Chính sách giáo hoá

CHƯƠNG VII: CHÍNH SÁCH GIÁO HOÁ
1. Nho giáo rất trọng sự học
2. Tổ chức học hiệu
3. Khoa học, nghệ thuật đều có tính cách đạo đức
4. Học là để hành
5. Hai hạng người
6. Hai lối dạy

1. Nho giáo rất trọng sự học

Xét các tôn giáo và triết lý, chỉ Nho giáo là trọng sự giáo dục hơn cả vì hai lẽ: thứ nhất là Nho giáo đã coi trí gần ngang với đức thì tất nhiên phải khuyến khích sự dạy dỗ; lẽ thứ nhì là Nho giáo cho nhiệm vụ giáo hoá dân cốt yếu cũng gần bằng nhiệm vụ xã hội, mà công hiệu của giáo dục còn hơn công hiệu của chính trị: “Muốn được dân thì chính trị tốt không bằng giáo dục tốt, vì chính trị tốt thì dân sợ, còn giáo dục tốt thì dân yêu; chính trị tốt thì dân giàu mà nước cũng giàu, còn giáo dục tốt thì được lòng dân” (Mạnh Tử) (a)[1].

Chính Khổng Tử là một gương hiếu học và tận tâm trong sự dạy học. Ông tự xét ông: “Thầm lặng nghĩ ngợi mà biết các lẽ, học mà không chán, dạy người mà không biết mệt, ba điều ấy ta đã làm được đâu?” (b)[2] (Luận ngữ - Thuật nhi)

Lại nói: “Ta không phải là người sinh ra đã biết, chỉ là người thích đạo thành hiền đời trước, cố sức mà tìm hiểu cho được” (c)[3] (Luận ngữ - Thuật nhi); “Trong cái ấp mười nhà, tất có người trung tín như Khâu nầy, nhưng không có người hiếu học như Khâu” (d)[4] (Luận ngữ - Công Dã Tràng); “Ta thường suốt ngày không ăn, thâu đêm không ngủ để suy nghĩ; vô ích, không bằng học” (e)[5] (Luận ngữ - Vệ Linh Công). Ông lo học không kịp, tới bảy mươi tuổi còn nói: “Giá ta được sống thêm vài năm nữa để học Dịch cho trọn, thì có lẽ không có điều lầm lớn” (f)[6] (Luận ngữ - Thuật nhi).

Ai cũng biết rằng Nho giáo chủ trương sự điều hoà tình cảm: “Hỉ, nộ, ai, lạc chưa phát ra thì gọi là trung, phát ra mà trúng tiết thì gọi là hoà, trung là gốc của thiên hạ, hoà là cái thông đạt của thiên hạ” (g)[7] (Trung dung); nhưng phần đông chỉ nhớ phương pháp điều hoà tình cảm bằng lễ nhạc, tức phương pháp áp dụng chung cho mọi người, mà quên phương pháp dùng lý trí để hướng dẫn tình cảm, tức phương pháp áp dụng riêng cho hạng trí thức. Công dụng của phương pháp thứ nhì đó đã được Khổng Tử vạch rõ trong câu: “Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu; muốn trí mà không muốn học thì bị cái che mờ là cao kỳ thái quá; muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh; muốn dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh suất” (Luận ngữ - Dương Hoá) (h)[8]. Đọc câu trên ta hiểu được sự quan trọng đặt biệt của sự học trong con mắt nhà Nho. Những đức nhân, nghĩa, dũng mà không có sự học hướng dẫn thì cũng vô dụng và tai hại.

2. Tổ chức học hiệu

Một điều làm vẻ vang dân tộc Trung Hoa là từ đời thượng cổ họ đã có một tổ chức giáo dục gần hoàn bị và bao trùm khắp nước. Thời vua Thuấn (thế kỷ 23 trước Tây lịch), đã có học hiệu; đến các đời sau là Hạ, Thương, Chu, họ phân biệt đại học và tiểu học. Kinh Lễ, thiên Học ký chép: “Giáo dục ngày xưa, ở nhà thì có “thục”, ở chỗ “đảng” thì có “tường”, ở chỗ “thuật” thì có “tự”, ở nước thì có “học” (i)[9] Trịnh Huyền giải nghĩa rằng năm trăm nhà là một “đảng”, mười hai ngàn rưởi nhà là một “thuật”.

