Chính sách xã hội theo Nho giáo

CHƯƠNG VI: CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1. “Phú” rồi mới “giáo”
2. Chính sách xã hội ở Trung Quốc có sớm hơn ở phương Tây
3. Chính sách xã hội của Mạnh Tử
4. Phép tỉnh điền

1. “Phú” rồi mới “giáo”

Nho giáo cho rằng trị nước là giữ trật tự trong nước, muốn giữ được trật tự đó thì trên dưới phải giữ lễ nghĩa, cho nên rất trọng sự giáo dục. Nhưng giáo dục chỉ có nhiều hiệu quả khi nào dân được đủ ăn, vì vậy chính sách xã hội phải đi trước chính sách giáo hoá.

Khổng Tử có lần đến nước Vệ, thấy dân đông đúc, khen: “Dân đông thật!” Học trò là Nhiễm Hữu hỏi: “Dân đã đông rồi, còn phải làm gì thêm nữa?” Đáp: “Phải làm cho dân giàu - Đã giàu rồi, phải làm gì thêm nữa? - Phải dạy dân”. (a) (Luận ngữ - Tử Lộ).

Lần khác, Tử Cống hỏi về chính sách chính trị, ông cũng khuyên trước hết phải lo cho dân đủ ăn (Túc thực, túc binh, dân chi tín hỹ[1] - Luận ngữ - Nhan Uyên). (b)

Mạnh Tử cũng nghĩ rằng dân có hằng sản rồi mới có hằng tâm, mà nhiệm vụ của đứng minh quân là “chế định tài sản của dân, cho dân ngửng lên thì đủ thờ cha mẹ, cúi xuống thì đủ nuôi vợ con, năm được mùa thì no đủ, năm mất mùa thì không đến nỗi chết đói. Được vậy rồi mới bắt dân làm điều lành thì dân rất dễ làm điều lành” (Mạnh Tử - Lương Huệ Vương, thượng) (c)

2. Chính sách xã hội ở Trung Quốc có sớm hơn ở phương Tây

Chính sách xã hội đó gốc ở quan niệm Thượng Đế chí nhân. Dịch - Thoán thượng truyện có câu: “Trời đất nuôi vạn vật, thánh nhân nuôi hiền để đạt đến khắp vạn dân”, nghĩa là Trời nuôi vạn vật thì Thiên tử thay trời, cũng phải dùng người hiền để nuôi dân.

Có lẽ nhờ ở quan niệm ấy mà chính sách xã hội ở Trung Hoa phát hiện sớm hơn ở phương Tây. Ở Anh, mãi tới triều nữ hoàng Elizabert (thế kỷ 16), sự cứu bần cho dân mới được nhà cầm quyền lưu tâm tới, nhưng công việc đó chẳng qua cũng chỉ được coi là một công việc từ thiện, chứ chưa thành một nhiệm vụ của chính phủ. Thời đó người Âu còn nghĩ rằng dân đói rét là tại dân, chứ không tại chính sách của triều đình.

Hai thế kỷ sau, Leibniz mới vạch rõ bổn phận của nhà cầm quyền là phải lo cho dân đủ ăn, đủ mặc; rồi sau các nhà xã hội học như Robert Owen, Saint Simon, Louis Blanc, Fourier..., kẻ trước người sau, tuyên bố quyền lợi của lao động.

Ở Trung Hoa trái lại, ngay từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, sự nuôi nấng, bảo hộ nhân dân được coi là một nhiệm vụ gốc ở sự công bằng, phải thực hành cho khắp nhân dân, chứ không phải là sự bố thí, gia ân cho một số người nghèo khó. Tử Sản, một quan đại phu của nước Trịnh, có tiếng là nhân từ, thường lấy xe của mình để độ người qua sông Trăn, sông Vị. Mạnh Tử chê như vậy là chỉ biết thi những ân nhỏ mà không biết làm chính trị. Làm chính trị là phải thi cái ân lớn, dựng cầu cho dân qua sông, “chứ làm vui lòng mỗi người thì suốt ngày làm không đủ” (Mạnh Tử - Ly Lâu, hạ).

3. Chính sách xã hội của Mạnh Tử

Ông là người hô hào chính sách xã hội mạnh mẽ nhất. Hễ nhắc tới vấn đề đó là giọng hùng hồn, lôi cuốn.

Một lần ông nói với Lương Huệ Vương:

“Không làm trái thời cày cấy của dân thì thóc ăn không hết, cấm dân dùng lưới mau quá để đánh cá thì cá rùa ăn không hết, cho dân đốn rừng có thời thì cây dùng không hết; lúa thóc cá rùa ăn không hết, cây rừng dùng không hết thì dân nuôi được kẻ sống và chôn được kẻ chết, không có gì oán hận; nuôi được kẻ sống, chôn được kẻ chết, không có gì oán hận là bước đầu của vương đạo. Nhà nào có năm mẫu mà trồng dâu thì người năm chục tuổi có lụa để mặc, nuôi gà heo chó cho hợp thời thì người bảy chục tuổi có thịt để ăn, ruộng trăm mẫu mà cày cấy cho kịp thời thì nhà nhiều miệng ăn khỏi đói (...) Kẻ bảy chục tuổi có lụa để mặc, có thịt để ăn, dân chúng không đói, không rét, như vậy mà không làm vương (tức làm chủ chư hầu) thì là điều chưa có” (e) (Lương Huệ Vương, thượng).

