Chu du châu Âu

7. Chu du châu Âu

Trích 100 Ryō tiền trợ cấp gửi về cho mẹ

Tôi từ Mỹ về năm Man'en thứ nhất (1860-ND), dịch và cho xuất bản cuốn Kaei Tsūgo. Đó có thể được gọi là cuốn sách đầu tay của tôi. Khoảng ba năm đầu sau khi ở Mỹ về, tôi chuyên vào việc nghiên cứu tiếng Anh hơn là dạy người khác.

Mùa đông năm Bunkyū thứ nhất (1861-ND), Mạc phủ phái một đoàn sứ giả sang các nước châu Âu. Khi đó, tôi cũng có cơ hội được đi theo đoàn sứ tiết. Lần trước, được đi Mỹ là do tôi khẩn cầu thuyền trưởng Kimura Setsutsu-no Kami, nhờ ông cho đi làm tùy tùng, còn lần này tôi là người làm thuê cho Mạc phủ và được lệnh đi châu Âu. Như thế nghiễm nhiên tôi có tư cách là người của Mạc phủ và được nhận khoảng 400 Ryō gì đó.

Chi tiêu trên đường đi đều dùng tiền công quỹ, thêm vào đó lại được nhận thêm 400 Ryō tiền trợ cấp. Tôi vốn là người không ham chuyện tiền nong và cũng không bao giờ tiêu xài hoang phí. Trong 400 Ryō nhận được, tôi gửi 100 Ryō về cho mẹ ở quê. Tôi nghĩ thương mẹ nhiều, vì từ sau chuyến đi Mỹ tôi chưa về quê thăm, lại thêm lần này đi châu Âu nữa nên không thể yên lòng được. Không chỉ có thế, trong thời gian tôi đi Mỹ, mọi người ở Nakatsu dựng lên những chuyện như, tôi đã đi Mỹ và bỏ mạng ở đâu đó. Độc địa nhất là chuyện một người họ hàng nói với mẹ tôi: “Thật khổ thân quá! Cậu Yukichi cuối cùng đã chết ở Mỹ, thi thể bị ướp muối và đem về Edo rồi!”. Không hiểu là dọa nạt hay trêu đùa mà độc địa đến vậy. Họ lấy mẹ tôi ra như để làm trò cười.

Lúc đó tôi đành im lặng vì không còn cách nào khác, nhưng nghĩ về mẹ, tôi không thể yên lòng. Gửi tiền về không có nghĩa là đã bù đắp hết được, nhưng 100 Ryō hay 200 Ryō cũng là món tiền lớn mà từ khi sinh ra chưa bao giờ tôi có trong tay. Tôi muốn đỡ đần mẹ, nên đã chia số tiền nhận được của Mạc phủ để gửi về quê.

Hành trình một năm công du châu Âu

Như vậy là tôi được đi châu Âu. Tàu khởi hành vào tháng 12 năm Bunkyū thứ nhất (1861-ND). Lần này, tàu Odin đã từ Anh sang đón đoàn sứ giả của Nhật. Chúng tôi lên tàu đó, ghé qua Hong Kong, Singapore, vào vùng biển Hồng Hải, sau đó cả đoàn lên bờ từ Suez, đi tàu hoả chạy bằng hơi đốt đến Cairo, Hy Lạp nghỉ hai đêm, lại ra biển Địa Trung Hải lên tàu sang cảng Marseille của Pháp, từ đó lại lên tàu hỏa đi Lyon, nghỉ ở đó một đêm, đến Paris ở hai mươi ngày, hoàn tất việc tiếp kiến với chính phủ Pháp và rời Paris sang Anh.

Từ Anh lại đi Hà Lan, từ Hà Lan đến thủ đô Berlin của nước Phổ, lại từ Berlin đi đến St. Petersburg của Nga. Sau đó, chúng tôi trở về Paris, từ Pháp lên tàu đi Bồ Đào Nha, vào vùng biển Địa Trung Hải và theo đúng đường cũ trở về. Tất cả hành trình đó mất khoảng một năm, tức là mãi đến cuối năm Bunkyū thứ hai (1862-ND), chúng tôi mới về đến Nhật.

Bắt đầu mua sách vở tiếng Anh về nước

Trong chuyến đi lần này, tôi đã đọc và nói được tiếng Anh. Mặt khác, như đã nói trước đây, tôi có chút tiền vẫn chưa dùng vào việc gì. Khi ở Nhật đi, tôi chỉ có hành trang bình thường. Thời đó giá cả còn rẻ, không làm gì cần nhiều tiền đến thế, nên phần thừa ra tôi đem cả theo người. Khi nghỉ lại ở London, tôi không mua gì mà dồn hết tiền vào chỉ để mua sách. Đó có thể nói là khởi đầu của việc nhập khẩu sách từ nước ngoài về Nhật. Việc tôi có thể dùng sách riêng một cách thoải mái cũng được bắt đầu từ đó.

