Con người với các loài chim

27. Con người với các loài chim

Trong phần cuối của cuốn sách nhỏ này chúng tôi xin dành ít trang để nói vài nét về một vấn đề khá phức tạp là mối liên quan giữa con người và các loài chim.

Chúng ta có thể chắc chắn rằng sau hàng chục năm phóng gậy và ném lao và hơn 70-80 nghìn năm dùng cung, nỏ và các thứ bẫy thô sơ, con người thời đại đồ đá đã biết được khá rõ một số loài chim có thịt ngon và một số khác có thịt không ngon. Có lẽ các loài chim mà loài người đầu tiên ưa thích là gà rừng, trĩ, công, vịt, ngỗng. Dấu vết của chúng đã được tìm thấy ở nhiều địa điểm khảo cổ khai quật ở các nước khác nhau. Ở nước ta các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy xương gà rừng ở các địa điểm Thẩm nhương, Nậm tum (Lai Châu) ở niên đại khoảng 3 vạn năm cách ngày nay, thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ và thời đại đá giữa.

Khoảng một vạn năm về trước, lúc dân số loài người ước tính mới khoảng 7-10 triệu, các phương tiện săn bắt cũng còn thô sơ, thì chim và người còn sống chung trong mối cân bằng tự nhiên vững chãi. Tuy rằng hằng ngày loài người có săn bắt một số chim để ăn thịt, nhưng số lượng có thể bị thất thiệt không đáng là bao so với tốc độ phát triển nhanh chóng của các loài chim. Nhưng rồi khi dân số loài người tăng dần lên trên 300 rồi 400 lần như ngày nay thì mối quan hệ giữa người và chim đã hoàn toàn thay đổi. Ngoài cung và nỏ, loài người ở khắp nơi đã sáng chế ra nhiều cách bắt chim hữu hiệu mà điển hình nhất là loại bẫy chim bằng nhựa dính. Hiện nay cũng chưa ai biết được là con người đã tìm ra thứ nhựa để dính chim một cách riêng lẽ bao nhiêu lâu và ở những nơi nào, nhưng hầu như ở tất cả các nền văn hóa và tất cả các dân tộc đều ít nhiều có dùng nhựa dính để bắt chim. Người La Mã cổ đã dùng nhựa một loại cây tầm gửi, người Hy Lạp, người Nam Phi và người đông nam châu Á dùng nhựa sung, người Nhật Bản dùng cây sồi non, người Anh dùng dầu lanh hay vỏ của cây nhựa ruồi, người Inđiêng ở châu Mỹ dùng chất nhớt của ốc sên còn người Việt Nam thì dùng nhựa mít, nhựa sung hay nhựa thông (tùy vùng). Các loại lưới bắt chim cũng đã được nhiều dân tộc chế tạo từ lâu, nhất là ở những nơi mà chim thường tập trung đông thành đàn. Và điều bất hạnh lớn nhất cho chim có lẽ là vào giữa thế kỷ 19 lúc khẩu súng nạp đạn được cải tiến một cách cơ bản và đã được sử dụng rộng rãi ở khắp mọi nơi. Với thứ vũ khí mới này con người đã nhanh chóng trở thành một trong những "loài ăn thịt" khủng khiếp nhất đối với các loài chim. Họ đã tàn sát chim không thương tiếc. Họ tìm đủ mọi cách để tận thu nguồn lợi quý giá mà thiên nhiên đã phú cho hơn là sử dụng nó một cách hợp lý. Đây là một vài thí dụ trong muôn ngàn sự thật đã diễn ra một cách thật hãi hùng đối với các loài chim trong mấy thế kỷ gần đây: nửa triệu con chim sơn ca bé bỏng đã được bán đấu giá ở Lepdích, ở Đức, chỉ trong một tháng 10, hơn 30 vạn 6 nghìn con vịt đã bị 6 người đi săn bắn chết trong 3 ngày gần thành phố Tômxk ở Xibêri, một toán nhỏ người đi săn ở Anh chỉ trong một ngày đã bắn chết 3.937 con gà lôi và một ngày khác 2.929 con trĩ đỏ trên đường di cư của chúng một cách không kiềm chế được. Theo ước lượng của một nhà nghiên cứu thì chỉ trong hai ngày một đêm ít nhất cũng phải đến 9 triệu con bị giết. Trước năm 1920, riêng ở Ai Cập hàng năm có khoảng 3 triệu con cun cút bị bắt để xuất cảng, đó là chưa kể số chim tiêu thụ ở trong nước.

