Chế độ ăn cho bệnh nhân đái đường

Chế độ ăn cho bệnh nhân đái đường

I. Đại cương

Trên thế giới ước tính có trên 300 triệu người bị bệnh đái đường. ở Hoa Kỳ có 2-4% người bị đái đường. ở Pháp có khoảng 150.000 người bị đái đường type I. ở Việt Nam chưa có số liệu chính xác. ở Hà nội có khoảng 0,5-1,4% (Lê Huy Liệu và cộng sự 1990). Tuy gọi là đái đường nhưng không phải trường hợp nào có đường trong nước tiểu cũng được gọi là bệnh đái đường.

Có khi có đường trong nước tiểu vì ngưỡng thận hạ thấp thì cũng không gọi là bệnh đái dường.

Theo Tổ chức Y tế thế giới thì bệnh đái đường được khẳng định ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày bệnh nhân có:

- Glucoza trong máu tĩnh mạch > 10 mmol/1ít (180 mg/dl).

- Glucoza trong huyết tương 1 11,1 mmol/1ít (200 mg/dl).

Trong trường hợp nghi ngờ cần làm nghiệm pháp dung nạp glucoza bằng đường uống để phát hiện.

Về nguyên nhân đái đường có 2 nhóm:

- Đái đường do tụy: Viêm tụy, sỏi tụy, u ác tính di căn tụy, nhiễm sắt (hemochromatose) hay do nguyên nhân di truyền, nguyên nhân tự miễn (có kháng nguyên HLA DR3 hoặc HLA DR4).

- Đái đường ngoài tụy: Cường vỏ thượng thận (Hội chứng Cushing), cường giáp trạng, cường thùy trước tuyến yên. Sử dụng glucocorticoid như prednisolone, sử dụng hypothiaxid.

Đái đường có 2 thể (type):

- Thể phụ thuộc Insulin (type I): thường gặp ở người trẻ tuổi, gầy. Thể này có nhiều biến chứng.

- Thể không phụ thuộc Insulin (type II): Thường gặp ở những người tuổi trên 40, người béo. Thể này ít có biến chứng.

Đái đường được chia làm 4 giai đoạn:

- Đái đường ẩn (tiền đái đường)

- Đái đường tiềm tàng.

- Đái đường sinh hóa.

- Đái đường lâm sàng.

Về điều trị thì chế độ dinh dưỡng là đặc biệt quan trọng; nhất là ở thể không phụ thuộc Insulin và ở 3 giai đoạn đầu. ở 3 giai đoạn này, dù là thể phụ thuộc Insulin mà nếu chẩn đoán được sớm thì chỉ cần một chế độ ăn hợp lí là có thể kéo dài các giai đoạn này mà không phải sớm dùng Insulin.

Ở giai đoạn đái đường lâm sàng thì các triệu chứng biểu hiện rõ và lại nhiều biến chứng, có những biến chứng hiểm nghèo như tắc mạch, suy thận. Bệnh nhân ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, glucose máu cao, glucose niệu cao, toan huyết nặng, nước tiểu có xê ton. Bệnh nhân cóthể sớm đi vào hôn mê và tử vong.

Ở giai đoạn đái đường lâm sàng ở thể phụ thuộc Insulin hay không phụ thuộc Insulin thì riêng chế độ dinh dưỡng không đủ để khống chế đường huyết mà phải điều trị tích cực thêm bằng thuốc. Tuy nhiên nếu không có chế độ dinh dường hợp lí ở giai đoạn này thì riêng thuốc cũng không đủ chừa trị. Ví dụ bệnh nhân đái đường nặng nhưng lại có urê máu cao do thận.

II. Nguyên tắc xây dựng chế độ dinh dương cho bệnh nhân đái đường, thế không phụ thuộc insulin (type ii) và type i nhẹ

1. Đảm bảo đủ năng lượng để giữ cân nặng bình thường. Đối với người béo cần giảm bớt năng lượng.