Lâm Ngữ Đường chú thích khác: mỗi xóm hai mươi lăm nhà thì có một “thục”, năm trăm nhà có một “tường”, hai ngàn rưởi nhà thì có một “tự”, và tại kinh đô mỗi nước có một “học”. Ta không cần biết những con số của Trịnh hay của Lâm đúng, chỉ nên nhớ rằng hiện nay nhiều quốc gia cho có một tổ chức như vậy.

Về chương trình dạy học, Lâm Ngữ Đường nói:

“Mỗi năm người ta thu nhận học trò mới và cứ hai năm có một kỳ thi. Cuối năm thứ nhất, người ta xét cách chấm câu của học sinh và rán tìm thiên tư của chúng. Sau ba năm, người ta rán xét tạp quán chuyên cần và tinh thần đoàn thể của chúng. Sau năm năm người ta xét sức học của chúng và xem chúng có theo đúng lời thầy dạy không. Sau bảy năm, người ta xét sự tiến triển của tư tưởng cùng cách lựa bạn để giao du của chúng. Đó là cấp tiểu học.

“Sau chín năm, học sinh phải biết mọi đầu đề, có một sự hiểu biết tổng quát về đời sống và có một nhân cách xây dựng vững vàng trên những quy tắc mà chúng không thể rời được. Đó là cấp đại học”[10].

Vậy nền tiểu học là bảy năm, nền đại học là hai năm, vừa luyện đức vừa luyện trí. Ba, bốn ngàn năm trước mà giáo huấn ở Trung Hoa đã được như vậy, thực đáng cho ta khâm phục.

3. Khoa học, nghệ thuật đều có tính cách đạo đức

Tuy luyện trí, song mục đích cuối cùng của giáo dục vẫn là tạo nên con người đạo đức, đạo đức một cách sáng suốt.

Theo Lễ ký, trẻ em mười hai tuổi bắt đầu đi học, mười ba tuổi học nhạc, thư, bắn cung; sau dạy thêm lễ, đánh xe, toán pháp, cho đủ lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số). Nhưng những môn đó đều là phụ; điều quan trọng là “Người đi học, vào thì hiếu, ra thì đễ; cẩn mà tín, yêu mến mọi người mà thân cận với người nhân; làm được những điều ấy rồi, có thừa sức mới học văn” (j)[11] (Luận ngữ - Học nhi). Khổng Tử còn nói: “Để chí vào cái đạo, giữ lấy cái đức, tựa vào cái nhân, ưu du ở nghệ thuật” (k)[12] (Luận ngữ - Thuật nhi). Ông cho nghệ thuật ở sau đạo đức, cơ hồ bắt nghệ thuật, kỷ thuật phải có tính cách đạo đức nữa.

Như Thượng thư là một bộ sử, thuộc về loại khoa học mà cũng luận về nguyên lý trị nước, bình thiên hạ.

Kinh Thi là một tập sưu tầm ca dao và các bài hát ở triều đình mà Khổng Tử cũng dùng vào việc giáo hoá: “Ba trăm bài trong tập Thi, lấy một lời là trùm cả: là không nghĩ bậy” (l)[13] (Luận ngữ - Vi chính).

Lại nói: “Đọc tập Thi có thể cảm phát ý chí, có thể xem xét điều hay điều dở, có thể hoà hợp mà không lưu đãng, có thể bầy tỏ cái sầu oán mà không giận. Gần là ở trong nhà thì biết thờ cha, xa ra ngoài thì biết cách thờ vua” (Luận ngữ - Dương Hoá) (m)[14]

Kinh Dịch cũng chứa một triết lý về cách trị dân và xử thế. Khổng Tử nói: “Thánh nhân dùng đạo Dịch để thông cái chí của thiên hạ, định được công nghiệp của thiên hạ, đoán được cái ngờ của thiên hạ” (n)[15].