Chương Tận tâm, thượng cũng có câu: “Nhà có năm mẫu mà trồng dâu dưới chân tường, rồi đàn bà nuôi tằm, thì người già có đủ lụa để mặc; nuôi năm con gà mái, hai con heo nái cho kịp thời thì người già có thịt để ăn; ruộng trăm mẫu để trai tráng cầy cấy thì nhà tám miệng ăn sẽ không đói”.

Gặp Tề Tuyên Vương, ông khuyên: “già mà không có vợ, gọi là “quan”, già mà không có chồng, gọi là “quả”, già mà không có con, gọi là “độc”, trẻ không có cha, gọi là “cô”. Bốn hạng người ấy là hạng cùng dân, không biết kêu vào đâu. Vua Văn Vương thi hành chính trị và nhân đạo, nghĩ tới bốn hạng người đó trước hết” (f) (Lương Huệ Vương, hạ).

Dân đủ ăn đủ mặc, kẻ khốn cùng có chỗ nương tựa rồi thì dân mới vui; và lúc đó nhà vua có thể vui chơi mà dân không oán:

“Vua chơi nhạc ở đây, bách tính nghe tiếng trống, tiếng chuông, tiếng sao, tiếng tiêu của nhà vua, đều vui vẻ, có sắc mừng mà bảo nhau: “Vua ta chắc mạnh khoẻ, cho nên mới chơi nhạc được”. Vua săn bắn ở đây, bách tính nghe tiếng xe tiếng ngựa của vua, thấy cờ xí đẹp đẽ, đều vui vẻ, có sắc mừng mà bảo nhau: “Vua ta chắc mạnh khoẻ, cho nên mới đi săn được như vậy”. Có do lẽ gì khác đâu, chỉ do lẽ cùng vui với dân vậy” (g) (Lương Huệ Vương, hạ)

Tiến lên bực nữa, nếu cho vui chung với mình, thì tốn kém đến đâu, dân cũng không cho là xa xí; trái lại, nếu để dân cực khổ mà vui riêng một mình thì tội nặng cũng bằng giết dân.

Tề Tuyên Vương hỏi Mạnh Tử:

- Vườn của Văn Vương vuông bảy chục dặm, điều đó có không?

Mạnh Tử đáp:

- Theo truyện thì có.

- Sao mà lớn như vậy?

- Vậy mà dân còn cho là nhỏ đấy.

- Còn vườn của quả nhân chỉ rộng có bốn chục dặm mà dân cho là lớn, là tại sao?

- Vườn của Văn Vương rộng bảy chục dặm, nhưng người cắt cỏ, kiếm củi vô được, kẻ bắt trĩ bắt thỏ vô được. Cho dân cùng chơi trong vườn với mình, cho nên dân cho là nhỏ, cũng là phải chứ? Tôi hồi mới tới bờ cõi nước Tề, hỏi về những điều đại cấm ở trong nước rồi mới dám vô nước. Tôi nghe nói ở ngoài kinh đô có vườn vuông bốn chục dặm, mà kẻ nào vô đó giết hươu nai thì bị trị tội như giết người, như vậy thì vuông bốn chục dặm, khác gì là cái hầm hố để bẫy dân không? Dân cho là rộng cũng phải chứ?” (h) (Lương Huệ Vương, hạ)

Trong chương Lương Huệ Vương, thượng giọng ông còn mạnh mẽ hơn nữa:

“Nếu trong bếp nhà vua (chỉ Lương Huệ Vương) có thịt béo, trong chuồng ngựa nhà vua có ngựa mập mà dân sắc đói, trong đồng ruộng có người chết đói, thế là cho thú ăn thịt người[2]. Loài thú ăn thịt lẫn nhau, người ta còn ghét, huống hồ làm cha mẹ dân, thi hành chính trị mà lại để cho loài thú ăn thịt người thì sao phải là cha mẹ dân?” (i)

4. Phép tỉnh điền

Đặc sắc nhất của chính sách xã hội trong Nho giáo là rất chú trọng đến sự làm cho tài sản của dân không chênh lệch nhau quá. Khổng Tử biết rằng trong nước có những kẻ giàu quá, những kẻ nghèo quá thì khó giữ cho khỏi loạn. Ông nói: “Người trị và trị nhà không lo tài sản có ít mà lo tài sản không chia đều, không lo nghèo mà lo không yên ổn” (i) [3] (Luận ngữ - Quý thị). Về điểm đó, tư tưởng của Trung Quốc tiến trước tư tưởng Âu Tây ít nhất là hai ngàn năm.

