Chế độ ăn trong bệnh suy dinh dưỡng protein - nămg lượng

Chế độ ăn trong bệnh suy dinh dưỡng protein - nămg lượng

Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng là tình trạng bệnh lí xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein - năng lượng, thường kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại thường tạo điều kiện gây nhiễm khuẩn làm cho thiếu dinh dưỡng nặng thêm.

Chủ yếu bệnh gặp ở trẻ em, bệnh này cũng gặp cả ở người lớn nhưng ít vế nhẹ hơn đó là vì người trưởng thành không cần protein để lớn vả năng lượng do protein trong chế độ ăn của họ ít khi xuống dưới 10%. Theo ước tính của OMS có đến 500 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng ở các nước đang phát triển gây nên 10 triệu trẻ em tử vong mỗi năm. Suy dinh dưỡng ở Việt Nam là loại suy dinh dưỡng trường diễn, nghĩa là trẻ em thiếu cả cân nặng và chiều cao.

Nguyên nhân của SDD thì rất đa dạng, theo hội nghị Dinh dưỡng quốc tế nhận định có 2 nguyên nhân cơ bản: Sự nghèo khổ và thiếu kiến thức. Từ những nguyên nhân cơ bản nây dẫn đến chưa đảm bảo an toàn thực phẩm ở gia đình, thiếu nước sạch và môi trường mất vệ sinh, do đó các bệnh nhiễm khuẩn còn nhiều. Mặt khác, sự chăm sóc bà mẹ trẻ em của già đình, y tế và của xã hội chưa được tất đã góp phần làm tỷ lệ SDD ở trẻ em vẫn còn cao.

Theo FAO và OMS khuyến cáo việc phòng chống SDD chỉ có hiệu quả nếu nhà nước nhận trách nhiệm và huy động được các ngành và nhân dân cùng làm.

I. Nguyên nhân và triêu chứng

1. Phân loại SDD

Dựa vào "điểm ngưỡng" của các triệu chứng mà phân loại bằng nhân trắc, lâm sàng hay hóa sinh. Thực tế người ta có thể phân loại mọi mức độ của SDD hoặc chia theo thể nặng của SDD.

a) Theo mọi mức độ của SDD.

+ Theo OMS:

- SDD vừa (Độ I): Khi cân nặng / tuổi từ -2 SD đến -3SD

- SDD nặng (Độ II): Khi cân nặng / tuổi từ -3 SD đến -4SD

- SDD rất nặng (Độ III): Khi cân nặng / tuổi từ dưới -4SD.

SD: Độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo NCHS của Mỹ (NCHS: National Center For Health Statistic). Việc sử dụng quần thể NCHS được đề nghị sau khi nhận thấy trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt thì các đường phát triển tương tự nhau.

+ Theo Waterlow:

- Thiếu DD thể gảy còm: CN/CC thấp so với chuẩn.

- Thiếu DD thể còi cọc: CC/ tuổi thấp so với chuẩn.

- Thiếu DD thể vừa còm vừa còi: Cả 2 chỉ tiêu trên đều thấp so với chuẩn.

a. Theo thể nặng: Dùng thang phân loại Wellcome để phân biệt giữa thể Marasmus và Kwashiorkor:

Kipkis.com-Dinh-duong-va-an-toan-thuc-pham-22.png

II. Lâm sàng

Có Kwashiorkor Marasmus - Kwashiorkor Phù Không Thiếu dinh dỡng Marasmus

- Thể nhẹ biểu hiện thường nghèo nàn về lâm sàng, chẩn đoán chủ yếu dựa vào kích thước nhân trác.

Thể nặng có thể tóm tắt theo bảng dưới đây:

Kipkis.com-Dinh-duong-va-an-toan-thuc-pham-23.png

III. Điều trị

A. Nguyên tắc chung:

+ Trẻ em có nhu cầu rất lớn về số lượng cũng như chất lượng. Trẻ bị suy dinh dưỡng tuy rằng chức năng tiêu hóa của chúng bị suy sụp nhiều song khả năng hấp thu của chúng vẫn còn. Số lượng calo cho trẻ thường là 90-100kcal/kg thể trọng. Trong suy dinh dưỡng số calo cần dùng lên tới 120-150 Kcal/kg thể tròng hoặc hơn.

+ Khi tính nhu cầu calo thường phải tính số calo theo tuổi đối với sự phát triển bình thường, không tính số calo theo trọng lượng hiện có của đứa trẻ.

+ Trong trạng thái nhu cầu thì cao mà khả năng tiêu hóa thì kém, trẻ hay có rối loạn tiêu hóa do nhiều nguyên nhân nên cần phải tìm thức ăn nào phù hợp với khả năng tiêu hóa của trẻ và có tác dụng trong dinh dưỡng của trẻ.

