đó là cái tai họa của nhân loại.”[1]

Đó chính là cái thắc mắc của một số trí thức từ Đông qua Tây. Nhưng trong cuốn sách này tôi không bàn về vấn đề đó, chỉ nêu lên ít nguyên nhân sai lầm của dư luận để độc giả biết nghi ngờ mỗi khi nhận xét một dư luận nào thôi.

Chú thích

  1. Dư luận và thanh nghị. Bách Khoa số 33 ngày 15-5-1958. Theo tôi, họa đó nhỏ hơn họa độc tài và quần chúng được tập dự vào việc nước càng sớm thì tinh thần của họ càng mau già giặn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Luyện lí trí
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nhà xuất bản: Văn hoá thông tin
  • Năm xuất bản: 2003
  • Tạo eBook lần đầu: Trieuhoa
  • Tạo lại: Goldfish
  • Nguồn: thuvien-ebook.com

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!