Kipkis.com-Dinh-duong-va-an-toan-thuc-pham-24.png

2. Đảm bảo tỷ lệ năng lượng giữa protein, gluxit, lipit:

Protit: 15%; lipit: 50%; gluxit: 35%

a) Gluxit: Nói chung trong bệnh đái đường cần phải hạn chế gluxit xuống tới mức mà cơ thể bệnh nhân chịu đựng được. Người ta thấy rằng cũng không nên giảm gluxit dưới mức 40% tổng.số năng lượng trong khẩu phần vì sẽ có biến chứng. Nếu đã phải hạn chế tới mức đó mà bệnh nhân vẫn có đường huyết cao và đái đường thì phải dùng Insulin rất thận trọng để tránh số lượng gluxit thay đổi.

b. Protein: Nói chung cần tăng protein lên cao hơn người bình thường để đáp ứng nhu cầu chuyển hóa của cơ thể và cung cấp thêm năng lượng thay gluxit. Nhưng cũng không nên cho quá 20% tổng số năng lượng của khẩu phần.

c. Lipit: Lượng lipit cần để cung cấp số năng lượng còn thiếu. Khi sử dụng lipit chú ý dùng nhiều axit béo chưa no vì cần hạn chế cholesterol ở mức thấp nhất.

3. Nên dùng thức ăn giàu chất xơ vì nó có tác dụng khống chế việc tăng glucoza, cholesterol, triglyxerit sau bữa ăn ở bệnh nhân đái đường thuộc type II.

4. Đủ vitamin đặc biệt vitamin nhóm B (Bi, B2, PP) để ngăn ngừa tạo thành thể cetonic.

5. Phân chia khẩu phần thành nhiều bữa để không gây tăng đường huyết sau khi ăn. Với bệnh nhân dùng Insulin, các bữa ăn nên phù hợp với thời gian tác dụng tối đa của Insulin để đề phòng hạ đường huyết.

III. Cách dùng các loại thức ăn trong bệnh nhân đái đường

1. Lương thực: Gạo, mì, ngô... phải hạn chế (Những thực phẩm này đều có hàm lượng gluxit từ 70-80%). Khoai tây là thức ăn rất tốt cho bệnh nhân đái đường (150g khoai tây chỉ có 21g gluxit), nên ăn luộc. Khoai lang có nhiều gluxit hơn (28%).

2. Các loại rau: Rau tươi bất cần cho bệnh nhân đái đường vì nó chống lại toan, cung cấp nhiều vitamin, muối khoáng, bệnh nhân có thể ăn nhiều và đỡ đói.Rau tươi có số lượng gluxit rất thấp từ 3-6%: rau muống, rau diếp, cà chua (3% gluxit), bắp cải, xúp lơ, cà, bầu, bí (5% gluxit), cà rốt, hành (10% gluxit). Luộc rau cũng như nước luộc thịt là món ăn tốt: cho bệnh nhân đái đường.

3. Đậu đỗ: tốt và nên dùng nhiều ở bệnh nhãn đái đường, một mặt cung cấp protein eho bệnh nhân, mặt khác gluxit của đậu đỗ cũng dễ tiêu hóavà sử dụng tốt.

4. Quả: Rất tốt vì mang lại nhiều vitamin, nhất là vitamin C và muối khoáng. Quả chống lại được toan vì nó có tính kiềm. Loại quả có nhiều gluxit thì cần phải kiêng, tuy những gluxit của quả ít gây tăng đường hơn là các loại khác.

5. Đường mứt: Cấm dùng dối với bệnh nhân đái đường.

6. Sữa: là thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, dễ tiêu, nhiều protein và các axit min cần thiết nên dùng rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường.

Tuy nhiên khi dùng sữa phải tính toán cẩn thận vì sữa có 5% lactoza và giá trị sinh năng lượng của sữa lại thấp (67 Kcal/100ml), sữa chua dùng tốt hơn sữa thường vì một phần lactoza đã biến thành axit lactic.

7. Các loại thịt, cá, trứng: Đối với bệnh nhân đái đường, lượng protein đung nhiều hơn người bình thường nhưng gây toan và gây hôn mê. Thịt có hàm lượng protein cao do vậy không nên dùng quá mức. Cá và gia cầm cũng vậy, cần nhớ rằng bệnh nhân đái đường hay có xơ cứng động mạch và thận của họ rất yếu. Nên dùng thịt mỡ, cá và gia cầm béo vì khi có nhiều mỡ thì lượng protein sẽ ít đi. Nước luộc thịt dùng tốt vì có ít gluxit và lại có chất chiết mùi thơm, muối khoáng và vitamin. Trứng không có nhiều gluxit do vậy trứng ỉa thức ăn tốt cho bệnh nhân, trứng có nhiều protein và lipit có giá trị cao, trứng ít gây toan hơn thịt.

IV. Giới thiệu một số thực đơn mẫu

Kipkis.com-Dinh-duong-va-an-toan-thuc-pham-25.png

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
  • Tác giả: Viện thông tin thư viện y học trung ương
  • Nguồn: ebooks.vdcmedia.com
"Like" us to know more!