Thành viên đoàn sứ tiết

Về những chuyện mắt thấy tai nghe trên đường chu du các nước có rất nhiều, nhưng tôi xin kể sau. Trước hết, xin được nói về tình hình của đoàn, về những người cùng đi, gồm có: Takeno'uchi Shimotsuke-no Kami (Đại sứ), Matsudaira Iwami-no Kami (Phó sứ), Kyōgoku Noto-no Kami (Phó sứ thứ hai kiêm phụ trách an ninh), Shibata Sadatarō (Kumigashira), Hitaka Keizaburō (Kế toán), Fukuda Sakutarō (Okachi Metsuke), Mizushina Rakutarō (Shirake-yaku), Okazasaki Tōzaemon (Bác sĩ đông y), Takashima Yūkei (Bác sĩ đông y), Kawasaki Dōmin (Bác sĩ), Mashizu Shunjirō (Gofushin-yaku), Ueda Yusuke (Jōyaku Motojime), Mori Hachitarō (Jōyaku), các phiên dịch là Fukuchi Genichirō, Tachi Hirosaku, Ōta Genzaburō, Saitō Dainoshin (Dōshin), Takamatsu Hikosaburō (Okobito Metsuke), Yamada Hachirō, Matsuki Kōan, Mitsukuri Shūhei, Fukuzawa Yukichi.

Ngoài ra, mỗi ông sứ tiết còn có hai, ba người theo hầu. Cả đoàn có sáu, bảy người đi theo chỉ để lo chuyện cơm nước. Trong số này cũng có những samurai được các lãnh chúa bí mật cử đi xem xét tình hình. Matsuki, Mitsukuri và Fukuzawa chỉ là những người chức dịch bình thường, nhưng vốn là Kerai của lãnh chúa, là bồi thần, nên tên được xếp ở vị trí cuối cùng trong đoàn. Cả đoàn gần 40 người, tất cả đều mặc y phục của Nhật, đeo hai thanh gươm lớn nhỏ đi diễu ngoài đường phố Paris, London. Nghĩ cũng hài hước.

Đồ đạc chuẩn bị cho chuyến đi - Thất bại nối tiếp thất bại

Trước lúc từ Nhật đi, người ta bảo ở nước ngoài đồ ăn không hợp, nên chúng tôi đã đóng gạo vào các hộp, tích trữ mấy trăm bao quân lương. Hơn nữa lại chuẩn bị cho cả khi dừng chân nghỉ lại nữa, nên mang theo mấy chục chiếc đèn có lồng lưới sắt bao quanh hình vuông, mỗi cạnh dài 2 shaku (khoảng 60,6cm-ND). Ngoài ra còn mang đủ loại đèn như đèn lồng, đèn cầy nhỏ cầm khi đi lại. Chúng tôi chuẩn bị đầy đủ mọi thứ chất lên tàu, không khác gì hành lý của một vị lãnh chúa chuẩn bị nghỉ lại ở các trạm ngựa khi đi trên đường Tōkaidō (Đông Hải Đạo).

Dần dần, chúng tôi cũng đến được Pháp. Ở đó có người của họ ra đón. Sau màn chào hỏi, trước hết chúng tôi trình bày nguyện vọng rằng, đoàn chúng tôi người đông mà đồ đạc cũng nhiều, nên mong họ sắp xếp sao cho đoàn tùy tùng được ở gần với các quan trên cho tiện. Nói như thế có nghĩa là trưởng đoàn lo không quản lý được và muốn cả đoàn ở gần đấy thôi. Nghe thấy thế họ đồng ý ngay và hỏi xem chúng tôi có bao nhiêu người. Khi biết có khoảng hơn 30 người, họ bảo: “Chỉ có từng ấy người thì xin các vị chia giúp làm 10 hay 20 nhóm và cùng vào nghỉ trong một khách sạn!”.

Nghe câu trả lời đó, chúng tôi chưa kịp hiểu ra sao thì họ đã dẫn đến một khách sạn. Đó là một khu nhà lớn tên là Hotel du Louvre, ở ngoài hoàng cung Paris, cao 5 tầng với khoảng 600 phòng, hơn 500 người phục vụ, có thể đón tiếp hơn một ngàn khách. Thế nên, đoàn sứ tiết của Nhật có ở đâu, người ta cũng không biết. Tôi lo lắng, nhất là phải làm sao khỏi bị lạc trong hành lang khách sạn. Từ các phòng luôn tỏa ra một làn không khí ấm áp mà không cần phải dùng lò sưởi hay hơi nước. Vô số đèn chạy bằng ga chiếu sáng cho hành lang và các phòng, nên xung quanh lúc nào cũng sáng như ban ngày, không biết lúc nào mặt trời lặn.

