Chủ trì của các tinh, môn, thần và các cách cát hung

Chủ trì của các tinh, môn, thần và các cách cát hung

Sau khi sắp xếp xong bàn độn giáp, ta sẽ vận dụng nó ra sao để chọn được cát, hung, đó là vấn đề khá phức tạp. Cách giải thích của các sách Độn giáp để lại rất khác nhau. Ở đây ta chỉ giới thiệu phương pháp thông dụng và cơ bản nhất nhằm tạo lập nên một cái khung đủ để độc giả hiểu được cách nhìn của người xưa chứ không đi sâu vào phức tạp.

Muốn ứng dụng bàn quay độn giáp, đầu tiên cần hiểu rõ sự chủ trì của các tinh, môn, thần trên các bàn và mối quan hệ phối hợp của chúng. Ở đây cần phải nói rõ là sự ra đời của học thuyết độn giáp có liên quan mật thiết với binh pháp về cách bài binh bố trận của cổ xưa, sau đó mới thẩm thấu sang cách chọn các phương vị tốt trong đời sống xã hội, vì vậy trong đó còn di tồn lại các thuật ngữ như âm, dương binh.

Về cửu tinh

Thiên phùng: chỉ các kế sách nghi binh, giả tạo, cũng có thể hiểu là chỉ các việc cần động não suy nghĩ.

Thiên nhuế: chỉ những việc hậu cần, đảm bảo, cũng được hiểu là những việc phải hao tổn tài lực, vật lực.

Thiên xung: chỉ lực lượng công kích, tương ứng với những việc có tính cạnh tranh trong xã hội hiện đại.

Thiên bổ: môi trường ngoại vi của cuộc chiến, được hiểu như các mặt y tế, văn hóa, giáo dục, v.v...

Thiên cầm: chiến bại, có phái xem đó là "hoàng ngũ sát” (màu vàng, số 5, sát), không dùng.

Thiên tâm: chỉ bối cảnh triết học của binh pháp, về sau được xem là các việc về học thuật.

Thiên trụ: chỉ sự đánh phá có tính hủy diệt, có thể xem là lực lượng phá hoại khá mạnh.

Thiên nhậm: chỉ sự kiên nhẫn, tương đương với sự mềm yếu, những việc cần tính nhẫn nại.

Thiên anh: chỉ những việc nêu cao sĩ khí, tương đương với các việc về phương diện tâm lí. Đây chỉ là sự giải thích rất sơ sài, khi dùng phải ứng dụng rất linh hoạt. Người xưa cho rằng việc kiện tụng là loại việc rất đau đầu, phải mệt óc, nên chọn sao thiên phùng hoặc sao thiên xung ứng vào việc đó.

Trong sự phối hợp đó có trường hợp có lợi, có trường hợp không tốt. Nói chung các sao đều không nên phối với tử môn. Có một số thiên tinh tuy tốt nhưng phối với các môn xấu thì cũng mất đi hiệu lực của nó.

Về bát môn

Hưu môn: là chỗ ngụy trang, ẩn tàng, về sau chuyển hóa thành cát môn nên còn gọi là "Thủy thần Tham lang". Đối với các việc như cầu chức, cầu tài, giá thú đều là tốt.

Sinh môn: là đất cỏ cây tươi tốt, môi trường phong phú, về sau diễn hóa thành cửa gặp hung hóa cát, còn có tên gọi là "Thổ thần bổ tả". Thậm chí có người cho rằng sinh môn đại cát hơn hưu môn.

Thương môn: là nguồn của cải thiếu hụt binh mã gặp khó khăn, về sau còn gọi là "Mộc thần lộc tồn". Có học phái cho rằng cửa này vô dụng, dùng thì sẽ gặp thị phi, tai ương nhiều.

Đỗ môn: là nơi nghỉ ngơi, chỉnh đốn binh mã, về sau được gọi là "Thủy thần văn khúc". Người ta cho rằng cửa này thích hợp với việc xuất hành thuận lợi cầu tài. Không thích hợp với các việc lánh nạn, dời chỗ ở.

Cảnh môn: là chỗ bằng phăng, sáng sủa, còn gọi là "Hỏa thần liêm trinh". Cửa này thích hợp với xuất hành, thăm thú bạn bè, đi chơi, săn bắn.

