Dân số, môi trường trong sự phát triển xã hội

III. DÂN SỐ, MÔI TRƯỜNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Mỗi một cơ thể xã hội cụ thể hay một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể đều tồn tại trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định. Dân số và môi trường là những yếu tố cơ bản của điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Dân số, môi trường có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và cùng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. dân số, môi trường và sự phát triển xã hội gắn bó, chế ước và quy định lẫn nhau trong suốt tiến trình lịch sử. C.Mác và Ph. Ăngghen là những người đầu tiên đã chỉ ra tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại, "dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống" hiện thực và mối quan hệ qua lại giữa họ và "phần còn lại của giới tự nhiên". Có thể hiểu "những cá nhân con người sống" là dân số với cả số lượng và chất lượng của nó, còn "phần còn lại của giới tự nhiên" chính là môi trường sống của con người và xã hội.

Dân số là điều kiện thường xuyên, tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.

1. Khái niệm dân số

Dân số là lượng người làm ăn, sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định nào đó: một quốc gia, một địa phương. Vấn đề dân số bao gồm nhiều mặt như số lượng, chất lượng dân cư, mật độ dân cư, sự gia tăng dân số, sự phân bố dân cư theo lãnh thổ, v.v..

2. Vai trò của dân cố đối với sự phát triển xã hội

  • Vai trò của yếu tố dân số đối với sự phát triển của xã hội được thể hiện trên hai bình diện: số lượng và chất lượng, song, chúng không như nhau trong mọi thời đại, mà có tính lịch sử cụ thể.
  • Số lượng dân cư, mật độ dân cư là sự thể hiện sức mạnh về lượng của dân số, theo nghĩa là số người càng đông, sức mạnh càng lớn. Thực chất đây là sức mạnh được tính theo lao động cơ bắp, sức mạnh thuộc về thể lực của con người. Sức mạnh về lượng của dân số phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức, quản lý, vào sự đoàn kết, liên kết giữa người và người trong cộng đồng. Sức mạnh về chất của dân số là sự thể hiện sức mạnh trí lực của con người - lao động trí tuệ như kỹ năng, kỹ xảo, năng lực thực hành những hoạt động có hàm lượng khoa học cao, sự thông minh nhạy bén, ý chí, nghị lực, v.v.. Sức mạnh về chất của dân số phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng cuộc sống, vào trình độ giáo dục, dân trí, vào truyền thống văn hóa, vào trình độ phát triển của khoa học công nghệ...
  • Bất kỳ một xã hội nào cũng cần có một số lượng dân cư nhất định mới đảm bảo lực lượng lao động, nguồn nhân lực để tiến hành tổ chức phân công và chuyên môn hóa lao động xã hội, để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất và tái sản xuất mở rộng, v.v.. Trong những giai đoạn phát triển đầu tiên của xã hội loài người, công cụ sản xuất còn thô sơ, đơn giản, để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho đời sống của mình, con người chủ yếu chỉ mới sử dụng lao động cơ bắp với sự trợ giúp của các công cụ thủ công, vì vậy, xã hội đã phải cần đến một số lượng dân cư lớn để phát triển được. Lúc này các vùng có điều kiện thiên nhiên thuận lợi như các vùng đồng bằng châu thổ, dọc theo các dòng sông lớn, dân cư tập trung đông đúc, sức mạnh về lượng của dân số được phát huy. Do đó, kinh tế - xã hội ở các vùng này có điều kiện phát triển mạnh, đẩy nhanh sự phát triển của xã hội. Các trung tâm văn hóa lớn đầu tiên của nhân loại như Ấn Độ, Trung Hoa, Ai Cập, v.v.. đều là những vùng có mật độ dân cư cao so với đương thời.
  • Song, đến một giai đoạn lịch sử nhất định, sức mạnh về số lượng của dân số không còn giữ vai trò quan trọng hay quyết định. Thậm chí, trong những điều kiện lịch sử cụ thể nào đó của một quốc gia, số lượng dân cư quá đông còn gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển xã hội, và làm tổn hại đến môi trường tự nhiên.
  • Cùng với sự ra đời của công nghệ cơ khí máy móc từ cuối thế kỷ XVII, sức mạnh về lượng của dân số dần dần được thay bằng sức mạnh về chất, lao động cơ bắp dần dần được thay thế bằng lao động trí tuệ và ngày càng giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội. Đặc biệt ngày nay, khi nền công nghệ tin học hay công nghệ trí tuệ đang dần thay thế công nghệ máy móc cơ giới, thì quá trình đó diễn ra nhanh hơn.
  • Thực tế đã cho thấy, sự gia tăng dân số quá chậm hoặc quá nhanh so với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội đều có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển xã hội. Sự gia tăng dân số quá chậm (dưới 0,5%/năm) ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Bắc Âu đã dẫn đến hiện tượng thiếu lao động xã hội; dân số già, một mặt gây khó khăn cho sản xuất, dịch vụ, mặt khác, phải có chi phí quá lớn cho phúc lợi xã hội để chăm sóc người già cả, cô đơn … Ngược lại, xu hướng tăng dân số quá nhanh (bùng nổ dân số) ở các nước chậm phát triển (2-3 thậm chí 4%/năm) tuy có thuận lợi là dân số trẻ, sức lao động xã hội dồi dào, nhưng lại đang gây biết bao khó khăn cho sự phát triển xã hội như vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm, vấn đề ăn, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, v.v.. Nạn di dân từ các nước chậm phát triển sang các nước phát triển đang là một vấn đề gay cấn về trật tự an toàn xã hội, về kinh tế, chính trị và các chính sách xã hội … Bởi vậy, dân số không chỉ là vấn đề khó khăn của các nước chậm phát triển, mà nó là vấn đề có tính chất toàn cầu, có liên quan đến tất cả các quốc gia, các dân tộc, và để giải quyết nó cần phải có sự hợp tác của cả cộng đồng quốc tế.

