Chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa nhân văn trong giáo dục

3. Chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa nhân văn trong giáo dục

Trong [lịch sử] giáo dục, có tồn tại một truyền thống coi khoa học là đối lập lại với văn chương và lịch sử trong chương trình học. Có thể dễ dàng giải thích về mặt lịch sử sự tranh chấp giữa đại diện của hai mối quan tâm nói trên. Trước khi xuất hiện khoa học thực nghiệm, văn chương, ngôn ngữ và một triết lý văn chương đã cố thủ vững chắc trong tất cả những thiết chế cao cấp của học vấn. Lẽ đương nhiên, các đại diện của mối quan tâm thứ hai [văn chương và lịch sử] đã buộc phải thuyết phục người khác tin vào phương pháp của họ. Mối quan tâm được củng cố vững chắc và được bảo vệ không dễ dàng chịu từ bỏ sự độc quyền nó đang nắm giữ. Song, sự giả định, dù của bên nào đi nữa, rằng chỉ có ngôn ngữ và sản phẩm văn chương mới mang đặc tính nhân văn, và rằng khoa học thì mang ý nghĩa vật chất thuần túy, là một quan niệm sai lầm và nó dễ phá hỏng mục đích sử dụng vào giáo dục của cả hai môn học nói trên. Đời sống con người không thể xảy ra tại một nơi biệt lập cũng như Tự nhiên không thể chỉ là một bối cảnh sân khấu để thực hiện vở kịch của đời sống con người (xem Chương XVI [Mối quan hệ giữa hoàn cảnh tự nhiên với các hoạt động xã hội hoàn toàn không giống như mối quan hệ giữa một sân khấu của buổi biểu diễn và sự trình diễn một vở kịch]). Đời sống con người bị ràng buộc vào các tiến trình của tự nhiên; sự nghiệp của nó, dù thành công hay thất bại, đều phụ thuộc vào phương pháp tham gia của tự nhiên vào sự nghiệp ấy. Khả năng kiểm soát có chủ tâm các công việc của mình, phụ thuộc vào việc con người có khả năng điều khiển các năng lượng của tự nhiên vào việc sử dụng có mục đích: một năng lực mà chính nó lại phụ thuộc vào sự nhận thức được các tiến trình của tự nhiên. Dù khoa học tự nhiên có ý nghĩa thế nào đối với người chuyên gia, thì vì các mục đích của giáo dục, khoa học vẫn là sự hiểu biết về những điều kiện hành động của con người. Nhận thức được về môi trường nơi sự giao tiếp xã hội diễn ra, và về các phương tiện và những sự cản trở đối với sự phát triển không ngừng của mối giao tiếp ấy, tức là làm chủ được một tri thức hoàn toàn mang đặc tính nhân văn. Người nào không biết gì về lịch sử của khoa học thì cũng không biết gì về những tranh đấu của nhân loại để chuyển từ thói quen và ý thích bất thường, từ chỗ bị khuất phục có tính mê tín trước tự nhiên, từ chỗ cố gắng nhằm sử dụng tự nhiên vào những mục đích ma thuật, cho đến khi con người có được sự tự chủ về trí tuệ như ngày nay. Nói rằng có thể dạy môn khoa học như một tập hợp những sự áp dụng hình thức và mang tính chuyên môn, là điều hoàn toàn đúng. Điều này xảy ra hễ khi nào kiến thức về thế giới này được biến thành một mục đích tự nó. Tuy nhiên, việc phương pháp giáo dục như vậy không thể tạo ra văn hóa lại không phải là bằng chứng về sự đối lập giữa tri thức về tự nhiên và mối quan tâm nhân văn, mà đó là bằng chứng cho thấy một quan điểm giáo dục sai lầm.