Kinh Xuân Thu về hình thức là một bộ sử biên niên mà về nội dung thì chứa ý bình luận thời sự, vạch đường ngay cho kẻ cầm quyền, cho nên Mạnh Tử nói: “Khổng Tử viết Xuân Thu mà loạn thần tặc tử sợ” (o)[16] (Đằng Văn Công, hạ).

Còn Kinh LễNhạc có tính cách giáo hoá ra sao, ở một chương trên tôi đã xét rồi, xin miễn nhắc lại.

Tóm lại, khoa học, nghệ thuật theo Nho giáo, không như khoa học và nghệ thuật phương Tây chỉ tìm cái Chân, cái Mỹ, vì cái Chân, cái Mỹ; mà có mục đích thực tiễn là trị thiên hạ, giữ trật tự trong xã hội, là hành đạo.

“Đọc ba trăm bài Thi, giao cho chính quyền mà không đạt được, sai đi ra ngoài bốn phương mà không biết đối phó thì học nhiều mà làm gì? (Luận ngữ - Tử Lộ).

4. Học là để hành

Vì vậy nhà Nho chân chính nào cũng cầu được làm quan, không phải để vinh thân phì da mà để giúp đời.

Chu Tiêu hỏi Mạnh Tử: “Người quân tử hồi xưa có làm quan không?” Mạnh Tử đáp: “Làm quan. Truyện chép rằng Khổng Tử ba tháng không làm quan thì ngong ngóng không yên. Người đời xưa ba tháng không làm quan thì bạn bè tới chia buồn - Ba tháng không làm quan mà chia buồn chẳng phải là gấp quá chăng? - Kẻ sĩ mất chức cũng như vua chư hầu mất quốc gia (...), như vậy chẳng đáng chia buồn sao?” Lại hỏi: “Kẻ sĩ ra khỏi cõi tất mang lễ vật là tại sao?” Đáp: “Kẻ sĩ làm quan cũng như nông phu cầy ruộng. Nông phu há vì lẽ ra khỏi cõi mà bỏ cầy bừa đi sao?”[17]

Sau Chu Tiêu có ý trách Mạnh Tử sao không yết kiến các vua chư hầu, ông đáp: “Người xưa ai cũng muốn làm quan, nhưng lại ghét sự làm quan không hợp đạo”, nghĩa là ghét sự cầu cạnh, luồn cúi để làm quan (p)[18] (Đằng Văn Công, hạ).

Tử Cống cũng có lần trách Khổng Tử như vậy: “Mình có ngọc quý nên giấu kín trong rương hay nên cầu giá cao mà bán? Ông đáp: “Bán chứ! Bán đi chứ! Ta đợi được giá đây” (q)[19] (Luận ngữ - Tử hãn). Lời tuy là lời nói đùa song cũng cho ta thấy rằng ông mong gặp ông vua nào biết thực hành đạo của ông. Cho nên ông bôn ba hàng chục năm để tìm minh quân, đến nỗi có kẻ chê ông là “biết không làm được mà cứ làm” (Luận ngữ - Hiến vấn), hoặc khuyên ông đừng lo cho đời nữa: “Ùa nà như nước chảy một chiều, thiên hạ đều thế cả, ai mà theo mình để sửa đổi việc loạn ra trị”, ông buồn rầu đáp: “Nếu thiên hạ có đạo thì Khâu nầy còn dự đến việc thay đổi làm gì?” (r)[20] (Luận ngữ - Vi tử).

Vậy, Nho giáo tuy không nói ra, song chủ trương rằng muốn hành thì phải tri (phải học) mà tri rồi thì phải hành. Vương Dương Minh sau này phát huy thuyết tri hành hợp nhất, gốc cũng ở những tư tưởng cùng quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử mà ra.