Việc khai thác nhiều loại chim biển và chim ở đảo trong nhiều năm qua rõ ràng là một sự tham lam và tàn bạo của con người. Những người săn lông chim ở Floriđa, Carolinas, Virginia, những người vây ráp chim ở các đảo Thái Bình Dương, vơ vét trứng chim ở California và Canađa, khai thác chợ chim ở Đất mới, bắt chim hải âu ở châu Úc và Tân Tây Lan, lấy trứng ở mũi Hảo Vọng, v.v…, ngày nay đã bị chính quyền hạn chế (và ghi vào pháp luật). Nhưng không biết bao nhiêu mạng chim đã bị họ giết hại, làm cho nhiều chỗ trước kia chim rất đông đúc, thế mà ngày nay rất hiếm, thậm chí một số loài đã vĩnh viễn không còn nữa. Sự tiêu diệt của loài chim cưu "đô đô" là một ví dụ của hành động vô ý thức của con người. Vào năm 1507 một người Bồ Đào Nha tên là Pêđrô Maxkarênas lần đầu tiên phát hiện một hòn đảo nhỏ ở Ấn Độ Dương. Ở đấy có loài chim rất kỳ lạ, loài đô đô rất béo, nặng đến 18-20 kg, gần như trần trụi, cánh rất yếu, chúng chỉ đi được chậm chạp và không biết bay vì ở trên đảo không có loài thú ăn thịt nào cả. Mỗi khi tàu thuyền qua lại, các thủy thủ lại ghé lên đảo, bắt đô đô làm thức ăn dự trữ. Con chim nặng nề tội nghiệp này đã không có cách gì tránh khỏi bàn tay của con người và kết quả là đến cuối thế kỷ thứ 17 đã không còn sót lại một con nào trên đảo.

H.89. Chim cưu đô đô.

Với cách săn bắn bừa bãi như vậy, chỉ trong gần 3 thế kỷ qua đã có đến 80 loài chim bị tiêu diệt. Nếu trung bình tuổi thọ của một loài chim là khoảng 500.000 năm như Bơrốt Koóc đã ước lượng thì tỷ lệ của sự tự tiêu diệt vì già nua không thể nhiều hơn 2 loài trong một thế kỷ. Nếu chúng ta chấp nhận tiêu chuẩn đó của Bơrốt Koóc thì trên Trái đất này trong khoảng thời gian 3 thế kỷ qua hẳn chỉ có 5 đến 6 loài bị mất đi và chúng ta cũng không thể oán trách con người về sự mất mát đó.

Thế nhưng trong 3 thế kỷ qua đã có đến gần 80 loài chim bị mất đi, mà một số loài trong bọn chúng không kịp để lại một tiêu bản nào trong các bảo tàng của thế giới nữa. Nếu chúng ta dùng cái thước của Bơrốt Koóc thì sự tiêu diệt của các loài chim đã tăng lên đến 15 lần nhiều hơn so với quá trình tự nhiên. Những năm mất mát nhiều nhất là những năm cuối thế kỷ 19. Chỉ trong vòng 20 năm từ năm 1885 đến 1905 đã có đến 20 loài bị tiêu diệt, mà phần nhiều là các loài chim ở đảo và các loài chim không biết bay vì chúng không có cách gì tự cứu thoát được. Nói thế không phải những loài chim bay giỏi và ở đất liền đã có thể trốn tránh khỏi tai vạ. Điều đáng tiếc là một số loài chim được xem là phong phú nhất trên thế giới mà người ta từng biết lại là tiêu biểu cho những loài bị tiêu diệt. Loài bồ câu di cư, loài chim có số lượng đông nhất trong các loài chim, ước tính vào khoảng 5.000 triệu con vào đầu thế kỷ 19 đã bị tuyệt chủng vào cuối thế kỷ đó. Người ta ước lượng khoảng 1.200.000 con đã bị tàn sát hàng năm. Con chim trời cuối cùng đã bị bắn chết vào tháng 3 năm 1900 và con chim nuôi cuối cùng, con Mácna cũng đã bị chết vào ngày 1 tháng 9 năm 1914 vào lúc 1 giờ chiều ở vườn nuôi Xinxinnati!