Như vậy, vấn đề dân số vừa phụ thuộc vào các quy luật tự nhiên, liên quan đến môi trường tự nhiên, vừa phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, chịu sự chi phối của chế độ xã hội và các chính sách của Nhà nước. Giải quyết một cách tối ưu mâu thuẫn giữa dân số, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội chính là phải tìm cách ổn định vấn đề dân số, nghĩa là phải xác định và giữ một tỷ lệ phát triển dân số hợp lý trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với khả năng điều kiện của môi trường tự nhiên. Mặt khác, bên cạnh việc giữ tỷ lệ gia tăng dân số hợp lý, muốn bảo đảm cho sự phát triển lâu bền của cả tự nhiên và xã hội, còn cần phải có chính sách bố trí hợp lý dân cư và nhất là tăng cường chất lượng dân cư. Xã hội sẽ không phát triển được, nếu môi trường tự nhiên vốn là cái nôi nuôi dưỡng con người bị tàn phá bởi chính con người, nếu chất lượng dân cư không được nâng cao cho phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội.

3. Môi trường và sự phát triển xã hội

a. Khái niệm môi trường

Sinh quyển là vùng lưu hành sự sống trên trái đất, là một hệ thống mở về nhiệt động học, bao gồm toàn bộ các cơ thể sống (sinh thể), các sản phẩm và các chất thải trong quá trình hoạt động sống của chúng, đồng thời còn bao gồm cả phần khí quyển (không khí), thủy quyển (nước), thạch quyển (đất đá) và năng lượng mặt trời, nơi đã và đang có sự sống. (Đó là môi trường sinh địa - hoá học hay sinh quyển).

