Chính trị theo Nho giáo

CHƯƠNG V: CHÍNH TRỊ
1. Trọng lễ nghĩa hơn pháp luật
2. Thuyết chính danh
3. Ghét chính đảng
4. Ghét bàn về lợi
5. Xét nhiệm vụ, không xét quyền lợi
6. Ghét chiến tranh, khinh võ lực
7. Đế quốc theo Nho giáo
8. Thuyết Đại đồng
9. Trọng người hơn trọng chế độ
10. Vương đạo, bá đạo.

1. Trọng lễ nghĩa hơn pháp luật

Khi đã nhận rõ những nguyên lý của Nho giáo trong các chương trên, ta thấy ngay được những quy tắc chính trị của Trung Hoa thời cổ.

Như độc giả đã biết, trị nước theo Nho giáo là giữ trật tự trong xã hội (trị nghĩa là như vậy, có trật tự, trái với loạn), mà nhà Nho không phân biệt chính trị với đạo đức. Do hai nguyên lý đó, lễ nghĩa được trọng hơn pháp luật.

Đại Đái Lễ Ký có câu: “Cái biết của người ta là chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có; pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi... Ôi lễ, lễ quý ở chỗ dứt được điều ác từ lúc chưa nẩy mầm ra, gây lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày gần điều thiện, xa tội lỗi, mà tự mình không biết”. (a)

Lễ dạy người ta nên làm điều gì, không nên làm điều gì; pháp luật cấm người ta làm điều gì, nếu không tuân thì phải tội. Lễ có ý nghĩa giáo dục; pháp luật có ý nghĩa thống trị. Lễ có tính cách khoan, nhân; pháp luật có tính cách bạo, tàn. Cho nên Khổng Tử ghét dùng hình pháp, nói “xử kiện thì ta cũng như người khác thôi, phải làm sao cho đừng có kiện tụng chứ” (b) (Đại học). Thậm chí, ông cho rằng “mắng giận để cải hoá dân là phương pháp kém nhất” (c) (Trung dung).

Tuân Tử mặc dầu chủ trương thuyết tính ác mà vẫn trọng lễ, nhạc, chưa xa đạo của Khổng Tử nhiều; đến Hàn Phi Tử, “Không nói đến nhân nghĩa” nữa, mà trọng hình pháp, thì đạo Nho đã sai lạc hẳn đi.

2. Thuyết chính danh

Muốn giữ trật tự trong xã hội thì điều cốt yếu là mỗi người phải giữ địa vị và bổn phận của mình; địa vị càng cao thì tài, đức càng phải lớn. Đó là một lý tưởng khó thực hành được, và thời nào cũng có nhiều kẻ tài, đức không xứng với địa vị mà gây mối loạn trong xã hội. Để trừ tệ đoan đó, Khổng Tử đề xướng thuyết chính danh. Ông bày tỏ một cách kín đáo chủ trương của ông trong bộ Xuân Thu và môn đệ đã ghi chép những lời giảng dụ của ông trong bộ Luận ngữ chương Tử Lộ:

Một hôm Tử Lộ hỏi ông:

- Nếu vua nước Vệ nhờ thầy sửa việc chính trị thì thầy làm điều gì trước?

Ông đáp:

- Tất phải sửa danh cho chính trước hết.

- Có đâu thế? Thầy nói vu khoát. Sửa danh cho chính trị để làm gì?

- Anh quê mùa lắm. Người quân tử chưa biết điều gì thì đừng vội nói. Danh không chính thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng, lễ nhạc không hưng thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân chúng biết xử trí ra sao cho khỏi bị hình phạt. Cho nên người quân tử danh mà chính thì tất nói được, nói được thì tất làm được... (d)

Thuyết chính danh đó có tính cách cách mạng. Ta có thể hiểu ngầm rằng: Nếu kẻ làm vua mà tàn bạo với dân thì không đáng gọi là vua, cũng như “cái cô (một loại bình đựng rượu) mà không ra hình cái cô, thì không phải là cái cô” (Luận ngữ - Ung dã); cho nên giết hắn là ân nhân của dân, chứ không mang tội thí quân.

Tuân Tử cũng cho sự chính danh là cần thiết: “Nếu kẻ vương giả lại sinh ra ở đời thì tất lại theo cái danh cũ và sửa cái danh mình cho chính”. Ông viết một chương về chính danh, phát huy được nhiều điều mới, song đứng về phương diện triết lý, hình pháp hơn là đứng về phương diện đạo đức như Khổng Tử.

3. Ghét chính đảng

Trật tự xã hội đã quy định tỉ mỉ, ai cứ theo phận nấy là quốc gia bình trị; sự thành lập chính đảng hoá vô ích, cho nên Nho giáo ghét chính đảng. Khổng Tử nói: “Quân tử kính mà không tranh, quần tụ mà không có bè đảng” (e) (Luận ngữ - Vệ Linh công); lại nói: “Thiên hạ có đạo thì người thường không bàn bạc, nghị luận việc nước” (f) (Luận ngữ - Quý thị). Mạnh Tử cũng nói: “Ngôi thấp mà bàn việc cao là có tội” (g) (Vạn Chương hạ).