Trong tất cả những người đi săn chim biển cổ xưa đáng chú ý hơn cả là những người ở Gronlen, Băng đảo, đảo Phêruê. Họ đã đến đây từ lâu, thế nhưng những loài chim sống ở trên đảo vẫn rất phong phú. Bằng cách mò mẫm mà những người dân ở các đảo đó đã đi đến một quy luật thực tiễn như nhau. Họ thu hoạch trứng chim, chim non hay chim trưởng thành cân xứng với số chim tăng thêm hàng năm. Họ đã biết tự kiềm chế và qua thực tế họ đã có được những kiến thức của các nhà sinh thái học, các nhà bảo vệ thiên nhiên. Họ đã trở thành những người đi săn mẫu mực, những người biết khai thác thiên nhiên một cách hợp lý. Hàng trăm năm qua, họ đã có được thức ăn ngon và rẻ mà không giết mất con "gà đẻ trứng vàng". Trên đất nước ta có lẽ chưa có loài chim nào bị tuyệt chủng, nhưng điều chắc chắn mà ai cũng thấy rõ là số lượng chim nói chung chỉ trong vài ba chục năm nay đã bị giảm sút đi rất nhiều. Những loài chim quý như gà lôi, trĩ bạc, gà lam, trĩ sao, công đã trở nên rất hiếm. Chỉ mới vào khoảng 50 năm trước đây, công còn khá phổ biến ở các núi rừng phía bắc, thế mà bây giờ hầu như vắng bóng.

Còn về phía nam, trên dãy Trường Sơn, và ở vùng Tây Nguyên các loài chim quý còn khá nhiều, nhưng so với trước thì đã giảm đến quá nửa. Nhiều đàn chim nổi tiếng ở đồng bằng Nam bộ ngày nay không còn nữa. Đó là kết quả của sự săn bắt bừa bãi trong những năm chiến tranh, nhưng một phần nữa rất quan trọng là chất độc hóa học của giặc Mỹ rải xuống bừa bãi khắp nơi tất nhiên đã giết hại nhiều chim mà chúng ta khó lòng ước lượng được, nhưng nghiêm trọng hơn là chất độc đã phá hoại môi trường sống của chúng.

Tương lai của các loài chim rồi sẽ như thế nào? Với cách nhìn lâu dài chúng ta có thể dự đoán rằng một số loài chim rồi sẽ biến mất trong một tương lai không xa, không phải chỉ đơn giản vì bị săn bắn vô tổ chức, mà con người hiện đại đã và đang dồn chúng đến con đường bế tắc, cướp mất chỗ sống của chúng, nguồn thức ăn bằng cách làm thay đổi môi trường sống của chúng như đào kênh mương, tát cạn đầm lầy, phát quang rừng rậm, biến những chỗ hoang vu thành đồng ruộng, hầm mỏ, nhà máy. Việc thay đổi môi trường sống như vậy thường gây ảnh hưởng quyết định đối với các loài chim cổ, những loài chim đòi hỏi khoảng không rộng lớn, hay những điều kiện đặc biệt mới sinh đẻ được như các loài sếu, đại bàng, ó, kền kền. Còn đối với những loài chim thuộc bộ Sẻ, nhất là những loài chim ăn hạt, như sẻ nhà, sẻ đồng, di, rồng rộc thì không đáng ngại. Chúng rất dễ thích nghi với môi trường sống mới. Chúng là những loài chim non trẻ, mới phát triển gần đây, trong thời gian mà các loài thực vật có hạt đặc biệt là các loài cỏ, lúa và các loài ngũ cốc khác mọc lan tràn khắp nơi. Có ý kiến cho rằng chúng là những loài chim có tương lai hứa hẹn cũng như các loài chim ăn sâu bọ và ăn mật hoa trước đây ít lâu. Tất cả chúng đều phát triển nhanh chóng cùng với các loài thực vật có hoa. Những loài chim có thể thích nghi được với vườn tược, đô thị, vườn cây ăn quả, đồng ruộng, trang trại rồi đây sẽ là những loài chim thịnh vượng nhất như sẻ nhà, di, sáo, chào mào, nhạn, sơn ca, chèo bẻo. Một số ít trong chúng như sẻ, nhạn, thực sự đã xem con người như ân nhân. Chúng đã thích thú cái mái nhà, cầu cống do người xây dựng hơn là hốc cây và vách đá tự nhiên. Chúng đã chính thức trở thành những người bạn thân thiết với người mà không rời ra được nữa. Có điều chắc chắn là rồi đây khi các đô thị và vườn tược có bóng mát của cây cối thì sẽ có nhiều loài chim hơn nữa tìm đến trú ngụ. Chúng ta sẽ không phải lo lắng nhiều đến tương lai của chúng miễn là chúng ta đừng quấy phá chúng nhiều quá, nhất là đừng phá tổ, lấy trứng và bắt chim non của chúng một cách bừa bãi.

