Chính nghĩa thắng phi nghĩa, Võ Vương diệt Trụ Vương

Chính nghĩa thắng phi nghĩa, Võ Vương diệt Trụ Vương

Cuối đời Ân Thương (thủy tổ nhà Thương đóng đô ở đất Bạc, đất này có biệt danh là Ân, nên có lúc đời hiệu là Ân, nên cũng gọi là Ân Thương - ND), thế nước mỗi ngày một suy yếu. Khoảng năm 1099 trước Công Nguyên, Đế Tân (Trụ vương) nối ngôi.

Chiến tranh liên miên đã khiến dân chúng thêm lầm than, nhưng Trụ vương còn tăng thêm phu phen lao dịch để xây cất cung điện, mở rộng kinh đô đến tận Triều Ca (huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam).

Để thoả mãn cuộc sống hoang dâm xa xỉ cực độ của mình, Trụ vương ra sức vơ vét của cải của dân chúng và của các nước chư hầu khiến cho những người nô lệ bị áp bức ngày một căm phẫn, liên tiếp nổi lên phản kháng nhưng đều bị Trụ vương đàn áp tàn khốc.

Chế độ tàn bạo và hủ bại của Trụ vương làm cho cả xã hội lung lay. Lúc đó, có một bộ lạc cổ xưa họ Cơ, là tộc Chu, lặng lẽ nổi dậy ở Kỳ Sơn (tỉnh Thiểm Tây).

Cơ Xương (tức Chu Văn vương sau này) giữ chức Tây bá (cai quản các nước chư hầu phía tây) của nhà Thương, ra sức phát triển sản xuất nông nghiệp, tích luỹ lực lượng ở Chu Nguyên, chờ cơ hội diệt Thương. Trụ vương lo sợ, bắt Cơ Xương giam cầm tại Dũ Lý (bắc huyện Thang Dương, tỉnh Hà Nam).

Con trai của Cơ Xương là Cơ Phát (tức Chu Võ vương sau này) thương nghị với đại thần Hoằng Yêu, lợi dụng sự hiếu sắc tham tài của Trụ vương, cứu Cơ Xương thoát cảnh giam cầm.

Cơ Xương trở về, chọn Lã Thượng (hay Lã Vọng, tức Khương Thượng Tử Nha), 1 hiền sĩ văn võ kiêm toàn, lại am hiểu nội bộ nhà Thương, làm phò tá, tích cực chuẩn bị lật đổ nhà Thương.

Cơ Xương tiếp tục phát triển sản xuất, làm dân đủ no, nước mạnh thêm, tu đức hành thiện, thu phục nhân tâm. Bữa nọ, khi người ta đào mương thấy một bộ xương bị coi là vô chủ, Cơ Xương nói: “Ta làm chủ một nước, người chết kia là dân trong nước, sao lại bảo là bộ xương vô chủ?”. Cơ Xương cho mai táng bộ xương chu đáo. Tiếng lành đồn xa, dân chúng đều nói: “Đến một nắm xương còn được Tây bá ban ơn, huống hồ đối với người sống”. Từ đó nhiều nhân tài lũ lượt bỏ nhà Thương, đi theo Cơ Xương.

Khoảng năm 1070 trước Công Nguyên, Chu Văn vương qua đời, Cơ Phát nối ngôi cha, hiệu là Võ vương. Năm thứ hai sau khi lên ngôi, Chu Võ vương rước linh vị Văn vương tiến quân về phía đông, triệu các chư hầu thiên hạ tới hội minh. Quân đến Mạnh Tân (tỉnh Hà Nam), thì có 800 chư hầu đến hội minh, Võ vương chỉ huy binh mã chư hầu tiến hành diễn tập vượt sông, chuẩn bị diệt Trụ.

Tháng giêng năm 1066 trước Công Nguyên, Chu Võ vương triệu tập chư hâu, thống lĩnh hơn 300 binh xa, 3000 dũng sĩ, bốn vạn năm ngàn giáp sĩ, liên hợp các bộ lạc, tổng cộng trên 6 vạn người, vượt sông Diễn Hà, tiến về Triều Ca. Trụ vương hoảng hốt tìm cách đôi phó. Nhưng quân chủ lực đang ở chiến trường đông nam xa xôi, Trụ vương miễn cưỡng tập hợp 17 vạn nô lệ và tù binh để ứng chiến.

Quân của Trụ vương tuy đông gấp mấy lần quân Chu, nhưng nô lệ và tù binh vốn căm hờn Trụ vương, vừa thấy quân Chu xông tới, liền bỏ chạy, nhiều người còn quay giáo đánh lại chủ nô. Trụ vương thấy tình thế đại bại, vội chạy về Triều Ca vận bộ long bào và bước lên giàn lửa tự thiêu.

“Pháp già, khúc chế, quan đạo, chủ dụng dã”

Pháp chế là chỉ cách tổ chức biên chế quân đội, quản lý tướng sĩ, quân nhu.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Binh pháp Tôn Tử và hơn 200 trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc
  • Tác giả: Hoàng Phác Dân, Ngô Như Tung
  • Dịch giả: Lê Khánh Trường
  • Nhà xuất bản Mũi Cà Mau
  • Nguồn: tusachcuaban