Tử môn: là nơi tập trung tiêu diệt, còn gọi là "Thổ thần cự môn". Có phái cho rằng cửa này chỉ dùng cho đi săn, còn những việc khác không được dùng.

Kinh môn: là đất hiểm trở, nhiều trở ngại, còn gọi là "Kim thần phá quân". Cửa này được xem là không nên dùng, mọi việc đều không tốt, thường là gặp việc lo sợ, đau đầu.

Khai môn: là cửa nên triển khai binh mã, về sau còn gọi là "Kim thần vũ khúc". Cửa này được học phái kì môn cho rằng thăng quan gặp quý. Dùng sẽ gặp đại cát. Qua đó ta dễ dàng nhận thấy: bốn cửa có tên gọi đại biểu cho thuộc tính ngũ hành của nó. Như "Thủy thân văn khúc" biểu thị Đỗ môn thuộc thủy. Trong bát môn, bốn môn: hưu, sinh, khai, cảnh là cát môn, bốn môn khác còn lại không tốt. Trong bát môn, bốn môn: hưu, sinh, khai, cảnh là cát môn, bốn môn khác còn lại không tốt. Trong cát môn, khai môn tốt nhất, tiếp theo là sinh, hưu, cảnh, cứ thế kém dần.

Về bát môn phối với cửu tinh

Trong sự phối hợp này, láy môn làm chính, tinh là bổ trợ. Môn phối với tinh để biết cát hung. Trực phù đứng đầu bát thần (hay cửu thần) là tốt nhất, duy khi gặp phải "ngũ hoàng sát" thì chuyển thành xấu. Trong bát thần thì trực phù tốt nhất, lục hợp tốt vừa, cửu thiên kém hơn; còn thái âm, cửu địa, phi xà, cân trần, chu trước càng đứng sau càng hung hơn.

Cung

Thần

1

trắng

2

đen

3

xanh bích

4

lục

5

vàng

6

trắng

7

đỏ

8

trắng

9

Tím

Trực phù +2 +2 +2 +2 +2 +2 +2 +2
Phi xà
Thái âm +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1
Lục hợp +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1
Câu trần
Chu tước
Cửu địa +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1
Cửu thiên +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1 +1
Thiên

Địa

Ất Bính Đinh Mậu Kỉ Canh Tân Nhâm Quý
Ất X +2 +2 +1 +1 +1 X X
Bính +1 X +1 +1 X X +1 X
Đinh +2 +2 +2 +1 +1 +1 +1 +1
Mậu +1 +2 +1 +1 +1 +1
Kỉ +2 +1
Canh +1
Tân +1
Nhâm +1 +1 +1 +1
Quý

Trong các bảng trên, +2 là đại cát, +1 là cát, các ô để trắng là không thể phối. Nếu phối dùng sẽ gặp hung hoặc đại hung. Vì vậy ba hàng: phi xà, câu trần, chu tước đều để trắng.

Về thiên bàn và địa bàn

Thiên bàn và địa bàn trong Độn giáp học là dựa vào thiên can, chủ yếu ứng với tam kì. Cách chọn dùng thiên bàn dựa vào tam kì làm chính. Người xưa cho rằng: ất kì có thể ổn định gia trạch, cân bằng tính tình, đối với sản xuất, chữa bệnh đều có lợi. Bính kì đối với địa vị, nghề nghiệp, tài lợi đều có ích, còn có thể dùng trong kiện tụng, đi thăm hỏi. Đính kì chủ về các việc học thuật, văn hóa, giáo dục. Khi đi thi quẻ đoán gặp đinh kì được xem lá sẽ thi đỗ. Trong tam kì còn có ngày chuyên dụng, ví dụ ngày giáp, ất dùng ất kì, ngày bính, tân dùng bính kì tự nhiên là tốt, song còn phải xem dùng vào việc gì. Ví dụ việc sinh đẻ thì lấy khai môn phối với thiên nhuế là tổ hợp tốt nhất. Người xưa về mặt này đã tổ hợp giữa các môn và các tinh thành các cách cục. Có những nhà kì môm ở Áo môn đã theo đó lập thành bảng dùng giá trị âm hay dương để biểu thị hiệu quả tốt hay xấu của các tổ hợp.