+ Nên phối hợp với các phương pháp điều trị khác (truyền máu, truyền huyết tương...) và phải điều trị bệnh đã gây ra suy dinh dưỡng.

B. Các chế độ ăn theo thể lâm sàng

1. Các thể vừa và nhẹ.

Chỉ cần điều trị tại nhà bằng cách hướng dẫn bà mẹ hoặc người nhà điều chỉnh lại chế độ ăn cho hợp lí và theo dõi sự tăng cân của trẻ dựa vào biểu đồ phát triển. Nên cho thêm các thực phẩm có đậm độ năng lượng cao như dầu, hạt có dầu, các thức ăn giàu protein động vật, rau xanh, quả giàu vitamin A và các vitamin khác cùng với muối khoáng. Cần tiếp tục cho bú mẹ. Thể suy dinh dưỡng vừa có thể điều trị ngoại trú tại các phòng khám bệnh viện tỉnh, khu vực, trung tâm phục hồi dinh dưỡng, kết hợp chế độ ăn với điều trị các bệnh nhiễm khuẩn như ỉa chảy, sởi, viêm đường hô hấp.

2. Các thể nặng

Dù có phù hay không đều phải coi là cấp cứu, nhất là khi kèm theo ỉa chảy mất nước và nhiễm khuẩn. Quá trình điều trị gồm các bước sau:

a) Bồi phục nước và điện giải.

Trường hợp mất nước nhẹ và vừa khi khi bệnh nhân còn uống được thì dùng dung dịch Oresol 50-100ml/kg cân nặng trong vòng 4- 6 giờ, cho uống ít một sau đó đánh giá lại tình trạng mất nước, nếu đỡ tiếp tục liều lượng 100ml/kg, nếu không đỡ tiếp tục cho 1 liều như ban đầu và theo dõi sát trong 3 giờ để có thái độ xử trí tiếp.

- Mất nước nặng (nôn nhiều, li bì, không uống được) phải truyền 70ml/kg trong 3 giờ đầu dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch Nacl 0,9%, glucoza 5%, Na bicacbonat 14%o với tỉ lệ 1:1:1. Sự theo dõi và các bước xử trí tiếp theo cũng giống như trên, khì trẻ uống được thì thay bằng dung dịch uống.

b) Chế độ ăn.

Những trẻ mất nước đã được điều trị hoặc trẻ không bị mất nước thì cho ăn đường miệng với số lượng ít đậm độ pha loãng, ăn nhiều lần cùng với bú mẹ. Loại thức ăn có đậm độ năng lượng cao 1 Kcal/1ml thức ăn.

Trong tuần lễ đầu cho ăn 150 ml/kg cân nặng, sau đó tăng lên 200 ml/kg. Những ngày đầu có thể pha loãng 1/2 lượng sửa với 1/2 lượng nước. Sau đó cho ăn đặc dần. Số bữa cũng giảm dần (chú ý cả bữa ban đêm).

Cho ăn bằng thìa, cốc (không cho bú chai). Khi trẻ không chịu ăn thì cho ăn qua xông hoặc nhỏ giọt dạ dày. Khi trẻ thèm ăn trở lại nên cho ăn theo ý thích của trẻ những thức ăn phải đạt năng lượng cao, số lượng không quá nhiều.

c) Chống nhiễm khuẩn: Bằng kháng sinh đặc hiệu.

d) Điều trị bổ sung:

- Ka li: KCL 0,5 g/kg/ngày uống trong 2 tuần.

- Sắt: 60 mg/ngày uống trong 3 tháng.

- Axit folic: 100 nlcg/ngày trong 2 tháng.

- Vitamin A: Tổng liều 800.000 đv. Trẻ 12 tháng cho liều gấp đôi.

c) Săn sóc: Chú ý về ban đêm, tránh hạ đường huyết và hạ thân nhiệt.

IV. Phòng bệnh

Chiến lược gồm:

1. Dinh dưỡng:

+ Săn sóc trẻ từ bào thai bằng cách săn sóc bà mẹ.

+ Trẻ ra đời phải săn sóc bà mẹ cho con bú.

+ ăn sam đúng, hợp lí.

2. Phòng các bệnh nhiễm khuẩn: Tiêm chủng, phòng bệnh ỉa chảy và viêm đường hô hấp trên.

3. Phát hiện và xử trí sớm suy dinh dưỡng.

4. Giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ về kiến thức nuôi con.

5. Tăng cường nguồn thực phẩm bổ sung cho bữa ăn: Xây dựng hệ sinh thái VAC, chế biến một số thức ăn bổ sung đặc biệt khi có rối loạn tiêu hóa (thường chế biến các loại bột có kêm bột mộng ngũ cốc để tăng đậm độ năng lượng cho bữa ăn của trẻ, tăng hoạt động các men...).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
  • Tác giả: Viện thông tin thư viện y học trung ương
  • Nguồn: ebooks.vdcmedia.com
"Like" us to know more!