Trong phòng ăn bày toàn sơn hào hải vị, ngon đến mức dù có ghét châu Âu chăng nữa, chắc chắn miệng và dạ dày cũng không có lý do gì để bài trừ họ. Mọi người đều mừng rỡ thưởng thức các món ăn. Nhưng như thế thì những thứ mang từ Nhật sang không biết dùng vào việc gì. Không thể để đèn cầy ở hành lang, cũng không thể nấu cơm ở trong nhà bếp của họ được. Cuối cùng, chúng tôi phải mang hết những đồ lặt vặt, trước hết là gạo, đem cho người phục vụ tên là Lambert (?) làm cậu ta ngạc nhiên, không hiểu ra làm sao.

Một chuyện nực cười trong chuyến chu du

Tình hình đại khái là như thế. Những thất bại của chúng tôi nhiều vô số, không biết đâu mà kể cho hết. Ví như chuyện nhầm từ “cigar”với từ “sugar”, muốn đi mua thuốc xì gà hút mà lại mang đường ăn về. Ông bác sĩ tưởng đã mua được sâm mà thế nào lại nhầm phải bột gừng.

Lại còn có cả chuyện một hôm, ông sứ tiết đi vệ sinh và người hầu mang đèn cầy đi theo. Cả hai cánh cửa nhà vệ sinh đều mở toang, còn ông sứ tiết thì đang đi vệ sinh theo kiểu của Nhật ở bên trong. Khi đó, anh người hầu đứng ngoài hành lang cầm áo ngoài cùng quần áo lót của ông lớn và đứng trực một cách nghiêm túc. Đèn ga trong và ngoài nhà vệ sinh sáng hơn ban ngày, nhìn cảnh đó không thể chịu được. Đúng lúc đó tôi đi qua, nhưng không phải là lúc có thể ngạc nhiên được nữa, mà phải lấy người đứng che đi. Tôi không nói năng gì, lập tức đóng sầm cửa lại và sau đó mới răn cậu người hầu vài câu.

Nhân tâm và tình hình chính trị ở châu Âu

Về chính trị, trong thời gian ở London và Paris, tôi đã được gặp nhiều người và nghe nhiều chuyện, nhưng do không nắm được căn nguyên, nguồn gốc sự việc, nên có nghe cũng không hiểu hết. Lúc đó, Hoàng đế Napoleon đệ tam của Pháp đang được ca tụng là chính trị gia tài ba nhất châu Âu và là người có quyền lực vĩ đại, nhưng cũng không thể chủ quan với người hàng xóm hùng mạnh là đế quốc Phổ. Napoleon đệ tam tiến hành chiến tranh với Áo, sau đó lại có rắc rối về vùng biên giới Alsace-Lorraine, gây nên một vấn đề mang tính quốc tế, nên thế nào trong vài năm tới cũng xảy ra biến loạn là dự đoán của những người hiểu biết về chính trị. Tất cả những chuyện đó thỉnh thoảng tôi có ghi lại trong nhật ký của mình.

Khi chúng tôi ở London, có một nhân viên lấy danh nghĩa công ty mình đem đơn kiến nghị trình lên quốc hội. Bản kiến nghị đó cũng được gửi đến đoàn sứ tiết của Nhật Bản. Nội dung chính của bản kiến nghị tố cáo Công sứ Anh tại Nhật là Rutherford Alcock có những hành động bạo ngược ở một đất nước mới được mở cửa, đối đãi với người dân Nhật như với những người dân đã bị chinh phục. Ông đưa ra rất nhiều chứng cứ, trong đó chứng cứ có ý nghĩa quyết định kết tội công sứ R. Alcock là ông ta dám cưỡi ngựa cả vào trong khu Shiba (Chi), nơi được người Nhật tôn thờ như chốn linh thiêng của cả nước. Ông phê phán gay gắt, đó là hành động vô lễ, tồi tệ đến mức không thể biểu lộ được bằng lời.

Tôi đọc bản kiến nghị đó mà xúc động vô cùng. Thế mới biết, trên đời này không phải toàn quỷ dữ. Cho đến thời điểm đó, khi quan sát hành động của chính phủ nước ngoài, tôi đã rất khó chịu, vì họ ra sức lợi dụng thế yếu của nước Nhật, chèn ép nước Nhật mù chữ, mông muội một cách vô lý, nhưng khi đến tận các nước đó mới thấy, vẫn có những con người công minh chính đại và nhân hậu. Nghĩ như thế, nên tôi càng tin tưởng chắc chắn vào chủ trương mở cửa đất nước mà trước nay vẫn theo đuổi.