Vậy Nho giáo lấy ý chí của Nho giáo làm ý chí của cá nhân. Cá nhân của Nho giáo phải theo một lý tưởng chung để hiệp lực làm cho xã hội được điều hoà.

Về phương diện đó, chính trị Nho giáo có tính cách chuyên chế[1], nhưng vì nhà cầm quyền phải tôn trọng ý chí của dân, như ý của Trời, và có thể bị dân lật đổ nếu không làm tròn nhiệm vụ, nên sự chuyên chế của chính thể quân chủ Nho giáo khác sự chuyên chế của chính thể quân chủ phương Tây hồi xưa.

Theo nguyên tắc cũng không có vấn đề thiểu số phục tòng đa số, vì ý chí của nhân dân là ý chí của nhân dân sáng suốt, chứ không nhất định phải là của đại đa số quần chúng. Ta có thể nói rằng có chuyên chế, là chuyên chế của những kẻ tài đức mà thôi. Sự chuyên chế đó thi hành cách nào thì ta không được biết; trong tứ thư ngũ kinh không thấy nói rõ cách dẹp các đảng phái ra sao.

4. Ghét bàn về lợi

Tôi đã nói đạo Nho xét nghĩa vụ hơn xét quyền lợi: Khổng Tử không chê hẳn lợi là thấp, nhưng bảo kẻ làm điều nhân thì phải bỏ mệnh và lợi đi. (Tử hãn ngôn lợi dữ mệnh, dữ nhân)[2]. Đến đời sau có lẽ tinh thần vụ lợi mạnh quá, cho nên Mạnh Tử nhiệt liệt tấn công chính sách vụ lợi. Ông bảo: “Nước không lấy lợi làm lợi mà lấy nghĩa làm lợi”.

Khi qua nước Lương, Lương Huệ Vương hỏi ông:

- Ông có điều gì làm lợi cho nước tôi không?

Ông gạt ngay đi:

- “Nhà vua hà tất phải nói lợi, Chỉ có nhân nghĩa mà thôi (h) Nếu ông vua nói: Làm thế nào cho lợi nước ta? thì quan đại phu cũng nói: Làm thế nào lợi cho nhà ta? kẻ sĩ và thứ dân cũng nói: Làm thế nào lợi cho thân ta? Mà trên dưới ai ai cũng tranh nhau về lợi thì nguy mất. Trong một nước vạn cổ xe, thì kẻ giết vua tức là nhà có ngàn cỗ xe; trong một nước có ngàn cỗ xe, kẻ giết vua tức là nhà có trăm cỗ xe. Vua có vạn, bầy tôi có ngàn, vua có ngàn, bầy tôi có trăm, như vậy không phải là không nhiều rồi. Nếu chỉ nghĩ đến lợi trước, đến nghĩa sau thì kẻ dưới không chiếm được của người trên, không cho là đủ (...) Nhà vua chỉ nên nói đến nhân nghĩa, hà tất nói đến lợi (Lương Huệ Vương thượng).

Lần khác, Tống Hinh ngỏ ý với ông muốn sang Tần, Sở để lấy điều lợi hại can hai nước ấy đừng đánh nhau, ông khuyên:

“Nếu ông lấy điều lợi mà nói với vua nước Tần, nước Sở thì vua hai nước ấy sẽ vì lợi mà thôi đánh nhau; nhưng nếu ai cũng chỉ thích vì lợi thì người làm tôi sẽ lấy lòng mong lợi mà thờ vua, người làm con sẽ lấy lòng vì lợi mà thờ cha, người làm em sẽ lấy lòng vì lợi mà thờ anh, chỉ lấy lòng mong lợi mà tiếp đãi nhau, như vậy mà nước không mất là điều không có. Nếu lấy nhân nghĩa mà nói thì người làm tôi sẽ đem lòng nhân nghĩa mà thờ vua, người làm con sẽ đem lòng nhân nghĩa mà thờ cha, người làm em sẽ lấy lòng nhân nghĩa mà thờ anh; vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi mà chỉ đem lòng nhân nghĩa tiếp đãi nhau, như thế mà không trị được thiên hạ là điều chưa có. Vậy thì hà tất phải nói lợi”. (Cáo Tử, hạ).

Tóm lại, Nho giáo tin rằng hễ bỏ lợi, dùng nhân nghĩa[3] là thiên hạ bình: “Lấy đức mà làm chính trị thì thiên hạ sẽ quy phục như sao Bắc đẩu ở một chỗ mà các sao khác chầu cả về” (i) (Luận ngữ - Vi chính); còn “bất nhân mà được thiên hạ quy phục thì chưa từng có” (j) (Mạnh Tử - Tận tâm, hạ).