Đối với các loài chim "khó tính", mà ngày nay vẫn còn khá đông, chúng ta phải có biện pháp bảo vệ tích cực hơn, như dành lại cho chúng những khu vực có môi trường sinh sống thích hợp. Nhiều nước trên thế giới đã rất lưu ý đến việc xây dựng các khu dự trữ thiên nhiên rộng lớn, dành lại những đai rừng xen kẽ khi khai hoang để trồng trọt hay chuyển dần những khu rừng chỉ có một thứ cây thành rừng hỗn hợp nhiều thứ cây và thậm chí còn xây dựng lại những khu rừng cấm để chim lưu trú. Đây cũng là những kinh nghiệm tốt mà chúng ta cần lưu ý nghiên cứu để áp dụng cho thích hợp khi xây dựng các vùng kinh tế mới.

Một hậu quả bi thảm nữa mà các loài chim phải gánh chịu là từ sau Đại chiến thế giới thứ II và đặc biệt là trong 10 năm lại đây khi chất độc hóa học dùng để trừ sâu đã được sử dụng một cách rộng rãi như một thứ thuốc kỳ diệu để trừ mọi thứ bệnh sâu bọ cho cây cối. Hậu quả tai hại mà chưa thấy ngay được của thuốc trừ sâu là phần còn dư của nó. Theo giáo sư Oalaxơ thì những con giun đất ăn phải lá mùn, nhiều tháng sau khi người ta phun thuốc ĐĐT để chống bệnh cho cây đã tích lũy chất độc lại trong mình nó. Cứ 10 con giun bị nhiễm độc ấy có thể giết chết một con chim cổ đỏ, nhưng cái chết chưa xẩy ra ngay mà phải một năm sau khi phun thuốc. Khi ghi lại rằng đàn chim cổ đỏ thường sinh sống trên vùng đất bãi ở bang Misigân đã vơi đi chỉ còn khoảng 1% trong thời gian 4 năm, Oalaxơ đã xác nhận rằng "hàng triệu con chim cổ đỏ đã bị ĐĐT giết chết vì muốn cứu lấy mùa màng ở vùng Misigân".

Theo Oalaxơ thì cá cũng như giun đã tích tụ ĐĐT và các chất độc hyđrôcacbon khác trong mình chúng và vì vậy mà loài đại bàng trọc đầu và chim ó biển, hai loài chim ăn cá này có thể sẽ biến đi khỏi bờ biển Đại tây dương trong khoảng 10 hay 20 năm nữa. Trứng của chúng ấp không nở hay chim non không sống được cũng là do đã bị nhiễm chất độc hóa học. Ở nước ta quạ và chim ác là vốn khá nhiều ở khắp các vùng đồng ruộng mà nay hầu như vắng bóng có lẽ cũng là do thuốc trừ sâu. Cả hai loài chim này đều ăn tạp và cả xác động vật chết nên rất dễ bị nhiễm độc.

Mối hiểm họa về chất độc hóa học đã càng ngày càng rõ cho nên nhiều nhà khoa học đang ra sức nghiên cứu để thay thế dần những chất độc nguy hiểm. Các chất thuốc trừ sâu đem dùng cũng được lựa chọn kỹ càng hơn. Nhiều công trình nghiên cứu theo hướng sử dụng các kẻ địch tự nhiên của sâu bọ như vi khuẩn, siêu vi trùng, các loài ong ký sinh, chim, ếch nhái, v.v..., để chế ngự sâu bọ hại cây trồng đang được tiến hành. Những thí nghiệm bước đầu đã đem lại kết quả rất khả quan. Rồi đây chúng ta hy vọng rằng những phương pháp sinh học này sẽ được sử dụng rộng rãi để các loài chim vô tội và nhiều động vật khác được cứu sống để rồi chúng cứu sống cây cối, mùa màng của chúng ta, có nghĩa là giúp ích chúng ta, còn chất độc hóa học chỉ để dùng khi dịch bệnh nguy hiểm lan rộng mà các biện pháp sinh học không đủ sức dập tắt.