Tự tiện mua bán đất

Trong chuyến chu du các nước châu Âu, sự tiếp đón nồng nhiệt nhất phải kể đến Hà Lan. Không có nước nào hơn được Hà Lan về chuyện này. Cũng là vì mối quan hệ đặc biệt đã có truyền thống từ ba trăm năm trước giữa hai nước, nên chuyện đó là đương nhiên. Vả lại, tôi cùng những người trong đoàn đều đọc được chữ viết ngang, không ai không biết tiếng Hà Lan, nên chỉ riêng về lời ăn tiếng nói thôi thì khi đặt chân lên mảnh đất đó tự nhiên chúng tôi đã có cảm giác dễ chịu như được trở về quê hương thứ hai của mình. Chuyện đó thì xin tạm gác lại, chỉ xin kể lại một chuyện vui.

Một lần, ông sứ tiết đi Amsterdam gặp gỡ với các thương gia ở đó. Trong câu chuyện trên trời dưới bể, ông sứ tiết mới đặt câu hỏi rằng: “Đất đai ở Amsterdam này có được tự tiện mua bán không?”, thì được trả lời rằng: “Đó vốn là quyền tự do của mỗi người!”. “Thế được bán cho cả người nước ngoài sao?”. “Có thể bán cho bất kỳ ai, tùy thuộc vào giá cả”. “Thế nếu một người nước ngoài giàu có bỏ thật nhiều tiền ra mua đất, xây thành đắp lũy và dựng pháo đài ở đây thì cũng được tự ý làm à?”. Khi bị hỏi như vậy, ông thương gia nhăn mặt và bảo: “Chuyện đó chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Vả lại, những người Pháp, Anh hay một nước nào đó, dù có nhiều tiền cũng chẳng ai dại gì mà đi mua đất ở nước khác và dựng thành quách ở đây làm gì!”. Nhưng cả hai bên đều không thuyết phục được nhau.

Tôi chứng kiến cảnh ấy mà thấy buồn cười. Câu hỏi bên phía người Nhật là xuất phát từ quan điểm về chiến lược ngoại giao của riêng nước Nhật lúc đó mà lại khăng khăng đi chất vấn người nước ngoài sống trong hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác thì làm sao dễ dàng tìm được tiếng nói chung?

Tham quan tự do trong khuôn khổ

Trước đây, khi tôi đi Mỹ thì ở San Francisco vẫn chưa có đường sắt, nên tôi chưa được nhìn thấy. Nhưng lần này, lên bờ từ Suez là chúng tôi đã được lên tàu hỏa. Đó là lần đầu tiên. Sau đó, đi đến nơi này nơi khác của các nước châu Âu cũng đều bằng tàu hỏa. Khi đến nơi là được nghênh đón, được dẫn đi thăm nhiều nơi như các khu căn cứ hải quân, nhà máy công và tư, ngân hàng, nhà thờ, trường học, câu lạc bộ. Tất nhiên đến đâu cũng đều được đón tiếp rất nhiệt tình. Khi đến một bệnh viện, họ còn cho chúng tôi xem cả ca phẫu thuật của khoa ngoại. Hoặc họ mời chúng tôi đi ăn tối ở nhà một người nổi tiếng, hoặc mời đi xem nhạc hội. Họ hướng dẫn quá nhiệt tình, quá nhiều lời mời làm chúng tôi đến mệt.

Ở đây có một câu chuyện khá buồn cười. Hồi đó, Nhật Bản vẫn còn trong cảnh bế quan tỏa cảng, nên mặc dù có ở nước ngoài cũng không được phép gặp gỡ riêng người nước ngoài. Khi đó, có ba vị sứ tiết là Takeno'uchi, Matsudaira, Kyōgoku, trong đó ông Kyōgoku có trách nhiệm quản lý về mặt an ninh. Dưới quyền ông còn có thêm vài người nữa. Họ luôn căng mắt giám sát những người trong đoàn, nên rất khó gặp gỡ với người nước ngoài.

Trong đoàn, tôi có hai người bạn tri âm tri kỷ, mang cùng một mục đích là anh Mitsukuri Shūhei và anh Matsuki Kōan. Chúng tôi vốn là bạn học lâu năm, có quan hệ qua lại với nhau, nên khi đi ra nước ngoài thì không có lý gì mà tự nhiên lại tách nhau ra cả. Chúng tôi định xem xét gì cũng không được những viên chức theo dõi an ninh đồng ý. Chúng tôi đi đến đâu là có người đi cùng để theo dõi đến đó. Điều này cũng bởi vì chúng tôi đều là bồi thần của Mạc phủ và lại đọc thông thạo sách vở châu Âu, nên họ cho rằng, không thể chủ quan được. Định đi tham quan đâu đó cũng nhất thiết phải có người theo dõi rất nghiêm ngặt. Mà nào chúng tôi có ý định buôn lậu hay tiết lộ bí mật quốc gia cho ai đâu? Họ đi theo chỉ toàn nhắc nhở khó chịu. Mà chỉ lắm điều đã đành một nhẽ, khổ hơn nữa là nếu họ có việc bận gì là chúng tôi không được đi đâu cả. Điều đó làm chúng tôi bị mất tự do. Có lần tôi nói đùa: “Vấn đề gì! Anh em mình như được chu du châu Âu ở trong khuôn khổ nước Nhật khép kín thôi ấy mà!” và cả ba cùng cười phá lên.