5. Xét nhiệm vụ, không xét quyền lợi

Trật tự được quy định, mà trên dưới chỉ nói đến nghĩa vụ, chứ không nói đến quyền lợi, thì các giai cấp tất hoà hiệp với nhau hơn là đấu tranh nhau. Lời xét đoán dưới đây của một học giả Nhật Bản có phần xác đáng. Đại ý học giả đó nói:

“Trong lịch sử phương Tây, mỗi khi có nguy cơ về cách mạng thì các nhà cách mạng đều nghĩ rằng giai cấp trên phải hy sinh quyền lợi mới tránh được cách mạng; nhưng giai cấp đó không chịu hy sinh và cách mạng phát. Như ở thế kỷ 18, tình hình xã hội Pháp, Đức như nhau mà ở Pháp có cách mạng, ở Đức không, chính vì nhà cầm quyền Pháp và hai giai cấp trên không chịu nhường bớt quyền lợi cho giai cấp bình dân, như ở Đức.

“Sở dĩ thế giới ngày nay có những cách mạng xã hội là vì giai cấp tư bản chỉ vụ lợi kỷ. Đề xướng nghĩa vụ cho giai cấp đó, giảng cho họ chịu hy sinh, là có thể tránh được sự uy hiếp của chủ nghĩa xã hội, ngoài ra không có giải pháp nào cả. Nói cách khác, là phải theo chính sách của đạo Nho. Phải chăng vì lẽ đó mà sau mỗi kỳ đại chiến, người Âu lại hăng hái nghiên cứu Nho giáo”[4].

6. Ghét chiến tranh, khinh võ lực

Nhà Nho trọng nhân nghĩa thì tất nhiên là ghét chiến tranh, khinh vũ lực. Ở trên tôi đã dẫn lời Khổng Tử bảo Tử Cống rằng làm chính trị mà nếu cần phải bỏ một trong ba điều: dân đủ ăn, đủ binh lính, dân tin cậy, thì nên bỏ binh lính trước hết.

Hồi Quý Thị, thủ tướng nước Lỗ, muốn đánh nước Xuyên Du[5], một phụ dung của Lỗ, Nhiễm Hữu và Quý Lộ vào yết kiến Khổng Tử, thừa việc đó, Khổng Tử mắng. Nhiễm Hữu đáp:

“Nước Xuyên Du đất hiểm mà gần nước Phí, nay không chiếm nó thì đời sau hại cho con cháu nó”[6].

Khổng Tử bảo:

“Anh Cầu! (tức Nhiễm Hữu) người quân tử ghét những kẻ không chịu nhận lỗi mà cố đặt lời bào chữa. Ta đây nghe rằng người giữ được nước được nhà không lo vì ít người mà lo người đông mà xử trí không công bằng; chẳng lo của thiếu mà lo không yên ổn. Bởi vì nếu xử trí công bằng thì không đến nỗi thiếu, hoà hợp thì không lo gì người ít, dân được yên vui thì không lo gì nghiêng đổ. Đã được vậy rồi, mà người phương xa không phục, thì phải trau giồi văn đức để họ theo mình rồi an ủi họ. Nay anh Do và anh Cầu giúp thầy các anh, người phương xa không phục mà không sửa văn đức cho họ tới mình, trong nước chia rẽ mà chẳng giữ gìn được, mà lại tính việc binh đao ở trong nước, ta sợ tai hoạ của nhà Quý Tôn không do nước Xuyên Du mà ở ngay bức vách nhà trong đấy”. (k).

Mạnh Tử cũng nói: “Thành không hoàn bị, binh giáp không nhiều, không phải là tai ách cho nước; đồng ruộng khai khẩn, hàng hoá tiền của không tích tụ không phải là cái hại của nước; người trên thì vô lễ, người dưới thì không học, loạn dân dấy lên, thì chết ngày nào không biết đấy” (l) (Ly Lâu).

Tiến lên một bực nữa, ông còn kết tội hạng bầy tôi không hướng dẫn vua chúa bằng nhân nghĩa, chỉ lo luyện tập binh mã để chiến thắng nước khác, cho họ không phải là lương thần mà là kẻ thù của dân, không phải là giúp vua mà là giúp kẻ tàn bạo như Kiệt, Trụ.

Nhất là những câu dưới đây của ông thì khắp cổ kim, chưa có chính trị gia nào dám nói:

“Kẻ nào giỏi gây chiến thì phải chịu cái tội nặng nhất”

“Vì tranh đất đai mà gây chiến, làm cho dân chết thì không khác gì cho đất ăn thịt dân, tội đó không tha chết được” (m)

Tuy nhiên, Nho giáo vẫn nhận có hai trường hợp phải dùng binh lực:

- để chống với kẻ xâm lăng mình

- và để vì nhân dân mà diệt vua tàn bạo.