5. Hai hạng người

Khổng Tử và Mạnh Tử đều tin rằng loài người bẩm thụ tính thiện của Trời.

Khổng Tử nói: “Người ta sinh ra vốn ngay” (s)[21] (Luận ngữ - Ung dã); lại nói: “Tính người ta ai cũng gần như nhau, vì tập quán mà tính mỗi người mới hoá ra khác nhau”. (t)[22] (Luận ngữ - Dương Hoá)[23].

Còn Mạnh Tử thì nói: “Tính người ta làm lành như nước chảy xuống chỗ thấp. Người ta không ai không thiện, nước không lúc nào không chảy xuống chỗ thấp”. (Cáo tử, thượng) và: “Cứ theo cái bản năng của người ta, ai cũng có thể làm điều lành, cho nên mới nói là thiện”. Ông chứng minh: “Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng tu ố, ai cũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi. Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòng cung kính là lễ, lòng thị phi là trí. Nhân, lễ, nghĩa, trí, không phải ở ngoài mà đúc thành đâu, mà có sẵn trong lòng người ta đấy”. (Cáo tử, thượng) (u)[24]. Ông tin chắc rằng bất kỳ người nào hễ tu tâm dưỡng tánh thì cũng thành Nghiêu, Thuấn được.

Đó là về phương diện đạo đức, còn về trí dục thì Khổng Tử phân biệt hai hạng người tư chất cao thấp khác nhau: hạng từ bực trung trở lên và hạng từ bực trung trở xuống. Đối với hạng trên, có thể giảng những điều cao xa được, còn đối với hạng dưới, thì chỉ “có thể khiến họ theo lẽ phải mà không thể cho biết nguyên lý được” (Dân khả sử do chi. Bất khả sử tri chi - Luận ngữ - Thái bá) (v). Có lẽ ông cho rằng trong đám môn đệ giỏi của ông, cũng có những điều không thể đem giảng ra được. Luận ngữ chép ông rất ít nói đến mệnh Trời, đến điều quái lạ, đến thần thánh. (Luận ngữ - Tử hãn Thuật Nhi).

Mạnh Tử cũng theo quan niệm đó, cho nên nói: “Suốt đời theo đạo mà không biết đạo là dân chúng” (w) (Tận tâm, thượng). Tuy nhiên đó chỉ là xét chung, chứ ông cũng nhận rằng trong đám bình dân vẫn có những đại đức, đại trí; và hình như ông có cảm tình riêng với hạng người đó nữa. Ông bảo:

“Vua Thuấn ở trong đám dân cày xuất thân. Ông Phó Duyệt (thủ tướng cho vua Cao Tôn đời Thương) ở trong đám thợ nề xuất thân. Ông Dao Cách (một danh thần) ở trong phường mắm muối xuất thân. Ông Bách Lý Hề (cũng là một hiền thần) ở trong đám bán trâu xuất thân. Trời muốn giao trách nhiệm lớn cho ai thì trước hết bắt họ khổ tâm chí, mệt gân xương, đói khát đến xác thịt, nghèo thiếu đến thân thể, lúng túng trong hành động để họ phát động lòng tốt, đè nén tính xấu mà tăng ích tài năng lên”. (x).

6. Hai lối dạy

Do chủ trương trên mà phương pháp giáo hoá khác nhau tuỳ hạng người.

Đối với hạng trung nhân dĩ hạ, Nho giáo chỉ cốt gây cho họ có những hoàn cảnh tốt và tập quán tốt. Mạnh Tử có lẽ chịu ảnh hưởng của bà mẹ, (chắc độc giả nhớ chuyện Mạnh mẫu ba lần đổi chỗ ở để giáo hoá con) và nhớ kinh nghiệm ở bản thân mình, nên ông đặt biệt chú trọng đến hoàn cảnh. Ông nói: “Chỗ ở biến đổi tính khí, sự ăn uống biến đổi thân thể, chỗ ở thực là quan trọng”. (Tận tâm, thượng) (y). Ông nhận xét rất đúng: “Năm được mùa tử đệ nhiều người tử tế, năm mất mùa thì tử đệ nhiều kẻ hung bạo”. (Cáo tử, thượng) (z).