Phùng Nhuế Xung Bổ Cầm Tâm Trụ Nhâm Anh
Hưu -1 +2 +2 +2 -1 +2 +2 +2 -1
Sinh +2 -1 +2 +2 -1 +2 +2 -1 +2
Thương -1 -1 -2 -1 -2 -1 -2 -1 -1
Đỗ -1 -1 -1 -2 -2 -2 -1 -1 -1
Cảnh -2 +2 -2 -2 -2 -2 -2 -2 -2
Tử -1 -2 -1 -1 -2 -1 -1 -2 -1
Kinh -1 -1 -2 -1 -2 -1 -2 -1 -1
khai +2 +2 +2 -1 -1 -1 +2 +2 +2

Về cửu cung và bát thần

Gọi là cửu cung tức là: 1 trắng, 2 đen, 3 xanh bích, 4 lục, 5 vàng, 6 trắng, 7 đỏ, 8 trắng, 9 tím, tức là 9 trường hợp bức xạ của các thiên thể tạo nên trên quả đất. Chín trường hợp này tùy theo thời khắc của các tiết khí khác nhau mà thay đổi, nhưng sự di chuyển của nó là theo một đường cố định như đã giới thiệu trước đây.

Theo quan điểm của Tam nguyên phái trong kì môn học thì "ngũ hoàng sát" là hung nhất trong cửu cung. Cung đối xứng với "ngũ hoàng sát" gọi là cung "Ám kiếm sát" cũng là hung. Tam nguyên phái khi chọn phương vị của bàn quay độn giáp, cho dù các tinh và thần khác là cát hay hung, chỉ cần gặp "ngũ hoàng sát" thì đều xem phương vị đó không thể dùng được. Đồng thời phương chính bắc ngược với phương chính nam cũng thường bỏ qua không chọn.

Phái tam nguyên còn cho rằng, trong cửu cung trừ "ngũ hoàng sát" ra những cung còn lại đều có thể phối với bát thần, ngày nhâm dùng ất kì, ngày mậu, quý dùng đinh kì, đó là những ngày tam kì chọn dùng tốt nhất.

Tam kì phối thuận với bát môn

Tam kì phối thuận với bát môn, lấy môn làm chủ. Nếu không có cách gì phối hợp được với các cát môn thì dù tam kì có lí tưởng đến đâu cũng đành bỏ đi. Điều đó trong Độn giáp học gọi là: tam kì ất bính đinh không có ba môn: khai, hưu, sinh, nên tam kì dù tốt cũng không dùng được; còn khi có ba cát môn nhưng không gặp tam kì thì vẫn có thể dùng được. Nếu là việc gấp thì lấy môn, bỏ kì. Trong bảng trên các tổ hợp +2 là đại cát, +1 là cát, những tổ hợp còn lại đều bất lợi. Nhưng nếu gặp môn tốt thì vẫn có thể dùng được.

Vì sự phối hợp giữa lục nghi, tam kì, cửu tinh, bát môn, cửu thần sẽ sản sinh ra rất nhiều "cách". Cái gọi là "cách" trong Độn giáp học cũng giống như công thức trong toán học. Đối với công thức toán học mà nói, dù tạm thời bị quên đi nhưng dựa theo tri thức toán học ta có thể lập lại được. Một khi đã có công thức thì quá trình tính toán sẽ đơn giản rất nhiều, dùng rất thuận tiện. "Cách" cũng giống như vậy. Lục nghi, tam kì, cửu tinh, bát môn, cửu thần đều có thuộc tính ngũ hành. Chúng phối với bất kì cung nào trong cửu cung của lạc đồ cũng đều"sản sinh ra quan hệ sinh khắc chế hóa, từ đó mà dẫn đến các kết cục cát, hung, hưu, lận.

Nếu bước nào cũng tính toán mối quan hệ ngũ hành thì rất phức tạp, cho nên người xưa đã tính trước và dùng hình thức "cách" để cố định lại, dùng được ngay.

Ngũ

hành

Bát môn Cửu tinh Bát (cửu) thần Cửu cung
Kim Kinh, khai Tâm, trụ Dương 6, âm7
Mộc Thương, đỗ Xung, Bổ Dương 3 âm4
Thủy Hưu Phùng 1
Hỏa Cảnh Anh 9
Thổ Sinh, tử Nhuế, Cầm, Nhâm Âm 2,5 dương 8l

Theo cát, hung mà nói: Cách có cát cách và hung cách. Cát cách rất nhiều, trong đó quan trọng nhất là cửu độn kì môn" tức là chín loại phối trí cát lợi của tinh và môn, mỗi cái đều có công dụng riêng. Hung cách cũng rất nhiều, trong đó chủ yếu nhất là "Bát hung kì môn", nó lấy lục nghi tam kì trên thiên bàn tương ứng với địa bàn để xác định hung. Dưới đây thuật lại như sau:

Cửu độn kì môn

Thiên độn: Thiên bàn bính kì, bát môn là sinh môn, trên địa bàn là mậu.