Nhưng cả trong trường hợp thứ nhất, trường hợp tự vệ, chiến tranh cũng là bất đắc dĩ: một vị nhân quân không vui lòng khi bắt dân phải chết cho đất đai vì đất đai đâu quý bằng nhân mạng.

Có lần Đằng Văn Công hỏi Mạnh Tử:

“Đằng là một nước nhỏ, tận lực thờ nước lớn mà cũng không được yên, phải làm thế nào?

Ông đáp:

- Xưa Thái vương ở đất Mân bị rợ Địch xâm chiếm, đem da thú dâng nó, nó không tha, đem châu ngọc dâng nó, nó cũng không tha, mới hợp các bô lão mà bảo: “Rợ Địch muốn chiếm đất đai của ta. Tôi nghe rằng người quân tử không lấy vật dùng để nuôi người mà hại người. Các ông lo gì không có vua. Tôi đi đây”. Rồi ông bỏ đất Mân, vượt núi Lương Sơn, lập ấp ở chân núi Kỳ Sơn. Người nước Mân nói: “Ông ấy là người nhân, không nên bỏ ông ấy” và người ta theo ông như đi chợ. Đó là một cách. Còn một cách nữa là cố giữ lấy đất, giữ không được thì chết. Xin nhà vua lựa một trong hai cách ấy”. (Lương Huệ Vương, hạ)

Trường hợp thứ nhì là trường hợp của vua Thang đánh Cát Bá, vì Cát Bá vô đạo, mặc dầu được vua Thang giúp cho đồ cúng mà cũng không tế lễ quỷ thần, mà còn xúi dân cướp bóc dân của ông. Ông đánh mười một trận đều thắng. Đánh ở phương Đông thì rợ phương Tây oán, đánh phương Nam mà rợ phương Bắc oán, nói: “Tại sao không giải thoát cho nước tôi trước?” Dân mọi nơi ngóng ông như đại hạn trông mưa. Ông đánh nước nào thì dẹp vua nước đó mà vỗ về dân, cho nên dân rất vui vẻ. (Mạnh Tử - Đằng Văn Công).

Trường hợp đó tất nhiên cũng là bất đắt dĩ nữa.

7. Đế quốc theo Nho giáo

Xét lời Mạnh Tử khen vua Thang đó thì biết Nho giáo không bác hẳn chính sách đế chế, nhưng đế chế Nho giáo khác đế chế La Mã. La Mã chinh phục đế chế bằng võ lực, rồi cai trị bằng võ lực. Nho giáo trái lại, lấy đạo đức làm phương tiện, và lấy sự giáo hoá thế giới làm mục đích.

Mạnh Tử nói: “Đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng, đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành, thế là cho thổ địa ăn thịt người, đáng tội chết; cho nên kẻ giỏi đánh nhau chịu hình phạt thứ nhất, rồi đến kẻ kết liên chư hầu, sau mới tới kẻ khai đất mà chiếm đất” (n) (Ly Lâu, thượng).

Lại nói: “Kẻ lấy sức mạnh mà bắt người ta phục mình thì người ta không tâm phục, sức mạnh không đủ[7]; lấy đức mà làm người ta phục mình thì lòng người ta vui mà thành thực phục”. (o) (Công Tôn Sửu, thượng).

Đối với các dân tộc chung quanh, Nho giáo chê là không văn minh, nhưng không có ý diệt họ để khuếch trương lãnh thổ mà có ý thương hại, muốn khai hoá họ.

Có lần Khổng Tử thấy đạo của mình không thi hành trong nước được, định đem truyền bá nó ở những xứ di địch. Trong môn đệ có người cản: “Những nơi đó bỉ lậu, làm sao ở được?”. Ông đáp: “Người quân tử ở lại đó thì có gì mà bỉ lậu?” (p) (Luận ngữ - Tử hãn). Ông cho đạo đức thi hành tới đâu, thì văn hoá truyền tới đó, mà những xứ dã man cũng sẽ thành những phần tử trong thiên hạ của Nho giáo. Lần khác ông còn khen Di, Địch có kỷ cương hơn là Trung Hoa nữa: “Di, Dịch có vua, không như Trung Hoa không có”[8] (q) (Luận ngữ - Bát dịch).

Vì muốn lấy đức mà phục các dân tộc, cho nên Nho giáo đối với họ khoan hồng, nhũn nhặn: “Đưa kẻ đi, đón người đến, khen người thiện mà thương kẻ yếu, kém, là để vỗ về phương xa; dòng vua nào tuyệt thì tìm người để nối, nước nào đã suy đổ thì phục hưng lại; trị loạn, giúp nguy, việc triều sinh phải tuỳ lúc tiện lợi cho người, bắt người ta triều cống ít mà tặng lại người ta nhiều; như vậy để chư hầu có lòng yêu nhớ mình” (Trung Dung).