Bản thân việc không thích sử dụng tri thức khoa học xét như nó đang tạo ra kết quả trong các nghề nghiệp của con người, là tàn dư của một nền văn hóa có tính quý tộc trị. Quan niệm coi tri thức “ứng dụng” dù sao chăng nữa cũng kém giá trị hơn tri thức “thuần túy”, là điều tất nhiên xảy ra trong một xã hội mà ở đó mọi công việc hữu ích đều do các nô lệ và nông nô thực hiện, và ở đó nghề nghiệp được kiểm soát bởi các mô hình được đặt ra theo tập tục, hơn là dựa vào trí thông minh. Khi đó, khoa học, tức cái biết ở trình độ cao nhất, bị đồng nhất với việc lý thuyết hóa thuần túy và bị tách rời khỏi mọi vận dụng vào các mục đích của đời sống; và cái biết liên quan đến các nghề nghiệp hữu ích thì chịu chung điều sỉ nhục như các giai cấp tham gia vào các nghề nghiệp ấy (xem Chương XIX dưới đây). Quan niệm về khoa học ra đời theo cách như vậy đã tồn tại dai dẳng ngay cả sau khi khoa học đã thừa nhận công cụ của các nghề nghiệp, sử dụng chúng để sản sinh ra tri thức, và ngay cả sau khi nền dân chủ ra đời. Tuy nhiên, coi lý thuyết chỉ như là lý thuyết, tức lý thuyết có liên quan đến nhân loại, lại mang nhiều ý nghĩa đối với con người hơn là lý thuyết liên quan đến một thế giới vật chất đơn thuần. Khi chấp nhận tiêu chí của tri thức được đề ra bởi một nền văn hóa có tính văn chương và xa lạ với những nhu cầu thiết thực của số đông con người, những người chủ trương nền giáo dục đề cao khoa học đã tự đặt mình vào một tình thế bất lợi có tính chiến lược. Chừng nào họ còn duy trì quan niệm về khoa học thích hợp với phương pháp thực nghiệm của khoa học và những xu hướng của một xã hội dân chủ và công nghiệp, chừng ấy họ không khó khăn để chứng minh rằng khoa học tự nhiên còn mang tính nhân văn cao hơn một chủ nghĩa tự cho là nhân văn nhưng nó lại đặt các kiểu giáo dục của nó trên nền tảng của những mối quan tâm riêng của một giai cấp nhàn hạ.

Bởi, như chúng ta đã từng phát biểu, các môn học nhân văn sẽ bị cản trở nếu chúng được đặt trong sự đối lập lại với môn học về tự nhiên. Chúng có khuynh hướng tự thu nhỏ lại thành các môn học chỉ liên quan đến văn chương và ngôn ngữ, và rồi thì các môn học đó lại co lại thành các “môn văn học cổ đại”, thành môn học về các từ ngữ. Bởi vì các ngôn ngữ hiện đại hiển nhiên có thể được đem ra sử dụng, và vì thế chúng bị rơi vào tình trạng bị cấm đoán. Khó lòng tìm thấy trong lịch sử điều gì mỉa mai hơn là việc giáo dục đã đồng nhất các “môn khoa học nhân văn” với chỉ riêng kiến thức về tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Nghệ thuật và các thiết chế của Hy Lạp và La Mã [cổ đại] đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn minh của chúng ta, đến nỗi bao giờ chúng ta cũng có nhiều cơ hội nhất để làm quen với chúng. Song, coi chúng là các môn học nhân văn nhất hạng sẽ kéo theo việc chủ tâm coi nhẹ những khả năng xảy ra của nội dung mà quần chúng có thể tiếp cận trong giáo dục, và có khuynh hướng nuôi dưỡng một thái độ trưởng giả hẹp hòi: thái độ trưởng giả của một giai cấp có học vấn mà biểu hiện của nó là những điều ngẫu nhiên của cơ hội chỉ dành riêng cho nó. Tri thức mang đặc tính nhân văn không phải bởi nó nói về những sản phẩm của con người trong quá khứ, mà bởi vì nó làm gì để giải phóng trí thông minh và lòng cảm thông của con người. Bất kỳ nội dung nào đem lại được kết quả trên thì đều là mang tính nhân văn, và bất kỳ nội dung nào không đem lại kết quả nói trên thì thậm chí còn không phải là nội dung của giáo dục.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org
"Like" us to know more!