Công tác nghiên cứu mía từ sau 1975 tới nay

2.2.2 Công tác nghiên cứu mía từ sau 1975 tới nay

Sau ngày miền Nam dược hoàn toàn giải phóng (1975), tháng 8 năm 1977, Trạm Nghiên cứu mía Bến Cát được thành lập tại xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương) và năm 1982 được chuyển thành Viện Nghiên cứu Mía đường. Các trại và trung tâm giống cũ ở miền Nam không còn nữa. Viện Nghiên cứu Mía đường được giao nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ sản xuất của ngành mía đường cả nước.

Giai đoạn từ 1977-1985, cùng với công tác xây dựng cơ bản, đào tạo đội ngũ cán bộ..., công tác nghiên cún cây mía cũng đã được đẩy mạnh nhằm đáp ứng những yêu cầu trước mắt và lâu dài sau này của sản xuất. Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật,... đề tài giống mía được xem là đề tài trung tâm, gồm các nội dung:

- Sưu tập, nhập nội giống mới, xây dựng tập đoàn mía tư liệu.

- Nghiên cứu tuyển chọn giống mía sản xuất từ nguồn hiện có (giống trong nước và nhập nội).

- Ứng dụng lai tạo giống mía mới bằng phương pháp lai hữu tính nhằm tìm giống mía tốt cho sản xuất và tạo vật liệu mới bổ sung cho tập đoàn giống mía.

Giai đoạn từ năm 1985-1995 có 2 đề tài nghiên cứu về mía thuộc Chương trình cấp Nhà nước 18B đã được triển khai thực hiện tại Liên Hiệp Mía Đường II (nay là Tổng Công ty Mía đường II) và thu được một số kết quả nghiên cứu.

- Đề tài 18B.01-01 về giống mía (chủ nhiệm Nguyễn Huy Ước) đã kết luận được 5 giống mía mới bổ sung vào sản xuất là: F156, My5514, F154, Ja60-5 và C819-67; lai tạo và tuyển chọn được trên 25 dòng lai mới tốt, trong đó có các dòng lai ưu tú sau này được công nhận giống như VN84-4137, VN84-422, VN85-1427,...; xây dựng được một tập đoàn tư liệu với trên 400 mẫu giống, trong đó có nhiều mẫu giống quí hiếm.

- Đề tài 18B.01-03 về kỹ thuật thâm canh mía (chủ nhiệm Thái Nghĩa) đã nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cho quy trình trồng mía của Bộ Nông nghiệp ban hành năm 1984; kết luận được một số tiến bộ kỹ thuật về bón bùn lọc cho mía, tủ rác lá mía để giữ ẩm, diệt cỏ, tăng chất hữu cơ và hoạt động vi sinh vật đất, tăng được năng suất mía và xác định được tuần tự thu hoạch mía.

Ngoài ra, một số nội dung khác cũng đã được nghiên cứu như:

- Nghiên cứu giống mía cho vùng đất thấp (đất phèn)

- Nghiên cứu tạo và nhân giông bằng phương pháp cấy mô đơn bội.

Giai đoạn từ 1995 đến nay được đánh dấu mở đầu bằng việc Chính phủ thông qua việc thực hiện Chương trình 1 triệu tấn đường năm 1995, nhằm thúc đẩy ngành mía đường Việt Nam phát triển để có thể sản xuất đủ đường cho nhu cầu tiêu dùng ngàng càng tăng cao ở trong nước và tiến tới xuất khẩu. Sau khi có Chương trình 1 triệu tấn đường ra đời, sản xuất mía đường Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả về diện tích trồng mía, số lượng nhà máy đường và công suất chế biến. Diện tích trồng mía trên toàn quốc đã được mở rộng từ 150.000 ha vào năm 1994 lên 305.800 ha vào năm 1999, số lượng nhà máy đường mía đã tăng từ 12 nhà máy vào năm 1994 lên 44 nhà máy vào năm 1999, còn tổng công suất chế biến mía theo thiết kế đã tăng từ 12.200 tấn mía/ngày năm 1994 lên đạt 78.200 tấn mía/ngày vào năm 1999. Có thể nói trong 5 năm đầu sau khi có Chương trình 1 triệu tấn đường ra đời, ngành mía đường là một trong những ngành có tốc độ phát triển nóng nhất, điều đó một mặt đã đem lại một số kết quả tốt đẹp hơn cho ngành mía đường, nhưng đồng thời cũng đã kéo theo rất nhiều hệ lụy xấu còn ảnh hưởng cho đến tận hôm nay, đặc biệt là về công tác nghiên cứu mía. Sau khi có Chương trình 1 triệu tấn đường ra đời, do yêu cầu cấp bách của sản xuất, hàng loạt giống mía đã được nhập nội ồ ạt với khối lượng lớn từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan,... bằng mọi con đường, cả chính thức và không chính thức, sau đó được nhân nhanh, đưa trực tiếp vào sản xuất. Lúc này công tác nghiên cứu mía trong nước gần như bị lãng quên, một số kết quả nghiên cứu về giống và tiến bộ kỹ thuật thu được ở giai đoạn 1985-1995 trước đó chuẩn bị được khu vực hóa, kết luận và công nhận chính thức để đưa vào sản xuất đại trà, nhất là các dòng mía lai VN đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi xu hướng "sùng ngoại" đang rất phổ biến vào thời điểm đó. Các nghiên cứu chính về mía trong giai đoạn đầu này chủ yếu tập trung vào việc khảo nghiệm và nhân nhanh các giống mía nhập nội, chủ yếu là từ Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan. Những nghiên cứu khác về kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật ít được quan tâm thực hiện và nếu có chỉ được thực hiện trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thường xuyên, đề tài cấp cơ sở của Viện Nghiên cứu Mía đường. Tình trạng này kéo dài cho đến tận thời gian gần đây, khi tất cả 4 nhà gồm: nhà nông - nhà nước - nhà khoa học và nhà doanh nghiệp đều cùng nhận thức được rằng chỉ khi nào chúng ta có bộ giống mía riêng của Việt Nam, do Việt Nam lai tạo, phù hợp với từng vùng đất thì ngành sản xuất mía đường mới hội đủ điều kiện đi vào thế phát triển ổn định. Nhờ đó, công tác lai tạo và phát triển các dòng, giống mía lai Việt Nam gần đây mới thực sự được quan tâm và thúc đẩy phát triển mạnh.