Cách cư xử đó là cách của vua Thang đối với vua Cát. “Vua Thang ở đất Bạc, nước láng giềng là Cát. Cát bá bỏ bê việc tế tự. Vua Thang sai sứ sang hỏi tại sao. Cát bá đáp: “Vì không có súc vật để cúng”. Vua Thang sai người đem bò dê qua. Cát bá mổ thịt ăn, mà không cúng. Vua Thang lại sai người qua hỏi tại sao không cúng. Đáp: “Không có xôi để cúng”. Vua Thang sai dân sang cầy cấy cho Cát bá để Cát bá có xôi mà cúng. Sau Cát bá xúi dân cướp bóc những người sang cầy cấy giúp mình, nên vua Thang mới bất đắc dĩ diệt Cát bá” (Mạnh Tử - Đằng Văn Công, hạ)

Truyện ấy có thực hay không, ta không rõ; nhưng chính sách chinh phục nước khác bằng đạo đức và văn hoá đó, mặc dầu không được luôn luôn theo đúng, cũng giảng được phần nào tại sao dân tộc Trung Hoa, thời Nghiêu, Thuấn chỉ chiếm một khu nhỏ hẹp trên lưu vực Hoàng Hà mà rồi lãnh thổ mỗi ngày một lan dần ra, tới đời Thanh, thành một nước lớn nhất thế giới. Họ đồng hoá được những dân tộc mà họ chinh phục, họ đồng hoá được cả những dân tộc thắng họ, như Kim, Nguyên, Thanh. Điều đó làm cho người phương Tây rất lấy làm lạ.

8. Thuyết Đại đồng

Ở đầu thiên Lễ vận trong Kinh Lễ có đoạn làm cho nhiều người khảo cứu về Nho giáo phân vân, tức đoạn chép lời Khổng Tử nói với Tử Du sau khi ông thở dài buồn bã về việc vua Lỗ cúng tế không đủ lễ. Đoạn ấy như sau:

“Thực hành đại đạo cùng các bậc anh tuấn đời tam đại thì Khâu nầy làm không được, nhưng vẫn có chí đó.

Ở thời đại đạo thực hành thì thiên hạ là của chung, người ta chọn kẻ hiền năng, giảng điều tín, sửa điều hoà thuận, cho nên người ta không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con mình, kẻ già được nuôi dưỡng trọn đời, kẻ trẻ mạnh có chỗ dùng, trẻ con được săn sóc đến trưởng thành, người ta yêu thương kẻ goá, con côi, người già cô độc, người tàn tật được chu cấp, con trai có chức phận, con gái có chồng con, người ta ghét thấy của cải bỏ phí trên đất mà lượm lên chứ không chủ ý giấu giếm trong mình, ghét sự không dùng sức, nên làm việc chứ không chủ ý lo lợi riêng cho mình. Vì vậy mà cơ mưu phải bế tắc, kẻ trộm cắp, người làm loạn, làm giặc không nổi lên, cho nên cửa ngõ không cần đóng. Đó là thời đại đồng.

Nay đại đạo đã bỏ, người ta lấy thiên hạ làm của riêng, ai nấy đều riêng thân cha mẹ mình, đều riêng yêu con mình, cho của cải và sức lực là riêng của mình, vua quan thì cha truyền con nối, quốc gia thì lấy thành quách hào trì mà giữ vững, lấy lễ nghĩa làm kỷ cương, làm cho chính cái nghĩa vua tôi, hậu cái tình cha con, thuận cái tình anh em, hoà cái đạo vợ chồng, đặt chế độ, lập điền lý, tôn trọng kẻ trí dũng, lập công khởi sự riêng cho mình. Cho nên sự dùng mưu chước mới sinh ra mà việc chiến tranh do đó khởi lên. Vua Vũ, vua Thang, vua Văn, vua Võ, Thành Vương, Chu Công, bởi đó mà được chọn là bậc hơn cả. Sáu bậc quân tử ấy đều cẩn thận ở lễ, lễ là để làm cho rõ cái nghĩa, thành điều tín, rõ người có lỗi, lấy nhân làm phép, giảng điều tốn nhượng, bảo dân theo phép thường. Có ai không theo những điều ấy, thì dẫu có thế vị, chúng nhân cũng không cho là hoạ ác, bắt tội mà truất đi. Đó là đời tiểu khang (s).

Một số học giả gần đây dựa vào đoạn đó mà tuyên truyền cho thuyết đại đồng, song đa số nhà Nho ngờ đoạn đó do những người đời sau thêm thắt; có nhà còn nghi rằng cả kinh Lễ và kinh Thư cũng không phải Khổng Tử soạn. Dù thuyết đại đồng và tiểu khang đó có thực là của Khổng Tử đi nữa thì ta cũng chỉ nên coi là do ông chán nản mà thốt ra, chứ không phải là chủ trương của ông, vì vậy tôi không coi nó là một tư tưởng của Nho giáo.