Sợ nhìn thấy máu

Tuy thế, chúng tôi vẫn xem được những gì mình cần xem, hỏi được những điều cần hỏi, nghĩa là đã làm được tất cả những điều muốn làm. Nhưng chỉ có một điều mà tôi cảm thấy xấu hổ với chính mình. Từ nhỏ, tôi vốn là người khỏe mạnh, thỉnh thoảng còn hay ăn to nói lớn, nhưng bẩm sinh có một điểm yếu là ghét việc sát sinh và sợ nhìn thấy máu. Chẳng hạn, hồi tôi học ở trường Ogata là lúc đang thịnh hành phương pháp chữa bệnh bằng cách trích máu từ tĩnh mạch của người bệnh.

Những bạn đồng môn của tôi thì không nói, mà cả tôi cũng đã có lần phải châm kim vào mạch máu ở cánh tay để trích máu. Nhưng khi nhìn thấy máu của mình hay người khác chảy ra, tôi đều không mấy dễ chịu. Hễ cứ khi nói đến việc trích máu là tôi nhắm tịt mắt lại để khỏi phải nhìn thấy. Mỗi khi vết thương có bị tấy mủ, tôi cũng mong sao đừng phải châm kim vào. Chỉ cần thấy một chút máu chảy ra là mặt tôi đã xanh tái. Mỗi lần gặp những người hành khất ốm ngã vật bên đường, những người thắt cổ tự sát hay những người chết, dù thế nào, tôi cũng không thể đứng nhìn được. Không chỉ việc nhìn tận mắt mà tôi còn nhút nhát đến mức khi có ai kể chuyện người chết cũng không dám nghe, phải lảng đi chỗ khác.

Nhưng khi đi thăm nước Nga, có một bệnh viện tiến hành phẫu thuật ngoại khoa và họ mời chúng tôi đi xem. Anh Mitsukuri và anh Matsuki đều học ngành y, nên đồng ý đi ngay. Các anh bảo tôi đi cùng, nên đành miễn cưỡng đi theo. Chúng tôi vào phòng mổ thì họ đang chuẩn bị làm phẫu thuật lấy sỏi thận. Ông bác sĩ cầm dao mổ chính mặc áo Blouse trắng, đưa bệnh nhân lên bàn giống như đưa lên chiếc thớt vậy. Sau đó, ông cho người bệnh hít thuốc mê, tạm thời làm cho họ lịm đi, và cầm con dao sắc loang loáng đâm phụp vào người bệnh. Tức thì máu phun ra, bắn lên đỏ cả áo ông bác sĩ. Ông đưa một thứ như cái móc nhỏ vào miệng vết cắt và làm động tác như để lấy viên sỏi từ trong bàng quang ra. Trong khi đó, tôi thấy người nao nao và ngất đi. Thấy vậy, anh Yamada Hachirō (Sơn-Điền Bát-Lang) đã đưa tôi ra ngoài phòng, cho uống nước và mãi sau đó mới tỉnh lại được.

Trước đó, trong một viện mắt ở Berlin, mới chỉ xem được một nửa cuộc phẫu thuật mà khi đó người ta đưa dao chọc vào mắt một em bé bị lác thì tôi đã phải chạy vội ra ngoài. Lần đó, tôi không bị sao. Hai anh Mitsukuri và Matsuki chê tôi nhát như cáy ngày và hay lấy ra để trêu trọc, nhưng đó là tính bẩm sinh, biết làm thế nào được? Tật đó có lẽ sẽ theo tôi hết đời, cho đến khi chết đi.

Những dự định đi tìm hiểu về tình hình châu Âu

Xin được nói về dự định của tôi trong chuyến chu du châu Âu. Khi còn ở Nhật, mỗi khi đọc sách có những từ không hiểu, tra cứu từ điển cũng hiểu được. Nhưng không gì dễ hiểu bằng gặp trực tiếp người bản địa và hỏi họ. Đối với người học ngoại ngữ, khó nhất là những điều không có ghi trong từ điển. Vì thế, tôi định trong thời gian ở nước ngoài sẽ phải hỏi người bản địa những điều đã tra cứu trên sách vở mà chưa rõ. Theo hướng đó, khi suy đoán thấy một nhân vật nào đó tương đối tầm cỡ là tôi dốc sức vào tìm hiểu về họ, hỏi han dần dần và ghi chép lại như thế này (lúc này thầy Fukuzawa đưa cho tôi xem một cuốn sổ tay dài và nhỏ - Yano Yujirō chú thích).