Một số loài chim đã có lúc bước đến bờ vực thẳm của sự diệt vong chỉ vì bộ mã của chúng. Trong gần 100 năm, kể từ đầu thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này, lông đà điểu là một món hàng rất đắt giá. Người ta làm quạt, làm phất trần loại sang trọng bằng lông đà điểu. Người ta trang hoàng mũ phụ nữ và mũ các vị tướng bằng lông đà điểu. Kiểu trang hoàng như vậy đã lỗi thời rồi nhưng xưa kia ở Ai Cập và ở châu Âu lại rất được ưa chuộng. Ở Ai Cập, lông đà điểu còn là biểu tượng cho sự công bằng vì phiến trái và phiến phải của lông đà điểu rộng đều như nhau chứ không phải bên rộng bên hẹp như lông các loài chim khác. Chính vì thế mà đà điểu bị săn bắt khắp nơi và đến nay nếu chúng không bị diệt vong thì cũng không bao giờ trở lại được thời huy hoàng của chúng cách ngày nay hơn một thế kỷ nữa.

Con người luôn luôn quý trọng những chiếc lông có màu sắc rực rỡ của nhiều loài chim, nhưng trong thế giới hiện đại này có lẽ chỉ còn một nơi vẫn dùng lông chim làm tiền tệ. Đó là ở Xanta Cơrudơ, một vùng đất thuộc châu Úc ở nam Thái Bình Dương. Trong nền kinh tế của đảo này, thứ tiền kỳ cục đó dưới dạng những chiếc đai đan bằng lông chim có thể thay thế được đồng tiền của châu Úc. Giá trị của chiếc đai lông chim được tiêu chuẩn hóa bằng cái giá cố định của một cô dâu ở Xanta Cơrudơ là 10 cái đai mới tinh dệt bằng loại lông chim màu đỏ tươi óng ánh, tương đương với 25 đồng bảng Anh, còn cái có màu xám cũ kỹ thì chỉ tương đương với 1 đồng silinh mà thôi. Để hoàn thành một chiếc đai phải lấy lông của khoảng 300 con chim. Loài chim tạo nên thứ tiền tệ này là loài chim hút mật bé nhỏ có bộ lông đỏ tươi. Vị trí kỳ lạ của nó trong nền kinh tế của đảo là mối đe dọa đối với sự sống còn của chúng. Nhưng may thay những người thợ dệt đai lông đã giảm đi một nửa so với 10 năm trước đây và khi đồng tiền Úc tràn vào vùng đảo, giá lao động tăng lên thì giá đai cũng tăng theo. Kết quả là càng ngày càng ít đai lưu hành trong đảo, số lông cũng ít cần đến và loài chim hút mật lộng lẫy này đã thoát nạn diệt vong.

Nguồn lợi lớn nhất mà các loại chim sống hoang dại đem đến cho con người không phải là thịt, là trứng, là lông của chúng mà là phân do chúng đã thải ra trong khoảng một triệu năm nay tích tụ lại ở nhiều nơi. Đó là gần 1.000 mỏ phân chim đã được khám phá ra mà phần lớn là ở đảo, một số còn lại ở các mõm đất. Khoảng 200 địa điểm đã được khai thác mà 2/3 số đó là ở Pêru. Hàng chục triệu con chim tập trung làm tổ trên các đảo nhỏ và năm này qua năm khác, lớp phân của chúng để lại đã dày đến vài ba chục mét. Ví dụ, trên một số đảo ở Pêru có tập đoàn chim làm tổ đông khoảng 35 triệu con. Lớp phân ở đó dày đến hơn 30 mét. Ngay từ thời xưa những người dân địa phương đã biết giá trị của phân chim nhưng vào khoảng giữa thế kỷ 19 người ta mới bắt đầu khai thác một cách ồ ạt. Hàng đoàn tầu từ Mỹ và các nước ở châu Âu đã đến đây khai thác và có khoảng 200 triệu tấn phân loại hảo hạng đã được chở đi vun bón cho các cánh đồng trên thế giới trong gần một thế kỷ nay. Năm 1909, Pêru đã quốc hữu hóa các mỏ phân thiên nhiên này và các đảo phân đã được quản lý rất nghiêm ngặt. Không ai được tự do đến các đảo chim. Không ai được đụng chạm đến các tổ chim trên đảo. Máy bay không được bay thấp dưới 500 mét khi bay qua đảo. Tàu bè qua lại gần đảo không được kéo còi. Các nhà khoa học đã đến đó nghiên cứu các bệnh và ký sinh vật của chim để tìm cách bảo vệ và phát triển đàn chim. Việc thu hoạch phân trên đảo cũng được định hạn, cứ hai năm một lần, vào giữa tháng tư và tháng tám, lúc chim rời đảo. Nhờ thực hiện các biện pháp bảo vệ tích cực như trên mà nguồn phân trên các đảo không bị hao hụt. Hàng năm Pêru có thể khai thác vào khoảng 4 triệu tấn phân và tất cả đều được vun bón cho đồng ruộng ở trong nước. Nhờ có phân chim mà hiện nay thu hoạch nông nghiệp của Pêru rất cao: bông đạt 320 kg/ha, trong lúc đó ở nước Mỹ chỉ đạt 55 kg/ha và ở Cộng hòa Ả Rập thống nhất có hơn 70 kg/ha.

