Chế độ ăn trong bệnh tăng huyết áp

Chế độ ăn trong bệnh tăng huyết áp

I. Đại cương

Theo OMS nếu huyết áp động mạch tối đa trên 160 mmhg, huyết áp động mạch tối thiểu trên 95 mmhg được gọi là tăng huyết áp chính thức. Nếu huyết áp động mạch tối đa 140-160 mmhg và huyết áp động mạch tối thiểu 90-95 mmhg được gọi là tăng huyết áp "giới hạn".

Bệnh này có liên quan tới sự phát triển công nghiệp, đô thị và nhịp sống căng thẳng, bệnh cũng thường gặp ở các nước phát triển có mức sống cao, việc tiêu thụ muối nhiều cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng huyết áp. Các yếu tố tâm lí xã hội gây căng thẳng cũng tạo điều kiện cho tăng huyết áp phát triển. Bệnh này cũng thường gặp ở các gia đình có huyết áp cao, ở trẻ em và người trẻ tuổi phần lớn là tăng huyết áp thứ phát. ở người cao tuổi phần lớn là tăng huyết áp nguyên phát.

Một chế độ ăn nhiều natri sẽ gây tăng huyết áp. Trong điều kiện bình thường các hocmôn và thận cùng phối hợp điều hòa việc thải natri cho cân bằng với natri ăn vào. ứ natri chỉ xảy ra khi lượng natri ăn vào nhiều quá khả năng điều chỉnh. Lúc đó hệ thống động mạch eo thể tăng nhậy cảm hơn với Angiotensin II và Noradrenalin. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ natri sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của canxi qua màng, do đó làm tăng khả năng co thắt tiểu động mạch. Tăng huyết áp do ứ Na tri cũng eo thể có yếu tố di truyền. Nhiều công trình đã khẳng định chế độ ăn giàu ka li sẽ làm giảm huyết áp. Người ta còn thấy canxi là ion đóng vai trò chỉ đạo trong kích thích co cơ trơn thanh mạch. Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng cholesterol trong máu gây xơ vừa động mạch. Huyết áp tăng có thể có tác dụng đẩy nhanh quá trình xơ vừa động mạch, ngược lại vừa xơ động mạch lại gây tăng huyết áp, đặc biệt các mảng vừa xơ làm tắc động mạch thận. ở các nước người dân quen ăn nhiều rau quả, ít mỡ thì tỉ lệ tăng huyết áp cũng thấp hơn.

II. Nguyên tắc chung xây dựng chế độ ăn

1. Năng lượng: Hạn chế cao trong trường hợp béo quá mức và béo phì. Vì bệnh huyết áp cao phần nhiều mắc vào khoảng 40 tuổi, bởi vậy việc giữ thể trung bình thường rất quan trọng. Một số người sau khi giảm cân thì huyết áp cũng giảm theo. Vì vậy thực đơn nên có năng lượng thấp. Nếu béo quá mà ít hoạt động thì chỉ nên ăn 1200-1600 Kcal. Nếu là người hoạt động vừa phải thì hạn chế ở mức 1800-2000 Kcal.

2. Lipit: Giảm bớt lipit nhất là trường hợp béo trệ. Bởi vì việc giảm năng lượng của những bệnh nhân này thì trước hết bằng cách giám lipit. Nhất là lipit động vật, những thức ăn có cholesterol cần hạn chế (ví dụ như các loại phủ tạng, gan, óc, bầu dục, lòng đỏ trứng...). Không nên ăn quá 30g lipit/24giờ và nên dùng dầu thực vật và các hạt có dầu.

3. Gluxit: Giảm bớt để tránh béo trệ. Hạn chế ở mức 300- 350g/ngày. Gluxit không có hại gì cho bệnh huyết áp, nhưng nếu dùng nhiều thì chế độ ăn sẽ có nhiều cao và sinh béo trệ. Nên dùng các hạt ngũ cốc nguyên vẹn như gạo tẻ, gạo nếp, khoai củ.

4. Protein: Có thể cho bệnh nhân ăn với số lượng protein như người bình thường (trừ trường hợp mắc thêm bệnh thận hoặc tim). Nên ăn nhiều protein thực vật

5. Vitamin: ăn nhiều rau xanh và trái cây để tăng nguồn ka li và vitamin đặc biệt là vitamin C, E, b -caroten.

6. Gia vị: Không nên dùng các loại gia vị như ớt, hạt tiêu hay hút thuốc lá thuốc lào. Tránh dùng rượu, cà phê, chè đặc vì nó kích thích thần kinh.

7. Muối: Nên ăn giảm muối hơn bình thường (dưới 6g/ngày kể cả muối trong thực phẩm). Tùy từng thể bệnh mà có thể hạn chế muối tuyệt đối băng huyết áp ở người trẻ tuổi mà không tìm thấy nguyên nhân, tăng huyết áp có biến chứng tim và phù nhiều).

8. Nước: Lượng nước dùng vừa phải, vì dùng nhiều nước làm tuần hoàn máu bị rối loạn và gây ra biến chứng. Không cần phải hạn chế trừ khi tim bị suy nhiều và phù nhiều.

- Gạo tẻ, gạo nếp, khoai tây, khoai lang, khoai sọ và các loại đậu đỗ, lạc, vừng.

- Dầu cám, dầu vừng, dầu đậu tương, dầu ngô, dầu thực vật khác trừ dầu dừa.

- Sữa đậu tương, sữa chua, sữa giảm béo.

- Các loại thịt ít mỡ.

- Các loại cá sông, ao hồ, cá biển, tôm cua, mực.

Trứng chỉ nên 1-2 quả/tuần.

Các loại rau: ngót, muống, cải các loại, bí, rau dền, giá đỗ.

- Nên chế biến dạng hấp, luộc. Nếu muốn ăn rán nên luộc chín bỏ nước rồi áp chảo vàng hai mặt.

- Uống nước chè xanh, hạt sen, lá vông, hoa hòe, nước nhân trần.

Các thức ăn không nên dùng:

Thịt nhiều mỡ, nước dùng thịt, cá béo.

Các loại phủ tạng: óc, tim, gan, thận, lòng...

- Các thức ăn muối mặn như dưa, cà, hành kiệu muối mặn, mắm cá, mắm.Đường mật, bánh mứt kẹo (ăn ít).

- Mỡ lợn, gà, cừu, bò.

- Nước chè đặc, cà phê, rượu, thuốc lá.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
  • Tác giả: Viện thông tin thư viện y học trung ương
  • Nguồn: ebooks.vdcmedia.com
"Like" us to know more!