Chế độ Đàn gia và Phật giáo tang lễ

Chế độ Đàn gia và Phật giáo tang lễ

Như vậy, Mạc phủ đã khống chế giới tôn giáo vào trong một thể chế và thiết lập trật tự bằng quan hệ giữa Bản sơn và Mạt tự(113) thông qua Chế độ Bản mạt (Honmatsu seido). Và điều quan trọng hơn là Chế độ tự đàn(114) (Jidan seido, hay còn gọi là Chế độ đàn gia, Danka seido). Chế độ này bắt nguồn từ việc các con chiên cải giáo sau khi có lệnh cấm Thiên chúa giáo. Nghĩa là người ta bắt tất cả người dân phải đăng ký cả gia đình mình vào một chùa nào đó (gọi là Đàn Na tự hay Bồ đề tự) để chứng minh không phải là con chiên của Thiên chúa giáo. Hơn nữa, khi đi lại hay tiến hành hôn nhân phải có giấy chứng nhận do chùa ban hành (Terauke Shōmon, Tự thỉnh chứng văn). Chế độ này được gọi là Tự thỉnh (Terauke, tạm dịch nghĩa là Thỉnh cầu nhà chùa). Sau chiến loạn xảy ra ở Shimabara, cùng với việc tăng cường cấm Thiên chúa giáo, Mạc phủ còn ra quy định nghĩa vụ phải nộp sổ ghi rõ tên người theo từng tông phái (Shūshi Ninbetsu-chō, Tông chỉ nhân biệt trướng, hay còn gọi là Shūmon Aratame-chō, Tông môn cải trướng) cho người chuyên giám sát việc cải đạo. Những cuốn sổ này không chỉ để giám sát vấn đề thực hiện lệnh cấm Thiên chúa giáo mà dần dần còn đóng vai trò như là sổ hộ tịch. Và như vậy, các tự viện Phật giáo đã được cơ cấu vào phần đuôi của hệ thống hành chính và có chức năng như là cơ sở hành chính ở làng xã.

Cũng có thể nói, đây là một sự khuất phục của giới Phật giáo trước quyền lực chính trị, nhưng nếu chúng ta tư duy theo cách cho rằng, việc quản lý người dân ở các địa phương là điều không thể đối với hệ thống hành chính đương thời mà phải mượn thế lực Phật giáo thì lại thấy được vai trò lớn lao của giới tôn giáo và không thể đánh giá một cách kiệm lời được. Hoạt động hành chính do các chùa đảm nhiệm được phân biệt với các hoạt động hành chính khác, có cách gọi riêng là Tự xã phụng hành (Jisha Bugyō), được xếp đầu tiên trong Tam phụng hành (Tự xã phụng hành, Khám định phụng hành, Đinh phụng hành) và thuộc quyền quản hạt trực tiếp của Tướng quân.

Do có sự xác lập của các chế độ nêu trên, một mặt Phật giáo được bảo hộ và một mặt đã định hình nên một hình thái riêng gọi là Phật giáo tang lễ (Sōshiki Bukkyō). Phật giáo ở đây đã không còn là thứ đứng trên tín ngưỡng tự do của mỗi cá nhân, mà được tạo lập trong mối quan hệ lấy gia đình làm đơn vị mà người ta gọi là Đàn Na tự và Đàn gia, còn các cá nhân thì sẽ sống đến cùng trong chế độ này. Các tự viện Phật giáo đã phải đóng vai trò lớn lao là quản lý trẻ em mới sinh ra thông qua sổ Shūmon Aratame-chō, đồng thời theo dõi cả số người chết qua việc chỉnh lý sổ Kako-chō (Quá khứ trướng) và quản lý phần mộ của họ. Đối với ưu thế này của Phật giáo, trong Thần đạo cũng có một phong trào tiến hành tang lễ theo cách riêng, nhưng không gây được ảnh hưởng lớn. Sau này, sang thời Meiji (Minh Trị, 1868-1912), sự ràng buộc về mặt giá trị mất đi và tự do của các tôn giáo được thừa nhận, nhưng việc quản lý phần mộ theo từng gia đình của các tự viện Phật giáo vẫn được duy trì. Tang lễ Phật giáo vừa là nền tảng kinh tế lớn lao giúp cho việc duy trì các chùa và đồng thời, nhờ đó Phật giáo đã tiếp tục gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động xã hội. Hiện nay, trong bối cảnh chế độ gia đình truyền thống đang dần bị phá vỡ, Phật giáo lễ tang cũng đang ở vào tình thế phải thay đổi. Tuy nhiên, rất có thể đây sẽ là cơ hội chuyển biến lớn trong lịch sử tôn giáo của Nhật Bản.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Lịch sử tôn giáo Nhật Bản
  • Tác giả: Sueki Fumihiko
  • Bản quyền tiếng Việt: Công ty sách Alpha
  • Biên tập viên: Đào Quế Anh (Alpha Books)
  • Nguồn: caphebuoitoi
"Like" us to know more!