Tuân Tử cũng nói: “Cỏ bồng sinh ở đám gai, không chống đỡ mà ngay, cát trắng ở bùn thì hoá đen (...); cho nên quân tử ở tất chọn làng, chơi tất chọn kẻ sĩ, để đề phòng sự bậy bạ mà gần sự trung chánh” (Tuân Tử - Khuyến học).

Còn công dụng giáo hoá của tập quán đã được bầy rõ trong ba chữ “tập tương viễn” của Khổng Tử, bốn chữ “tập tục di chí”[25] của Tuân Tử và trong câu của Mạnh Tử ví nhân tâm với một lối đi ở giữa rừng núi, hễ dùng lâu thì thành đường mà bỏ lâu thì cỏ lấp (Mạnh Tử - Tận tâm, hạ) (z1).

Vậy nhiệm vụ của nhà cầm quyền là tạo những hoàn cảnh tốt, rồi tập cho dân có những đức tốt. Những đức nào đáng luyện trước hết? Theo sách Trung dung, Khổng Tử kể ra ba đức: Trí, nhân, dũng (Chương 20). Mạnh Tử lựa bốn đức: nhân, nghĩa, lễ, trí. (Mạnh Tử - Công Tôn Sửu, thượng).

Sau, Đổng Thư đời Hán thêm đức tín nữa, cộng là năm đức và gọi là ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Ta nhận thấy ba nhà đó đều kể hai đức nhân và trí. Đặng Thái Mai cho rằng đối với Khổng Tử, nhân gồm cả lễ và tín.

“Trong Luận ngữ, trả lời cho Phàn Trì, Khổng Tử nói: “Nhân là yêu người”, rồi nói thêm: “Cư xử phải kính, làm việc phải cẩn thận, đối đãi với người phải thật thà”.
Nói với Tư Mã Ngưu: “Người nhân nói ra câu nào phải chắc chắn”.
Với Trọng Cung: “Đi ra cửa kính cẩn như sắp tiếp một người khách quý, trị dân kính cẩn như là lo việc tế tự lớn. Việc gì mình không thích, đừng làm cho người khác phải chịu (...)”
Trả lời cho Nhan Uyên, người học trò giỏi nhất của Khổng, Phu tử nói: “Đè nén mình theo lễ là nhân”.[26]

Nếu ta lại nhớ câu của Khổng Tử đáp Tử Lộ rằng: “Khoan nhu mà dạy người, ngay thẳng với kẻ vô đạo, là cái cường của người phương Nam” (z2) thì ta thấy nhân là cường, là dũng nữa (Trung dung, chương 10).

Vậy nhân là một thái độ đối với mình thì đè nén lòng dục để theo lẽ phải, quốc hữu đạo hay vô đạo cũng không thay đổi chí mình; đối với người thì lễ mạo, thành thực, khoan hoà, bác ái. Song quan niệm bác ái của đạo Nho khác đạo Da Tô hay đạo Phật, không phải là một lòng hy sinh hoàn toàn cho người, mà là một lòng yêu người có tính cách hợp lý, mặc dầu nếu cần, người quân tử có thể “sát thân dĩ thành nhân”[27], cho nên có người hỏi nên lấy đức báo oán không, Khổng Tử hỏi lại: “Thế thì lấy gì báo đức?”, rồi khuyên: “lấy đức báo đức, lấy sự công bằng, ngay thẳng để báo oán” (z3) (Luận ngữ - Hiến vấn).