Kipkis.com-Nho-giao-mot-triet-ly-chinh-tri-nguyen-hien-le-1.jpg

Chia ruộng đất cho đều theo phép tỉnh điền[4] là một chính sách mà Mạnh Tử rất ca ngợi. Phép đó là chế độ cộng sản nguyên thuỷ còn sót lại của Trung Quốc. Theo truyền thuyết, phép đó có từ hồi Hoàng Đế. Mỗi miếng vuông vức, rộng là chín trăm mẫu, chia làm chín phần bằng nhau như ở hình bên trái[5], mỗi phần trăm mẫu. Tám phần ở chung quanh chia cho tám gia đình; phần ở giữa để ra hai mươi mẫu làm chỗ ở cho tám gia đình, còn lại tám chục mẫu thì tám nhà phải cầy cấy chung nộp lúa cho nhà vua.

Đời Hạ, mỗi nhà được chia năm chục mẫu, đời Ân mỗi nhà được bảy chục mẫu; đến đời Mạnh Tử, chế độ bị bãi từ lâu, ông muốn phục hồi lại và khuyên nhà vua dạy dân tinh thần liên đời, thân hoà với nhau, giữ gìn giặc cướp cho nhau, giúp đỡ lẫn nhau. (Mạnh Tử - Đằng Văn Công)

Chính sách chia ruộng đó, lâu lâu lại được các vua Trung Quốc áp dụng lại. Như đời Hán, Võ Đế và Vương Mãng đều muốn lấy đất đai của địa chủ lớn chia cho dân nghèo theo phép tỉnh điển; đời Lục Triều, nhà Tấn hạn chế số ruộng của hạng vương tôn và phát cho dân nghèo mỗi người bảy chục mẫu; đời Hậu Nguỵ, mỗi người được cấp bốn chục mẫu, khi chết phải trả lại triều đình, thêm hai chục mẫu nữa cho đứt để truyền tử lưu tôn; đời Tống, Vương An Thạch cũng chủ trương nhiều cải cách xã hội rất mạnh bạo, mục đích là cho tình trạng “bất quân” bớt được phần nào[6].

Vậy, nhờ tinh thần Nho giáo, nhờ câu “bất hoạn quả nhi hoạn bất quân” của Khổng Tử mà các nhà cầm quyền Trung Hoa thời xưa đã sớm biết lo vấn đề điền địa cho dân, tìm cách hạn chế cho tài sản không chênh lệch quá. Có lẽ đó là một nguyên nhân làm xã hội Trung Hoa giữ được tính cách tương đối quân bình và chế độ quân chủ lâu bền được hàng ngàn năm.


* Chú thích về đơn vị mẫu:

Hai bộ TỪ HẢI và TỪ NGUYÊN đều cho mỗi mẫu bằng 6.144 mét vuông, nhưng ta chỉ nên coi số đó là một số phỏng chừng, vì những đơn vị đo lường ở Trung Hoa thời xưa tất phải thay đổi ít nhiều tuỳ thời và tuỳ miền, Cứ như xem ở nước nhà, mỗi mẫu ta ở Bắc là 3.600 mét vuông, mà ở Trung là 5.000 mét vuông, thì đủ biết đơn vị mẫu ở Trung Hoa và Việt Nam hồi xưa không thống nhất và bất biết như đơn vị hectare của Âu châu thời nay[7].

Chú thích

  1. Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là: “Lương thực cho đủ, binh bị cho đủ, dân tin chính quyền”. (Goldfish).
  2. Vì nhà vua lấy thức ăn của dân để nuôi heo, ngựa của mình, đến nỗi dân chết đói.
  3. 有國有家者, 不患寡而患不均,不患貧而患不安
    Hữu quốc hữu gia giả, bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhi hoạn bất an.
    [Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê giảng: “nhà, tức ấp phong của quan đại phu”]. (Goldfish).
  4. Phép tỉnh điền là phép chia ruộng đất theo hình dạng của chữ tỉnh 井, chứ không phải theo nghĩa của chữ tỉnh là cái giếng. (Goldfish).
  5. Trong eBook này tôi đưa lên trên. (Goldfish).
  6. Coi thêm Lịch sử thế giới I và II của Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang.
  7. Trong cuốn Mạnh Tử, cụ Nguyễn Hiến Lê chú thích đơn vị mẫu như sau: “Mỗi mẫu theo Wieger bằng 600 mét vuông; nhưng theo tôi, con số đó chỉ là phỏng chừng, còn tùy thời, tùy miền nữa”. (Goldfish).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nho giáo - Một triết lý chính trị
  • Tác giả: Nguyễn Hiến-Lê
  • Nhà xuất bản: Nguyễn Hiến-Lê
  • Năm xuất bản: 1958
  • Cung cấp bản scan: Sadec1
  • Tạo eBook: Goldfish
  • TVE-4U

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!