9. Trọng người hơn trọng chế độ

Nho giáo đã phân biệt chính trị và đạo đức thì kết quả tất nhiên là trọng người hơn trọng chế độ. Đó cũng là một điểm phương Đông khác với phương Tây. Các chính khách Âu Châu thường nghĩ rằng muốn cải lương chính trị trước hết phải cải lương chế độ, cho nên cách mạng ở Âu Châu đều là cách mạng chế độ. Khi dân chúng Âu lựa người nào để giao quyền, tức là lựa chủ trương, đường lối của người đó, mà khi một nội các bị lật đổ chính là vì chủ trương của nội các đó không được tín nhiệm nữa.

Nho giáo ngược lại, cho rằng chính nghĩa thực hiện được hay không là do người, chứ không do chế độ, chính sách. Chế độ có hoàn thiện đến đâu, mà những người hành chánh thiếu tài thiếu đức thì kết quả cũng tai hại, vì họ không theo đúng chế độ hoặc bỏ mà không theo. Trung Dung chương 27 nói: “Lớn đẹp thay đạo của thánh nhân, ba trăm lễ nghi, ba ngàn uy nghi, đợi có người rồi mới thi hành” (t). Lại chép lời Khổng Tử nói với Ai Công: “Việc chính trị của vua Văn, vua Vũ bầy ra ở trong sách. Nếu những người như vua Văn, vua Vũ còn thì chính trị được thi hành, nếu những người ấy mất thì chính trị ấy ngừng. Đạo của người làm cho chính trị hoá tốt, cũng như đạo của đất làm cho cây tốt; chính trị như cây cỏ bồ, cỏ lư, cho nên làm chính trị tốt hay xấu là do người” (u) (Chương 20).

Vậy Nho giáo cho rằng phải cải thiện cá nhân rồi quốc gia được cải thiện, còn phương Tây chỉ nghĩ cải thiện chế độ quốc gia để cá nhân được cải thiện. Lý tưởng của Nho giáo là tạo thành những người chính nghĩa rồi sau những người đó sẽ thực hành chính nghĩa; lý tưởng của phương Tây là tạo một chế độ để kiềm chế chính khách cho họ rán giữ được chính nghĩa. Nói cho gọn thì nhà Nho dùng đức trịnhân trị[9], còn Âu Tây dùng pháp trị, khác nhau chỉ ở chỗ đó.

Theo tôi, chế độ quân chủ của Trung Hoa tồn tại được mấy ngàn năm, đã đành nền kinh tế của họ xây dựng trên nông nghiệp, không biến đổi mấy, nhưng cũng còn do họ tin rằng chế độ không quan trọng bằng người. Mỗi khi chịu chính sách bạo ngược của một hôn quân, họ chỉ cho là lỗi tại ông vua đó, chứ không phải tại chế độ quân chủ, cho nên họ làm cách mạng để lật ông vua đó, đưa người khác lên mà vẫn giữ chế độ cũ. Vì vậy ở Trung Hoa ta thấy nhiều cuộc thay triều đổi ngôi hơn ở các nước Châu Âu.

10. Vương đạo, bá đạo

Theo những nguyên tắc kể ở trên thì chính thể của Nho giáo tuy là quân chủ mà có tính cách dân chủ. Về hình thức thì là quân chủ; song quyền lực của vua do dân mà có, vua vì dân mà tồn tại, chứ dân không vì vua mà tồn tại, chỉ khi nào vua làm tròn nghĩa vụ với dân thì dân mới mang ơn và tôn sùng, và địa vị của vua lúc đó mới chính đáng, mệnh lệnh của vua mới được dân theo.

Nhưng chính thể đó cũng không hoàn toàn dân chủ, vì chủ quyền tuy thuộc về nhân dân, mà về hạng nhân dân sáng suốt, chứ không về hạng nhân dân duy kỷ, tức hạng mà nhà Nho ám chỉ trong câu: “Trời sinh dân có lòng dục, không có chủ thì loạn”. Hạng dân này phải bị chi phối, dắt dẫn; còn hạng trên, hạng dân chỉ trong câu “Dân muốn cái gì, Trời muốn cái đó” là hạng có quyền giám sát vua, bắt vua theo lẽ phải.

Nó có vẻ như chuyên chế vì vua đảm đương tất cả những nhiệm vụ từ cai trị đến giáo hoá và nghiêm cấm đảng phái, nhưng nếu ta xét rằng những phương tiện chuyên chế như võ lực và hình phạt đều bị nhà Nho mạt sát thì ta lại thấy chính thể của đạo Nho không chuyên chế chút nào cả. Có lần Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử: “Giết kẻ vô đạo để cho dân có đạo đức, như vậy có nên không?”. Ông đáp: “Làm chính trị, cần gì phải dùng đến giết người? Ông thích làm điều thiện thì dân sẽ hoá thiện” (v) ( Luận ngữ - Nhan Uyên).