Khi về Nhật, tôi lấy những ghi chép ấy làm nền tảng chính, sau đó tra cứu thêm các sách vở khác, chắp nối những điều nhớ được và viết cuốn Seiyō Jijō (Tây-dương Sự-tình). Những điều viết về các ngành hóa học, vật lý, về máy móc, điện năng, hơi nước, in ấn hay các ngành công nghiệp thì không phải hỏi chi li từng chút một. Tôi không phải là chuyên gia về ngành đó, nên khi nghe chuyện không thể hiểu được hết ý nghĩa sâu xa, chỉ có nghe đúng chuyện người ta nói. Mà đã nghe thì sau đó về tra cứu lại sẽ dễ hiểu hơn.

Chẳng hạn, ở đây có một bệnh viện. Thế thì phải tìm hiểu về chi phí ở đó thế nào và ai sẽ là người trả các khoản này? Lại có một thứ người ta gọi là Bank (Ngân hàng -ND), lại nảy sinh ra vấn đề cần tìm hiểu xem dòng lưu chuyển thu chi tiền tệ như thế nào? Họ đang tiến hành xây dựng Luật bưu chính viễn thông thì phải biết luật đó được đưa ra với mục đích gì? Hay như ở Pháp tiến hành Luật trưng quân, nhưng ở Anh lại không có như thế. Vậy thì, Luật trưng quân tựu trung là lấy mục đích gì làm căn bản? Những chuyện đó, tôi hoàn toàn không hiểu. Cả về Luật bầu cử trong chính trị, tôi cũng không biết gì. Không biết nên phải hỏi người bên đó xem Luật bầu cử là thế nào, nghị viện là cơ quan gì thì họ chỉ cười, vì tôi hỏi điều mà mọi người đều đã biết rõ. Nhưng đằng này tôi không hiểu và cũng không biết suy đoán ra sao.

Về các đảng phái thì hình như có Đảng Bảo thủ, Đảng Tự do. Hai đảng này luôn cạnh tranh gay gắt, không bên nào chịu thua kém bên nào. Thế nghĩa là thế nào? Tại sao trong một xã hội yên bình như vậy mà các chính trị gia lại phải ra sức tranh cãi với nhau? Thật không thể hiểu nổi. Thế này thì gay go quá. Họ đang làm gì thế không biết? Mà lạ thay, những người là kẻ thù của nhau lại cùng ăn, cùng uống trên một bàn tiệc. Thật không thể hiểu được. Cho đến khi hiểu được cũng phải rất vất vả. Mối liên hệ giữa chuyện này với chuyện kia, dần dần tôi cũng hiểu ra từng chút một, sau đó xâu chuỗi thành một câu chuyện đầy đủ và tạm cắt nghĩa được cũng phải mất đến năm, mười ngày. Đó chính là điều được lớn nhất của tôi trong chuyến đi châu Âu.

Đàm phán về vấn đề biên giới đảo Sakhalin

Nếu phải nói về một chuyện không ra sao nhất trong chuyến đi này, thì đó là trước khi chúng tôi rời Nhật, trong nước đang rầm rộ tư tưởng Nhưỡng di, nên về mặt ngoại giao rất phức tạp.

Khi đến Nga, đoàn sứ tiết đã mang vấn đề biên giới đảo Sakhalin ra đàm phán. Tôi cũng được dự buổi đàm phán đó. Khi sứ tiết của Nhật đưa ra vấn đề thì phía Nga không tranh cãi một chút nào. Hoặc khi chúng tôi đưa bản đồ ra, chỉ rằng, màu của bản đồ chẳng phải là rõ rành rành thế này sao, chính màu của bản đồ là để chỉ đường biên giới, thì người Nga lý luận rằng, nếu dùng màu để phân định lãnh thổ thì họ sẽ bôi đỏ cả bản đồ và thế giới sẽ là lãnh thổ của người Nga. Ngược lại, nếu bôi xanh hết cả bản đồ thì thế giới sẽ là của người Nhật, chứ không khó gì chuyện đó. Họ cứ ngạo mạn phóng ngôn bừa bãi như vậy, nên không làm thế nào mà tìm được tiếng nói chung.

Cuối cùng, chỉ đi đến được một kết luận không ra kết luận là hai bên sẽ cùng đo diện tích thực của đảo, để trên cơ sở đó tính toán. Nhưng họ cũng chỉ làm qua quýt và dừng cuộc đàm phán tại đó.

Tôi có nghe lỏm được họ nói với nhau rằng, chuyện này không thể giải quyết ngay được. Nhật Bản là đất nước vẫn còn trong mông muội, lại hống hách, dám phổ biến thuyết Nhưỡng di, chả mấy chốc mà sẽ kiệt quệ đi thôi, lo gì!