Dân cư trên đảo mà hàng năm đã sản xuất ra lượng phân khổng lồ như trên là cốc và bồ nông nâu. Mỗi năm một con chim thải ra khoảng 16 kg phân, sản xuất từ nguyên liệu chủ yếu là cá ở vùng biển Pêru. Nhờ khí hậu khô ráo, lượng mưa rất ít không đủ rửa trôi phân nên lớp phân trên đảo mỗi năm dầy thêm được khoảng 0,07 mét. Ngoài Pêru ra nơi có nguồn phân chim quan trọng được khai thác từ giữa thế kỷ thứ 19 đến nay là các đảo ở Thái Bình Dương với sản lượng từ khi khai thác là 400.000 tấn, chủ yếu là do các loài chim điên, mòng biển và hải âu sản xuất ra.

Ngoài việc săn bắt chim hoang dại, con người thời xưa còn biết nuôi và thuần dưỡng nhiều loài chim như gà, vịt, ngỗng, bồ câu v.v… Nhưng trong các loài chim, con nào đã được thuần dưỡng trước tiên, gà hay bồ câu? Nếu dựa theo kinh thánh mà đoán thì Noê là người đầu tiên thích chơi bồ câu. Còn nghiêm túc mà nói thì Dơne tác giả cuốn "lịch sử của các loại vật nuôi trong nhà" đã khẳng định rằng con bồ câu ở vách đá là loài chim được loài người đem về nuôi đầu tiên. Dơne cho rằng từ thời đại đồ đá mới, con người đã nuôi bồ câu, nhưng chứng cớ sớm nhất về con bồ câu vách đá trở thành con chim nuôi trong nhà là những hình tượng bằng đất nung tìm thấy ở Acpachiia ở Irắc khoảng 4.500 năm trước công nguyên. Người Ai Cập đã biết nuôi bồ câu để ăn thịt và có lẽ để đưa thư nữa, từ 3.000 năm trước công nguyên. Còn bồ câu đã được dùng làm phương tiện thông tin trong chiến tranh từ bao giờ thì không rõ, nhưng chính Julius Xêda, vị đại tướng và Hoàng đế La mã (101 - 44 trước công nguyên) đã dùng bồ câu để đưa tin chiến thắng.

Trong Đại chiến thế giới thứ I chim bồ câu rất đắc lực trong công việc thông tin và đến Đại chiến thế giới thứ II, tuy đã có các phương tiện vô tuyến điện, nhưng bồ câu vẫn còn được sử dụng khá nhiều.

Ngày nay bồ câu vẫn được nuôi ở khắp nơi trên thế giới, để ăn thịt, để làm cảnh và đặc biệt là để đua. Đã có hơn 200 nòi bồ câu cảnh với hình dáng khác nhau đã được tạo thành, còn những cuộc đua bồ câu ngày nay ở nhiều nước đã lôi cuốn hàng triệu người hâm mộ và hàng chục triệu chim. Nhờ sự nuôi dưỡng, chăm sóc và rèn luyện qua nhiều thế hệ mà người ta đã tạo được những nòi bồ câu có thể bay đua đường dài đến 500-600 km với tốc độ bay gấp đôi tốc độ bay của chim bồ câu tổ tiên hoang dại.

Loài chim được con người thuần dưỡng sớm nhất sau bồ câu là gà. Một số chuyên gia cho rằng gà nuôi do nhiều nguồn gốc, nhưng nhiều dẫn liệu chắc chắn chứng tỏ rằng tất cả các nòi gà đều bắt nguồn từ loài gà rừng ở Đông nam Á mà nước ta là nơi có nhiều nhất.