Muốn cho nhân có tính cách hợp lý thì nhân phải đi với trí, đức quan trọng thứ nhì của Nho giáo. Nhưng sự mở mang lý trí tới một mực cao xa thì chỉ có thể thực hành với hạng trung nhân dĩ thượng.

Về phương pháp, Nho giáo dùng cả phép trực giác và phép suy luận.

Khi Khổng Tử bảo Tăng Sâm: “Đạo ta chỉ có một mối mà thông suốt hết” (z4), Tăng Sâm hiểu mối đó là trung thứ, tức là Khổng Tử đã dùng trực giác để dạy Tăng Sâm và Tăng Sâm hiểu bằng trực giác.

Nhưng khi ông bảo: “Giảng cho một góc rồi mà không suy ra được ba góc kia thì không giảng cho nữa” (z5) (Luận ngữ - Thuật nhi) và: “Học rộng mà phân giải cho rõ ràng rồi nói lại mà tóm tắt hết đại yếu” là ông muốn đệ tử phải biết suy luận. Cho nên Nhan Hồi nói: “Phu tử cứ tuần tự dạy dỗ người, lấy văn học mà làm rộng kiến thức của ta” (z5) (Luận ngữ - Tử hãn)

Theo Lâm Ngữ Đường, Khổng Tử còn nói một câu có thể ghi lên trang đầu những sách sư phạm ngày nay: “Một ông thầy khéo hỏi học trò thì theo cách của người bửa củi: bắt đầu từ những cạnh nhẵn của khúc củi và dành những mấu lại cho lúc cuối cùng. Theo cách đó, thầy và trò đều giải được điều khó mà thấy vui thích. Ông thầy vụng hỏi thì ngược lại”[28]

Chứng cứ minh bạch nhất là cuốn Đại học mở đầu bằng một trang trong đó phép suy luận cực kỳ khúc chiết:

“Cái đạo của bậc đại học là sự làm sáng cái đức sáng, ở sự thân yêu người, ở sự đến chỗ chí thiện mới thôi. Có biết đến cùng rồi sau mới có định, định rồi sau mới có thể tĩnh, tĩnh rồi sau mới có thể yên, yên rồi sau mới có thể tư lự tinh tường, tư lự tinh tường rồi sau mới biết được cái hay, cái phải. Vật có gốc có ngọn, sự có cuối có đầu, biết rõ trước sau tức thị là gần đạo.

“Đời xưa, muốn làm sáng đức trong thiên hạ thì trước hết phải trị nước mình; muốn trị nước mình thì trước hết phải tề nhà mình, muốn tề nhà mình thì trước hết phải sửa thân mình; muốn sửa thân mình thì trước hết phải chính cái tâm của mình; muốn chính cái tâm của mình thì trước hết phải làm cho tinh thành cái ý của mình, muốn làm tinh thành cái ý của mình thì trước hết phải có trí thức xác đáng. Trí thức xác đáng ở chỗ xét kỹ mọi vật.

Mọi vật đã xét kỹ thì sau trí thức mới xác đáng; trí thức đã xác đáng thì sau cái ý mới tinh thành; cái ý đã tinh thành thì sau cái tâm mới chính; cái tâm đã chính thì sau cái thân mới được sửa; cái thân đã sửa thì sau nhà mới tề; nhà đã tề thì sau nước mới trị; nước đã trị thì sau thiên hạ mới bình. (z7)

Tôi tưởng ngay trong sách triết học của Âu, Mỹ cũng khó kiếm được một đoạn mà phép suy luận có tính cách toán học tới như vậy. Và nếu độc giả cần thêm chứng cứ nữa, thì xin mở bộ Mạnh Tử, sẽ thấy chương nào họ Mạnh cũng dùng phương pháp đó để dẫn dụ người khác theo đạo nhân nghĩa.