Sự đón tiếp nồng hậu của chính phủ Nga

Cuộc đàm phán ngoại giao, như tôi vừa nói không đạt được điều gì khả quan, nhưng về chuyện đối đãi riêng tư sau đó lại không phải thế. Trong thời gian chúng tôi ở St. Petersburg, họ đặc biệt ưu ái cho cả đoàn mượn một dinh cơ dành cho quan chức và có thêm bốn, năm người chuyên đón tiếp, phục vụ. Ở trong tư dinh đó, họ còn tổ chức tiệc tùng rất long trọng, không có gì để phải phàn nàn. Khi không bận việc công cán, họ còn dẫn chúng tôi đi thăm quan những di tích cổ, tiếp đến là những nhà máy, xí nghiệp. Dần dần, chúng tôi trở nên thân thiết với những người phục vụ và nói rất nhiều chuyện.

Lần ấy, chúng tôi có nghe đồn rằng, ở Nga có một người Nhật. Lời đồn ấy có lẽ là sự thực chứ không sai. Tên ông ta đọc là Yamatop và chắc chắn là người Nhật. Tất nhiên, lời đồn ấy không phải chúng tôi nghe được từ những người phục vụ mà là do người khác để lộ ra. Đương nhiên đó là bí mật và chúng tôi cũng hiểu như thế. Chúng tôi cũng muốn gặp gỡ, nói chuyện, nhưng không được.

Trong suốt thời gian chúng tôi ở đó, ông ta không ra mặt, nhưng trong cách tiếp đãi thì thoáng có vẻ gì đó rất Nhật. Chẳng hạn trong phòng ở có cả giá treo kiếm, phòng ngủ có đặt gối làm bằng gỗ kiểu Nhật, nhà tắm có cả túi đựng mày thóc (được người Nhật dùng như một loại nguyên liệu làm sạch và dưỡng da -ND), đồ ăn họ cũng cố gắng nấu đồ ăn Nhật, cả bát, đũa cũng rất giống đồ của Nhật. Dù thế nào thì những sự tiếp đón đó tự người Nga cũng không thể nghĩ ra được.

Đúng như lời đồn cho rằng, ở đâu đó phải có một người Nhật chứ không sai. Biết rõ là như vậy, nhưng cuối cùng cũng đành như không biết mà về. Chuyện này trong nhật ký chu du phương Tây của tôi còn lưu lại một câu thơ:

Khởi lai tựu thực thực chung miên

Bão thực an miên quá nhất năm

Tha nhật nhược ngộ tương thức vấn

Âu thiên bất dị cố hương thiên

Cho đến bây giờ, tôi không còn nhớ rõ, nhưng đại thể khi ở Nga chúng tôi đã nhận được nhiều sự tiếp đãi đúng theo kiểu Nhật.

Bị dụ dỗ ở lại Nga

Có một hôm, nhân viên phục vụ đến chỗ tôi bảo đi cùng họ có việc và dẫn đến một gian phòng. Họ bảo có chuyện chỉ nói riêng với mình tôi rằng: “Lần này ông được theo đoàn sứ tiết đi, nhưng sau khi trở về Nhật ông định làm gì? Tất nhiên là chúng tôi không biết được. Thế ông có phải là người giàu có không?”. Tôi trả lời rằng: “Không, tôi không phải là người giàu có gì, mà chỉ là người làm cho Mạc phủ. Làm được việc thì nhận lương bổng. Nói chung là chuyện cơm áo thì không phải lo”. Họ mới bảo: “Tình hình nước Nhật thế nào chúng tôi không rõ, nhưng suy cho cùng, Nhật Bản chỉ là một tiểu quốc. Ở một nước nhỏ như vậy, không có việc gì đáng cho một người đàn ông làm cả. Tốt hơn là thay đổi suy nghĩ đi, xem có ở lại nước Nga này được không?”. Tôi trả lời rằng: “Tôi đến đây là để tháp tùng đại sứ, nên không thể tự tiện mà tính chuyện về hay ở được!”.

Thấy tôi trả lời thẳng thắn như vậy, thì họ bảo: “Chuyện đó đơn giản. Chỉ cần ông đồng ý ngay bây giờ và giữ kín chuyện là chúng tôi cũng sẽ giữ cho ông thôi. Dù thế nào, đoàn sứ giả cũng sẽ không ở đây lâu nữa. Chắc sắp về đến nơi. Mà họ về là coi như xong chuyện. Ông cứ ở đây và thành người Nga luôn đi. Ở Nga này có rất nhiều người nước ngoài đến ở. Nhiều nhất là người Phổ. Ngoài ra còn có người Anh, người Hà Lan. Bởi vậy, nếu người Nhật ở lại cũng không phải là chuyện gì lạ cả. Nhất định ông ở lại đi. Nếu ông quyết định ở lại làm việc, sẽ có rất nhiều công việc thoải mái dành cho ông. Chuyện cơm áo thường ngày, tất nhiên không phải lo. Ông sẽ trở thành một người giàu có. Thôi, ông ở lại đi!”.