Hiện nay chúng ta chưa biết được chắc chắn con người đã đem loài gà rừng về nuôi và thuần dưỡng từ bao giờ, nhưng có lẽ cũng phải từ hơn 5.000 năm trước đây. Những hình tượng bằng đất sét tìm thấy ở hai thành phố cổ ở Ấn Độ là Môhenjođaro và Harappa, hưng thịnh vào khoảng 3.300 và 2.500 năm trước công nguyên chứng tỏ rằng gà đã được bắt giữ để nuôi. Theo Dơne thì gà chỉ mới được thuần dưỡng hoàn toàn vào khoảng 2.000 năm trước công nguyên. Ở nước ta các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hình tượng gà ở nhiều địa điểm khảo cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng thau vào khoảng 3.000 đến 2.000 năm trước công nguyên và sơ kỳ thời đại đồ gốm vào khoảng 1.000 năm trước công nguyên. Ở Đồng Đậu (Vĩnh Phú khoảng 3.300 năm trước đây) đã tìm thấy hình tượng con gà bằng đất nung. Ở xóm Rền (Vĩnh Phú) tìm thấy đầu gà bằng đất nung. Các tượng gà bằng đồng thau cũng đã tìm thấy ở các địa điểm khảo cổ Vinh Quang, gò Chiềng Vây (Hà Sơn Bình) và gò chùa Thông (Hà Nội). Trong các hoa văn đúc nổi trang trí trên mặt các trống đồng Hồng Hạ, Ngọc Lũ cũng đã tìm thấy hình tượng con gà. Với những dẫn liệu trên, nếu nói rằng gà đã được thuần dưỡng ở nước ta vào khoảng vài ba nghìn năm trước công nguyên thì có lẽ còn hơi vội, nhưng nếu nói nước ta là một trong những nước quê hương của gà nuôi thì có thể là điều chắc chắn. Các nước ở càng xa vùng Đông nam Á, gà càng lan đến chậm. Sớm nhất có lẽ là ở Trung Quốc, khoảng 1.500 năm trước công nguyên rồi đến Ai Cập (thế kỷ thứ 10 trước CN), các nước ở bờ biển Địa Trung Hải (thế kỷ thứ 8), Nhật Bản (thế kỷ thứ 7), Thổ Nhĩ Kỳ (thế kỷ thứ 5), Pháp và Thụy Sĩ (thế kỷ thứ 4). Sau công nguyên gà mới có ở Anh (thế kỷ thứ 3), ở vùng Vônga (thế kỷ thứ 10) và đến thế kỷ thứ 13 thì ở khắp châu Âu. Ngày nay gà đấ thâm nhập khắp hang cùng ngõ hẻm trên Trái đất, ở bất kỳ nơi nào có con người sinh sống, chỉ trừ những vùng băng tuyết lạnh lẽo. Gà đã trở thành loài chim thân thiết nhất với con người và cũng đóng góp nhiều nhất cho lợi ích của con người. Nó đã trả giá cho sự an toàn và thịnh vượng của nòi giống bằng lượng thịt và trứng khổng lồ của mình. Trong khi anh em đồng loại của nó là loài gà rừng hầu như không có gì thay đổi thì gà nhà đã có hơn trăm loại khác nhau. Qua chọn lọc và nuôi dưỡng người ta đã tạo được những nòi chóng lớn và nặng cân để lấy thịt, những nòi đẻ trứng nhiều mà những con "quán quân" có thể đẻ gần như mỗi ngày một trứng.

Ngoài ra với óc thẫm mỹ của mình con người cũng đã lai tạo được nhiều nòi gà có hình dáng hay bộ lông đặc sắc để nuôi làm cảnh. Một số sản phẩm đó thật sự là đẹp, một số khác thì kỳ dị và một số khác nữa chỉ đáng coi là một thứ kỳ quái: có con khổng lồ, có con tí hon, có con với đôi chân cao lêu nghêu mà cũng có con lùn tịt một cách buồn cười. Một trong những sản phẩm kỳ lạ nhất của nghệ thuật tạo giống là con gà cảnh đuôi dài nổi tiếng ở Nhật Bản, con Oganađori có bộ lông đuôi dài đến 6 mét.

H.90. Gà cảnh Oganađori.