b. Vai trò của môi trường

  • Môi trường là nơi sinh sống và hoạt động của con người, là nơi tồn tại của xã hội. Môi trường sống của con người không đơn giản chỉ là môi trường địa lý - các điều kiện địa lý, như trước đây đã từng quan niệm, cũng không chỉ là môi trường tự nhiên thuần tuý (điều kiện địa lý cộng với thế giới sinh vật), mà phải là môi trường tự nhiên - xã hội hay môi trường "tự nhiên người hóa", bởi vì, con người là một thực thể sinh học - xã hội hay một động vật xã hội. Ngày nay môi trường sống của con người và xã hội thường được gọi là môi trường sinh thái. Thực chất của vấn đề môi trường sinh thái đang được cả loài người quan tâm là vấn đề mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người, xã hội và tự nhiên. Qua những phần trình bày trên đây đã cho chúng ta thấy rõ vị trí, vai trò của từng nhân tố tự nhiên, con người, xã hội và sự tác động qua lại giữa chúng trong hệ thống "Xã hội - Tự nhiên".
  • Vấn đề môi trường sinh thái là một trong những vấn đề toàn cầu cấp bách và khó giải quyết nhất trong thời đại ngày nay. Hiệnnay, môi trường sinh thái đang nổi lên nhiều vấn đề căng thẳng, phức tạp và cấp thiết, có liên quan trực tiếp không chỉ đến sự sống của sinh vật mà còn đe dọa đến sự sống của con người, sự tồn tại của xã hội loài người. Trước hết là sự khan hiếm và cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cả tái tạo được lẫn không tái tạo được như rừng, đất, nước, động, thực vật, các loại tài nguyên khoáng sản, các loại kim loại quý hiếm, vật liệu xây dựng … Nền sản xuất xã hội đã tiêu tốn một khối lượng khổng lồ các nguồn tài nguyên thiên nhiên với một hiệu quả kinh tế rất thấp so với những gì mà tự nhiên đã mất đi, và với một hiệu quả sinh thái tai hại đã dẫn đến nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống. Các hiện tượng "hiệu ứng nhà kính", "lỗ thủng ôzôn", mưa axít, sự tăng lên nhiệt độ toàn cầu, sa mạc hóa, sự thu hẹp diện tích đất canh tác do bị xói mòn, laterit hóa, sự biến khỏi trái đất nhiều loại động vật, thực vật, v.v.. là những bằng chứng về sự phá hoại tự nhiên của con người, và đó cũng chính là hậu quả tất yếu của một nền sản xuất và một lối sống phi sinh thái, suy đến cùng là phi nhân tính. Bởi vì, tất cả những hậu quả do nền sản xuất xã hội mang lại cho tự nhiên đó đang làm suy giảm cả về số lượng, lẫn chất lượng môi trường sống, đã gây ra những cuộc khủng hoảng sinh thái cục bộ ở nhiều nơi trên trái đất và đang có nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu, đe dọa toàn bộ sự sống trên hành tinh chúng ta, trong đó không loại trừ con người và xã hội loài người.
  • Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng môi trường sinh thái hiện nay. trước hết phải kể đến sự tác động vô ý thức do sự hạn chế về mặt tri thức khoa học và công nghệ của con người trong lĩnh vực tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên. Trong những giai đoạn phát triển vừa qua, con người chưa có được những tri thức cần thiết để hoàn thiện các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ cho nền sản xuất xã hội. Con người cho đến nay, một mặt vẫn chưa nắm bắt được một cách đầy đủ những quy luật hoạt động của tự nhiên, đặc biệt là các quy luật điều khiển chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và tông tin của sinh quyển, mặt khác chưa tự giác vận dụng những quy luật đã được nhận thức vào hoạt động thực tiễn, trước tiên là hoạt động sản xuất xã hội. hậu quả không chỉ giết hại nhiều loài sinh vật hay phá hoại môi trường sinh thái một vùng nào đó, mà chính là trong một thời gian ngắn, con người đã vi phạm nghiêm trọng đến cơ chế hoạt động bình thường của chu trình sinh học, làm mất khả năng tự tổ chức, tự điều khiển, tự làm sạch, tự bảo vệ của sinh quyển. Khủng hoảng sinh thái toàn cầu có khả năng xảy ra, nếu như con người và xã hội không kịp thời thay đổi phương thức hoạt động thực tiễn, không thay đổi quan niệm và mục tiêu phát triển xã hội của mình.
  • Song, nguyên nhân quan trọng nhất, cơ bản và sâu xa nhất của hiện trạng môi trường sinh thái hiện nay trên toàn cầu thuộc về chế độ xã hội. Chủ nghĩa tư bản với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, với quy luật cạnh tranh tự do và bóc lột giá trị thặng dư tối đa, v.v. đã biến không chỉ con người mà cả giới tự nhiên thành đối tượng bị khai thác và bị bóc lột. Chủ nghĩa tư bản đã từng tận dụng một cách triệt để những thành thành tựu của nền văn minh công nghiệp để bóc lột con người, bóc lột tự nhiên nhằm mang lại lợi nhuận tối đa trước mắt, bất chấp những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên. Song, việc xóa bỏ chế độ người bóc lột người chưa đủ để thiết lập lại mối quan hệ hài hòa thật sự giữa con người với tự nhiên. Vấn đề bảo vệ sinh thái đòi hỏi con người cần phải không ngừng nâng cao nhận thức về tự nhiên, xây dựng ý thức sinh thái, đặc biệt là đạo đức sinh thái, phải biết kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái, v.v.. trong sự phát triển xã hội vì sự phát triển bền vững …
  • Hiểm họa sinh thái đang đe dọa toàn bộ sự sống trên trái đất, kể cả con người và xã hội loài người. Hiểm họa này có ngăn chặn và giải quyết được hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào những hoạt động tự giác của con người trong bước đường phát triển tiếp tục, vì chỉ có con người là nhân tố duy nhất có ý thức trong hệ thống Tự nhiên - Xã hội. Thực hiện sự phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của toàn nhân loại. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải có sự nỗ lực hợp tác của tất cả các nước, các dân tộc, của mọi người và của tất cả các ngành khoa học và công nghệ trên toàn thế giới.