Muốn tóm tắt, ta có thể nói rằng chính thể của Nho giáo là một chính thể chuyên chế của nhân và trí.

Theo đúng chế độ ấy thì thực hành được vương đạo; nếu không dùng nhân nghĩa để trị dân, mà dùng sự thưởng phạt cho công bằng, làm cho dân giàu và mạnh, là thi hành bá đạo; nếu chỉ nghĩ đến cái lợi cho mình, là theo con đường mất nước.

Sự phân biệt ba lối chính trị ấy là một chủ trương chung của các nhà Nho mà Tuân Tử đã ghi trong chương Vương bá:

Vương đạo.- “Đem cả nước mà hô hào làm việc nghĩa và không làm gì hại đến lễ nghĩa. Làm một điều bất nghĩa, giết một người không có tội mà được thiên hạ thì kẻ nhân giả không làm. Cứ giữ vững lòng mình mà giữ nước. Được như thế thì thật là vững chắc lắm vậy. Những người cùng với mình làm việc ấy đều là nghĩa sĩ, những hình pháp đem bày tỏ ra cho quốc gia đều là pháp nghĩa. Những điều mà nhân chủ đã thật tin và đem quần thần quy hướng cả về đó, đều là cái ý chú vào việc nghĩa. Như thế thì kẻ dưới lấy nghĩa mà trông cậy người trên, ấy là cơ bản định vậy. Cơ bản đã định thì nước định, nước định thì thiên hạ định... Không bởi cớ gì khác, chỉ bới cái cớ cố làm cho nên việc nghĩa. Ấy là việc nghĩa lập mà làm vương vậy”.

Bá đạo.- “Đức tuy chưa đến cùng cực, nghĩa tuy chưa nên hẳn, song cái lý của thiên hạ cũng lược có tiết tấu[10]. Hình pháp thưởng phạt làm tin cho thiên hạ, kẻ bầy tôi ở dưới đều hiểu rõ mà biết những điều yếu ước. Cái chính lệnh đã được bầy ra thì dẫu thấy rõ điều lợi của mình hỏng, nhưng cũng không lừa dối dân; đã kết ước với nước nào thì dẫu thấy rõ điều lợi của mình hỏng, nhưng cũng không lừa dối người. Như thế thì binh mạnh, thành bền, địch quốc sợ mình, cả nước một nền, dân với nước đều tin. Tuy ở nơi hẻo lánh, cũng có uy động cả thiên hạ... Song không phải là hết lòng sửa cái gốc ở sự chính và sự giáo, không phải là lấy lấy văn lý làm căn bản, không phải là làm cho lòng người ta phục. Làm điều gì thì phương hướng về phương lược, xét việc gì thì dùng cái thuật lấy dật đãi lao, nghiêm cẩn sự xúc tích, sửa sang việc chiến bị, trên dưới một lòng tin nhau, thiên hạ không ai dám đương với mình. Không bởi cớ gì khác, chỉ bởi lược thủ cái tin mà làm. Ấy thế gọi là tín lập mà làm bá vậy”.

Vong quốc chi đạo.- “Đem cả nước mà hô hào làm công lợi, không cần mở cái nghĩa, giữ cái tín, chỉ cốt cầu lợi. Trong thì không sợ dối dân để cầu cái lợi nhỏ, ngoài thì không sợ dối nước thân với mình để tìm cái lợi lớn. Trong không lo sửa cho ngay chính những thổ địa tài hoá của mình, mà lại muốn thổ địa tài hoá của người, như thế thì kẻ thần hạ và trăm họ ai chẳng lấy lòng giả dối mà đối đãi với người trên. Người trên dối với người dưới, người dưới dối với người trên, thế là trên dưới chia rẽ nhau ra, như thế thì địch khinh mình, mà nước thân với mình ngờ vực mình, ngày ngày dùng quyền mưu mà nước không khỏi sự nguy biến, đến cuối cùng là mất nước... Ấy không bởi cớ gì khác, chỉ bởi không dùng lễ nghĩa mà chỉ dùng quyền mưu vậy”[11].

Nhà Nho nào có tâm hồn cũng mong thực hành vương đạo không được thì bất đắc dĩ mới phải dùng bá đạo. Sử chép Vệ Ưởng lại yết kiến Hiếu Công, thuyết vương đạo, Hiếu Công không nghe, phải thuyết bá đạo, Hiếu Công mới chịu nghe, về nhà phàn nàn với bạn: “Đức của nhà vua khó mà ví với đời Ân, Chu được”.