Tuy những nhà chọn giống đang ganh đua nhau trong việc tạo những nòi gà kỳ lạ, nhưng mục đích chính của việc chăn nuôi gà ở khắp nơi vẫn là thịt và trứng vì gà là một loài động vật sinh trưởng ngắn ngày, nhân giống nhanh chỉ cần một thời gian ngắn đã có thể sản xuất ra nhiều thịt và trứng. Một năm, 1 kg thể trọng gà mái có thể sản xuất ra được 70 kg thịt hơi, trong khi đó 1 kg bò cái chỉ cho 0,37 kg, 1 kg cừu cái cho 1,27 kg, 1 kg lợn cái cho 5,1 kg. Năm 1890 một trại nuôi 500 gà mái đã là điều phi thường thì ngày nay những xí nghiệp gà thịt sản xuất hàng năm từ 1 đến 5 triệu con là bình thường. Trong vòng 15 năm trở lại đây, chăn nuôi gà theo kiểu công nghiệp đã có những tiến bộ vượt bực về nhiều mặt và lượng thịt gà sản xuất ra hàng năm ở trên thế giới đã chiếm 70-80% các loại thịt gia cầm.

Sau gà có lẽ vịt rồi đến ngỗng là những loại gia cầm được nuôi phổ biến nhất ngày nay. Về gốc gác của chúng thì cũng chưa ai biết rõ chúng được nuôi đầu tiên từ đâu, nhưng có thể rằng vịt đã được thuần dưỡng đầu tiên ở Đức (phương Tây) hay ở Trung Quốc (phương Ðông). Còn ngỗng có lẽ đã được thuần dưỡng từ sớm cũng như bồ câu và gà ở một vài nơi. Trong tác phẩm bất hủ của Hôme viết về cuộc chiến tranh ở thành Tơroa (khoảng 1200 trước C.N.) đã nói về chuyện nàng Pênêlốp, vợ Ôđixê nuôi 20 con ngỗng và còn nói rõ rằng có một số con màu trắng, và hình như người dân cổ Ai Cập cũng đã thuần dưỡng loài ngỗng của xứ sở họ với chứng cớ là những hình vẽ còn để lại ở các đài kỷ niệm xây vào khoảng 2000 năm trước công nguyên.

Nhiều loài chim khác cũng đã được con người thuần dưỡng như ngan, gà tây, gà Nhật Bản, nhưng chưa được nuôi phổ biến như gà vịt và ngỗng. Ở Nhật Bản mới đây đã thuần dưỡng được một loài cay mốc để lấy trứng. Trứng cay mốc tuy nhỏ nhưng rất ngon. Một số cay mốc mái nuôi trong lồng đã đẻ được đến 200 trứng/năm.

Trong số chim cảnh được nuôi từ trước đến nay chỉ mới có hai loài là thực sự được thuần dưỡng. Đó là loài hoàng yến và loài vẹt vằn.

Hoàng yến là một loài chim nhỏ có quê hương ở các đảo phía tây châu Âu và bắc châu Phi. Chúng đã được đem về nuôi vào khoảng giữa thế kỷ thứ 16. Chúng đã tỏ ra dễ lai tạo như gà và bồ câu. Từ nòi hoang dại màu nâu vàng người ta đã nhanh chóng tạo ra được nhiều loài chim hót điêu luyện và có bộ lông đẹp nhiều màu sắc khác nhau. Chúng sinh đẻ trong các chuồng chật hẹp một cách dễ dàng.

Cũng tương tự như hoàng yến, vẹt vằn có quê hương ở châu Úc, tuy mới được đem về nuôi đầu tiên ở nước Anh vào năm 1840, chúng cũng đã nhanh chóng trở thành chim nuôi rất dễ tính. Ngày nay loài chim này đã có đến hàng trăm dạng có màu sắc khác nhau, từ màu trắng đến màu vàng và vàng nhạt, từ màu xanh thẫm đến xanh rêu và xám. Chúng sinh sản rất dễ dàng và có lẽ còn dễ nuôi hơn cả hoàng yến.

Hết

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Đời sống các loài chim
  • Tác giả: Võ Quý
  • Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 1978
  • Đôi dòng về tác giả: GS. Võ Quý: Ông dành cả cuộc đời say sưa nghiên cứu các loài chim và có nhiều đóng góp lớn cho khoa học môi trường Việt Nam và thế giới. Ông là người Việt Nam đầu tiên ở Châu Á giành được giải thưởng Blue Planet Prize về môi trường.
"Like" us to know more!