Họ thuyết phục ra chiều nghiêm chỉnh, chứ không phải chỉ là chuyện bông đùa bình thường, lại đưa hẳn vào trong một căn phòng và nói chuyện hết sức nghiêm túc. Nhưng khi đó, tôi không có việc gì cần thiết phải ở lại và cũng không có ý ở lại, nên trả lời với họ qua loa cho xong. Sau đó, họ còn thuyết phục thêm hai, ba lần như thế nữa, nhưng tất nhiên không thể đi đến đâu.

Qua lần ấy, tôi mới nhận ra rằng, Nga là nước có phong tục, tập quán rất khác so với các nước châu Âu khác. Chắc chắn là như thế! Chẳng hạn trong chuyến đi này, tôi có dừng chân tại Anh, Pháp một thời gian, trước đó có đi Mỹ, cứ gặp ai đó là họ lại bảo muốn đi Nhật. Mà có nhiều người như thế. Họ hỏi ở Nhật có việc gì làm không, xem thế nào dẫn họ sang đó. Có người bàn đến cả chuyện sẽ sang Nhật bằng đường nào, chứ không ai giữ chúng tôi lại cả. Khi đến Nga, lần đầu tiên tôi được người ta rủ ở lại. Ngẫm ra đó không đơn thuần là liên quan đến chuyện buôn bán, kinh tế gì, mà chắc chắn bao hàm cả mục đích chính trị, ngoại giao. Đúng là đất nước khó hiểu! Tôi nghĩ, đằng sau sự rủ rê ở lại là có ý sâu xa.

Thế nhưng, tôi không thể đem chuyện đó mà kể với những người cùng đi rằng tôi đã bị ngỏ lời như thế, sợ rằng nói ra sẽ nảy sinh sự nghi hoặc của mọi người về mình, nên không hề hé miệng. Cả khi về đến Nhật, tôi cũng im lặng, không nói với ai khác. Nhưng rất có thể không chỉ mình tôi bị lôi kéo, mà cả những người đồng hành khác cũng bị như vậy, nhưng có lẽ họ cũng nghĩ như tôi và lặng im không nói ra. Ấn tượng của tôi về nước Nga trong chuyến đi ấy là một nước Nga đầy mưu đồ và khó hiểu.

Tin tức về vụ bạo loạn Namamugi gây khó khăn cho đoàn sứ tiết

Thời điểm chúng tôi định rời Nga quay lại Pháp đúng là lúc nổ ra vụ bạo loạn ở làng Namamugi, tức là sự kiện các võ sĩ của lãnh địa Satsuma giết ông Richardson ở làng Namamugi. Khi được nghe báo cáo về sự kiện này, chính quyền Napoleon của Pháp khó chịu hẳn đối với chúng tôi. Người dân thế nào, tôi không biết, nhưng sự đối đãi của chính phủ thì hết sức lạnh nhạt và quá đáng.

Chủ nhà tỏ vẻ như vậy, nên những người khách như chúng tôi rất khó xử, không biết phải nói thế nào. Đoàn sứ tiết muốn ra cảng lên tàu phải đi qua khoảng 10 Chō (Đinh), thì ở cả 10 Chō đều có cảnh sát đứng hai bên theo dõi từng bước chân của chúng tôi. Tất nhiên, đấy không phải là vì lễ nghĩa gì, mà chỉ để đe dọa người Nhật mà thôi. Tôi không sợ, vì nghĩ họ chỉ xếp hàng ra đó, chứ không bắn mình ngay, nhưng thấy thật cay đắng.

Trong nhật ký chuyến đi châu Âu đó, tôi có đoạn viết thế này: “8 giờ sáng ngày 30 tháng 8 nhuận, năm Bunkyū thứ hai (1862-ND), cập bến Rochefort. Rochefort là cảng biển của hải quân Pháp, cách Paris chừng 90 Ri (tức là khoảng 351km-ND). Từ ga tàu hỏa ra cảng phải qua hơn 10 Chō. Ở đó có chừng hơn một nghìn cảnh sát đứng canh, vừa tỏ vẻ lịch sự tiếp đón vừa như khuếch trương uy lực. Đoàn người Nhật vừa đi tàu đêm qua, trên tàu không được ngủ yên, vẫn còn đang mệt nhoài, mà khi xuống đến nơi không được nghỉ ngơi chút nào, bị bắt lên tàu đi ngay. Từ bến đỗ xe ra tàu phải qua 10 Chō mà họ cũng bắt phải đi bộ chứ không cho đi bằng xe ngựa”.

Chúng tôi lên đường từ Pháp, sau đó ghé qua Lisbon của Bồ Đào Nha, hoàn thành công vụ sứ tiết, lên tàu vào vùng biển Địa Trung Hải, qua Ấn Độ Dương và trở về Nhật một cách an toàn. Khi đó, trong nước đang rầm rộ thuyết Nhưỡng di.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha
"Like" us to know more!