Địa độn: Thiên bàn ất kì, địa bàn là kỉ, gặp khai môn.

Nhân độn: Thiên bàn đinh kì, bát môn là hưu môn, bát thần là thái âm.

Thần độn: Thiên bàn, bính kì, bát môn là sinh môn, bát thần là cửu thiên.

Quỷ độn: Thiên bàn đinh kì, bát môn là hưu môn, bát thần là cửu địa.

Phong độn: Thiên bàn bính kì, bát môn là khai môn, gặp phương vị đông nam; hoặc thiên bàn là tân nghi, bát môn là hưu môn hoặc sinh môn, địa bàn là ất.

Vân độn: Thiên bàn ất kì, bát môn là khai môn, gặp phương tây nam; hoặc thiên bàn ất kì bát môn là khai môn, địa bàn là tân.

Long độn: Thiên bàn ất kì, bát môn là hưu môn, địa bàn là quý hoặc phương bắc.

Hổ độn: Thiên bàn ất kì, bát môn là sinh môn; hoặc thiên bàn là tân nghi, bát môn là sinh môn gặp phương đông bắc.

Cửu độn này là cát cách để chọn phương vị. Ngoài ra còn có hai cát cách tức: “thanh long hồi đầu cách" (thiên bàn là mậu nghi, địa bàn là bính kì) và "phi điểu điệt huyệt cách" (thiên bàn là bính kì, địa bàn là mậu nghi; hoặc thiên bàn bính kì, địa bàn ất kì)

Bát hung kì môn

Phục cung. Thiên bàn là canh, địa bàn là mậu, bát thần là trực phù.

Phi cung. Thiên bàn là canh, can ngày là ngọ.

Thanh long đào tẩu. Thiên bàn là ất, địa bàn là tân.

Bạch hổ ngông cuồng. Thiên bàn là tân, địa bàn là ất.

Phi xà yêu quái. Thiên bàn là quý, địa bàn cũng là quý.

Chu tước nhảy xuống sông. Thiên bàn là đinh, địa bàn là quý.

Huỳnh cảm nhập bạch. Thiên bàn là bính, địa bàn là canh.

Thái bạch nhập huỳnh. Thiên bàn là canh, địa bàn là bính.

Hung cách còn có nhiều loại. Nói chung người ta cho rằng: "Bát hung này là chắc chắn. Trong "bát hung" có bốn quẻ đoán liên quan với canh. Nhìn chung các "cách" có canh đều bất lợi. Trong phi cung của thiên bàn gặp canh phần nhiều chủ về thiên tai. Sứ môn canh chủ về việc bất hạnh trong nhân gian, thêm cả địa bàn là chỉ về những nhân tố bất lợi trong địa chất. Ngoài ra còn "tứ hung" khác không liên quan với canh, theo cách nói của "Yên ba điếu tẩu ca" là thuộc về "kì, nghi khắc nhau". Giữa ất với tân, đinh với quý cũng là như thế. Qua sự giới thiệu trên đây ta có thể rút ra kết luận: Người xưa gọi cát cách là trực phù lục giáp tương sinh với lục nghi; gọi là hung cách là trực phù lực giáp tương khắc với kì, nghi.

Ví dụ: "Thanh long quay đầu" và "Phi điểu điệt huyệt" là trực phù lục giáp thêm bính, trực phù với bính kì có quan hệ tương sinh. Còn "Thái bạch nhập huỳnh" tuy cũng" là trực phù lục giáp thêm bính kì nhưng là quan hệ tương khắc. Canh là thái bạch, thêm bính kì, cổ nhân gọi là "Thái bạch nhập huỳnh giặc tất đến". Giáp, thân, canh trực phù thêm bính trở thành hung cách.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Địa lợi
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyễn Văn Mậu
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Ebook: TVE-4U.org
"Like" us to know more!