Nói gì tới những bực như Khổng Tử và Mạnh Tử. Tuy suốt đời đi lang thang khắp các nước, khát khao được thực hành đạo mình, mà hễ gặp ông vua nào không có chí theo vương đạo thì cũng bỏ đi liền. Khổng Tử còn làm quan được ít năm chứ Mạnh Tử trước sau chỉ làm khách khanh nước Tề có vài tháng, hồi ông 55 tuổi. Làm khách khanh nghĩa là nhận tước khanh chứ không nhận bổng lộc[12]. Rủi cho ông, mà cũng rủi cho dân Trung Quốc, vua Tề tuy trọng ông, nhưng có đủ các tật: tật thích tiền, tật thích chiến tranh, tật hiếu sắc. Chắc các bạn còn nhớ câu trong Cung Oán:

Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng[13].

Tề Tuyên Vương chính là ông vua Tề đó. Thành thử, có lòng chí thành, có tài hùng biện như ông, chỉ vì cố giữ nguyên tắc “phi Nghiêu, Thuấn chi đạo, bất cảm dĩ trần ư vương tiền” (không phải là đạo Nghiêu, Thuấn thì không dám bày tỏ với vua), mà đành ôm hận, và than thở:

“Người nọ trẻ thì học đạo Nghiêu, Thuấn, lớn lên muốn thực hành; ngờ đâu nhà vua lại bảo: “Hãy bỏ sở học của chú đi mà theo ý ta” thì biết làm sao bây giờ?” (w)

Những tiếng “biết làm sao bây giờ?” chua sót cho ông biết bao! (u)

Chú thích

  1. Về điểm này, tư tưởng của Tử Sản khoáng đạt hơn, tựa như các triết gia Hi Lạp thời xưa. Tử Sản lập những hương hiệu để người trong nước được tới nghị luận chính sự. Có người khuyên ông đóng cửa, ông đáp: “Sao lại đóng? Người ta tới xét chính trị có thiện không, thiện thì làm, bất thiện thì ta sửa, như vậy dân là thầy của ta; huỷ học hiệu đi làm gì?”
  2. Nguyên văn: 子罕言利,與命,與仁. Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch nghĩa là: “Khổng tử ít nói tới lợi, với mệnh và đạo nhân”. (Goldfish).
  3. Sách in “nhân”, tôi tạm sửa lại thành “nhân nghĩa”. (Goldfish).
  4. Tôi rất tiếc không nhớ tên học giả Nhật đó. Trước đại chiến vừa rồi, tôi được đọc một cuốn do ông soạn về Nho giáo và do một người Trung Hoa dịch. Vì là sách mượn, tôi ghi lại những ý chính trong sách; sau cơn loạn lạc, những miếng giấy ghi những ý đó cũng không còn giữ được toàn vẹn, thành thử tới tên sách cũng không nhớ đích xác, nay tra lại không ra. Ngoài đoạn văn tôi trích ra đó, tôi nhớ đại cương lập luận của ông và chính nhờ tư tưởng của ông mà tôi tìm hiểu đạo Nho và soạn cuốn này.
  5. Xuyên Du: chữ Hán là 顓臾, trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê phiên âm là “Chuyên Du”. (Goldfish).
  6. Lời dịch của Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Luận ngữ rõ nghĩa hơn: “Nước Chuyên Du đó thành quách kiên cố mà lại gần ấp Phí (của họ Quí). Nay họ Quí không chiếm lấy thì sẽ thành mối lo cho con cháu đời sau”. (Goldfish).
  7. Trong cuốn Mạnh Tử, cụ Nguyễn Hiến Lê viết rõ hơn: “Dùng sức mạnh mà thu phục người thì người ta (phải theo mình nhưng) không tâm phục mình, sức mạnh không đủ (để cho người ta tâm phục)” và cụ chú thích thêm: Nguyên văn là “lực bất thiệm dã”. Có sách giải nghĩa rằng “tại người ta không đủ sức đương cự với mình nên phải miễn cưỡng theo mình”. (Goldfish).
  8. Ý nói vua Trung Hoa lúc đó không đáng gọi là vua. (Goldfish).
  9. Chữ NHÂN [人]
  10. Trong cuốn Tuân Tử, 2 cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch như sau: “Đức tuy chưa tới mức cao nhất, điều nghĩa tuy chưa thi hành rộng khắp, song mọi sắp xếp trong nước đã tạm chỉnh đốn”. (Goldfish).
  11. Trần Trọng Kim dịch - Nho giáo. Sách đã dẫn.
  12. Trong cuốn Mạnh Tử, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo: “...khách khanh, tức như chức cố vấn ngoại quốc mà không có quyền hành chi cả”. (Goldfish).
  13. Thực ra tật hiếu sắc của Tề Tuyên Vương còn kém Kiệt, Trụ xa; nhưng chỉ nội một tật thích chiến tranh cũng đủ cho Mạnh Tử không thể giúp ông được.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nho giáo - Một triết lý chính trị
  • Tác giả: Nguyễn Hiến-Lê
  • Nhà xuất bản: Nguyễn Hiến-Lê
  • Năm xuất bản: 1958
  • Cung cấp bản scan: Sadec1
  • Tạo eBook: Goldfish
  • TVE-4U

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!