Kết luận: Qua toàn bộ những điều đã được trình bày trên đây về sự tác động qua lại giữa xã hội và giới tự nhiên, có thể rút ra được những nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên như sau:

  • Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của sự thống nhất biện chứng giữa con người, xã hội và tự nhiên. Nguyên lý tính thống nhất vật chất của thế giới do Ph. Ăngghen đưa ra đã khẳng định, tuy thế giới vô cùng phức tạp và đa dạng được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau, song, suy đến cùng có ba yếu tố cơ bản: giới tự nhiên, con người và xã hội loài người. Ba yếu tố đó thống nhất với nhau trong một hệ thống "Tự nhiên - con người - xã hội" hay "Xã hội tự nhiên", vì rằng chúng đều là các dạng thức khác nhau, những trạng thái, những đặc tính và những mối quan hệ khác nhau của vật chất đang vận động. Thế giới vật chất luôn vận động, nhưng sự vận động đó lại diễn ra một cách cụ thể trong trạng thái ổn định tương đối, bởi vì đó là sự vận động có quy luật và tuân theo quy luật. Tất cả các quá trình diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội, trong con người đều phải chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến nhất định. Sự hoạt động của các quy luật đó đã nối liền các yếu tố trong thế giới thành một chỉnh thể thống nhất, vĩnh viễn vận động và phát triển không ngừng trong không gian và theo thời gian.
  • Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội. Sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên là sự thống nhất động, được thực hiện thông qua mối quan hệ qua lại, sự tác động và quy định lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên trong quá trình hoạt động sống và làm nên lịch sử của con người, trước hết là quá trình sản xuất vật chất. Phương thức sản xuất, trước hết là lực lượng sản xuất, là yếu tố cơ bản quyết định trình độ phát triển của xã hội, trong đó lực lượng sản xuất là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Do vậy, giữa trình độ phát triển của xã hội và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên luôn có sự phụ thuộc và chế định khác nhau.
  • Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ nhận thức và vận dụng quy luật khách quan. Sự thống nhất giữa con người và tự nhiên được thực hiện chủ yếu thông qua quá trình sản xuất xã hội, song cũng chính bằng sản xuất con người đã tách mình ra khỏi tự nhiên, đối lập với tự nhiên. Để duy trì sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên, con người cần phải biết điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa mình với tự nhiên. Theo Ph. Ăngghen, sự điều khiển một cách có ý thức ở đây không phải là bắt tự nhiên phải phục tùng con người một cách vô điều kiện như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, mà là phải biết nắm vững những quy luật của tự nhiên và phải biết vận dụng những quy luật đó vào trong hoạt động thực tiễn của mình, trước hết và quan trọng hơn cả là vào quá trình sản xuất xã hội.
  • Những nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên có ý nghĩa lý luận - phương pháp luận rất to lớn để chúng ta xem xét và giải quyết vấn đề môi trường sinh thái trong thời đại ngày nay.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang
"Like" us to know more!