Chẳng qua bàn về đạo đức thì có lúc phải dùng đến trực giác, mà Khổng Tử vốn là người ôn hoà, kính cẩn, ít giảng giải dài dòng cho nên lời của ông hàm súc, sâu sắc, làm cho ta tưởng lầm ông chủ trương dùng trực giác để dạy. Và như tôi đã nói ở đầu cuốn này, danh của ông lớn quá, người ta cho khổng học là toàn thể Nho học, rồi kết luận rằng Nho giáo chủ trương dùng trực giác. Sự thực chưa hề có môn học nào mà không vừa dùng trực giác vừa dùng suy luận để dạy; và Nho giáo có lẽ là một triết học trọng suy luận nhất. Trần Trọng Kim viết: “lối học của người Tàu, chủ ở sự phải suy nghĩ ra mà hiểu, phải lấy ý mà hội, chứ không phải ở sự theo lý trí mà suy luận và phu diễn hết cả ra văn từ” (Nho giáo - Lời phát đoan, sách đã dẫn). Lối học chỉ trong câu đó, chắc chắn không phải là luôn luôn lối học của Nho giáo[29].

Chú thích

  1. 善政不善教之得民也;善政民畏之,善教民愛之; 善政得民財,善教得民心
    Thiện chính bất như thiện giáo chi đắc dân dã; thiện chính dân uý chi, thiện giáo dân ái chi; thiện chính đắc dân tài, thiện giáo đắc nhân tâm.
  2. 默而識之,學而不厭,誨人不倦,何有於我哉?
    Mặc nhi thức chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện, hà hữu ư ngã tai?
  3. 我非生而知之者,好古, 敏以求之者也
    Ngã phi sinh nhi tri chi giả, hiếu cổ, mẫn dĩ cầu chi giả dã.
  4. 十室之邑,必有忠信如丘者焉,不如丘之好學也
    Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín như Khâu giả yên, bất như Khâu chi hiếu học dã.
  5. 吾嘗終日不食,終夜不寢,以思無益,不如學也
    Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư vô ích, bất như học dã.
  6. 加我數年,卒以學易,可以無大過矣
    Gia ngã sổ niên, tốt dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỹ.
    [Tốt: 卒, trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê chép là ngũ thập 五十; và cụ dịch cả câu như sau: “Cho ta sống thêm ít năm nữa, tới năm chục tuổi nghiên cứu Dịch (để biết lẽ tiến thoái) thì có thể không lầm lỗi lớn”. (Goldfish)].
  7. 喜怒哀樂之未發謂之中, 發而皆中節, 謂之和, 致中和。中者也, 天下之大本也; 和也者, 天下之達道也
    Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát, vị chi trung; phát nhi giai trúng tiết, vị chi hoà. Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã, hoà dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã.
  8. 好仁不好學, 其蔽也愚; 好知不好學, 其蔽也蕩; 好信不好學, 其蔽也賊; 好直不好學, 其蔽也絞; 好勇不好學, 其蔽也亂; 好剛不好學, 其蔽也狂
    Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giả ngu; hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế giả đãng; hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dã tặc; hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dã giảo; hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế dã loạn; hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng.
  9. 古之教者, 家有塾, 黨有庠,術有序,國有學
    Cổ chi giáo giả, gia hữu thục, đảng hữu tường, thuật hữu tự, quốc hữu học.
  10. La Sagesse de Confucius. Nhà Victor Attinger 1949.
  11. 弟子入則孝, 出則弟, 謹而信, 汎愛眾, 而親仁, 行有餘力, 則以學文
    Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc để, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn. [Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo học văn “tức là học Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch...”. (Goldfish)].
  12. 志於道, 據於德, 依於仁, 游於藝
    Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ. [Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch du ư nghệ là: “vui vẻ lục nghệ (tức lễ, nhạc, xạ, ngự, thư - viết chữ, số - toán pháp)”. (Goldfish)].
  13. 詩三百, 一言以蔽之,曰:思無邪
    Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà.
  14. 詩可以興, 可以觀, 可以群,可以怨,邇之事父,遠之事君
    Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân.
  15. 夫易開物, 成務, 冒天下之道, 如斯而已, 是故聖人以通天下之志, 以定天下之業, 以斷天下之疑
    Phù dịch khai vật, thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ, thị cố thánh nhân dĩ thông thiên hạ chi chí, dĩ định thiên hạ chi nghiệp, dĩ đoán thiên hạ chi nghi. [Câu này trích trong Hệ từ thượng truyện, đầu câu còn có 2 chữ: Tử viết 子曰. Vì trong Hệ từ truyện có nhiều câu bắt đầu bằng 2 chữ “Tử viết”, cho nên trong Kinh Dịch - Đạo của người quân tử, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo đó là một trong những lý do để tin rằng Hệ từ truyện không phải do Khổng Tử trứ tác. (Goldfish)].
  16. 孔子成春秋, 而亂臣賊子懼
    Khổng Tử thành Xuân Thu, nhi loạn thần tặc tử cụ.
  17. Thời đó có tục kẻ sĩ chưa làm quan thì đi đâu cũng mang theo lễ vật để yết kiến các nhà cầm quyền.
  18. 古之人未嘗不欲仕也, 又惡不由其道
    Cổ chi nhân vị thường bất dục sĩ dã, hựu ố bất do kỳ đạo dã.
  19. 子貢曰:有美玉於斯, 韞匵而藏諸? 求善賈而沽諸? 子曰:沽之哉! 沽之哉! 我待賈者也
    Tử Cống viết: “Hữu mỹ ngọc ư tư, uẩn độc nhi tàng chư? Cầu thiện giá nhi cô chư?” Tử viết: “Cô chi tai! Cô chi tai! Ngã đãi giá giả dã”.
  20. 天下有道, 丘不與易也
    Thiên hạ hữu đạo, Khâu bất dữ dịch dã.
  21. 人之生也直
    Nhân chi sinh dã trực.
  22. 性相近也, 習相遠也
    Tính tương cận dã, tập tương viễn dã.
  23. Về nguyên tắc thì vậy, nhưng trong thực tế thì ông nhận rằng có hai hạng người thượng trí và hạ ngu là tính không thay đổi, hạng trên vì sáng suốt, không bị mê hoặc, hạng dưới vì mê muội, không thấy điều phải, hoặc thấy mà không làm. Về điểm đó, Mạnh Tử lạc quan hơn.
  24. 人性之善也, 猶水之就下也; 人無有不善, 水無有不下. 乃若其情則可以爲善矣,乃所謂善也.
    惻隱之心人皆有 [sách mất trang 130 (Goldfish)].
    Nhân tính chi thiện dã, do thuỷ chi tựu hạ dã, nhân vô hữu bất thiện, thuỷ vô hữu bất hạ. Nãi nhược kỳ tính tắc khả dĩ vi thiện hỹ, nãi sở dĩ thiện dã.
    Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ố chi tâm nhân giai hữu chi; chung kính chi tâm [trang 131 bị mất (Goldfish)].
  25. Nguyên văn: 習俗移志. Trong cuốn Tuân Tử, 2 cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch là: “Sự tập nhiễm làm thay đổi cái chí”. (Goldfish).
  26. Địa vị của Khổng Tử trong Nho giáo - Thanh Nghị số 16.
  27. Theo tôi, 5 chữ đó đủ cho đạo Khổng về phương diện bác ái ngang hàng với đạo Da Tô và đạo Phật rồi.
  28. La sagesse de Confucius - Nhà xuất bản Victor Attinger.
  29. Câu này chắc bị sai. Xin tạm sửa lại như sau: Lối học chỉ trong cuối câu đó, chắc chắn không phải luôn luôn là lối học của Nho giáo. (Goldfish).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Nho giáo - Một triết lý chính trị
  • Tác giả: Nguyễn Hiến-Lê
  • Nhà xuất bản: Nguyễn Hiến-Lê
  • Năm xuất bản: 1958
  • Cung cấp bản scan: Sadec1
  • Tạo eBook: Goldfish
  • TVE-4U

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!