Kết quả của các đề tài, dự án nghiên cứu về mía trong giai đoạn từ 1986-2012 đã kết luận và công nhận sản xuất thử được 48 giống mía mới, chiếm 96% số giống mía mới được công nhận kể từ sau 1975. Đặc biệt trong đó có 10 giống (chiếm 20%) sau đó được công nhận chính thức và cho phép phổ biến rộng rãi vào sản xuất (Bảng 12). Trong số 48 giống mía mới được công nhận trong giai đoạn này, có tới 41 giống nhập nội, chỉ có 7 giống VN (chiếm 14,5% số giống) là do Việt Nam tự lai tạo. Như vậy, theo quy luật phát triển chung về giống mía ở một quốc gia là từ chỗ ban đầu sử dụng chủ yếu các giống mía dại và giống mía địa phương, chuyển dần sang sử dụng chủ yếu các giống mía nhập nội, rồi sử dụng hỗn hợp cả giống nhập nội và giống lai tạo trong nước và cuối cùng là hoàn toàn sử dụng các giống mía lai tạo trong nước, thì ngành mía đường Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn giữa của quá trình và trình độ phát triển.

Bảng 12. Danh sách giống mía được công nhận sản xuất thử và chính thức ở Việt Nam từ năm 1986 - 2012

STT Tên giống Năm công nhận SX thử Năm công nhận giống Ghi chú
1 C111-79 2006 Tây Nguyên
2 C1324-74 2006 Tây Nguyên
3 C85-212 2006 Nam Trung Bộ, Đông Nam bộ và Tây Nguyên
4 C85-284 2006 Tây Nguyên
5 C85-391 2006 Tây Nguyên
6 C86-456 2006 Tây Nam bộ
7 Co6806 1994 Đông Nam Bộ
8 CP34-79 1995 Miền Bắc
9 CR74-250 2006 Đông Nam bộ
10 DLM24 2002 MiềnNam
11 F154 1989 Đông Nam Bộ
12 F156 1991 Đông Nam Bộ
13 K84-200 1998 Tây Nam bộ và Đông Nam bộ
14 K88-200 2011, 2012 Đông Nam bộ và Nam Trung bộ
15 K88-92 2011, 2012 Nam Trung bộ và Tây Nguyên
16 K93-219 2011 Đông Nam bộ
17 K95-156 2011 Tây Nam bộ, Đông Nam bộ,
18 K95-84 2011 Đông Nam bộ và Nam Trung bộ
19 KK2 2011 Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ
20 KU00-1-61 2011 Tây Nam bộ
21 KU60-1 2011 Tây Nam bộ
22 LK92-11 2011 Đông Nam bộ và Tây Nguyên
23 My55-14 1990 1992 Đông Nam Bộ
24 QĐ11 1998 Trung Trung Bộ
25 QĐ15 2004 Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ
26 R570 1998 Đông Nam bộ
27 R579 1998 Đông Nam bộ
28 ROC1 1995 1998 Miền Bắc và Đông Nam bộ
29 ROC9 2002 MiềnNam
30 ROC10 1995 1998 Miền Bắc và Đông Nam bộ
31 ROC15 2006 Miền núi và Trung du Bắc bộ
32 ROC16 1997 1998 Miền Bắc, miền Trung và Đông Nam bộ
33 ROC22 2006 Trung Trung bộ
34 ROC23 2006 Bắc Trung bộ
35 Suphanburi 7 (K94-2-483) 2011 Tây Nguyên, Tây Nam bộ và Nam Trung bộ
36 VĐ63-237 1995 1998 Miền Bắc và Đông Nam bộ
37 VĐ79-177 1998 MiềnNam
38 VĐ81-3254 1995 Miền Bắc
39 VĐ85-192 2006 Bắc Trung bộ
40 VĐ86-368 2004 Tây Nam bộ
41 VĐ93-159 Miền núi và Trung du Bắc bộ
42 VN72-77 1995 Đông Nam Bộ
43 VN84-196 1995 Đông Nam Bộ
44 VN84-2611 1995 Đông Nam Bộ
45 VN84-4137 1994 1998 Miền Nam
46 VN84-422 2000 2006 Trung Trung bộ và Nam Trung bộ
47 VN85-1427 2000 2006 Trung Trung bộ và Nam Trung bộ
48 VN85-1859 2000 MiềnNam

Ngoài giống mía, trong thời gian gần đây, một số tiến bộ kỹ thuật cũng đã được công nhận và phổ biến vào sản xuất (Bảng 13), góp phần đưa năng suất mía ở Việt Nam tăng từ mức 45 tấn/ha vào năm 1994 lên đạt gần 65 tấn/ha vào năm 2013.

Bảng 13. Các tiến bộ kỹ thuật được công nhận năm 2010-2011

TT Tên tiến bộ kỹ thuật Năm công Vùng áp dụng
nhận
1 Quy trình sản xuất giống mía tại vùng Tây Nguyên 2010 Tây Nguyên
2 Quy trình sản xuất giống mía tại vùng Nam Trung bộ 2010 Nam Trung bộ
3 Quy trình sản xuất giống mía tại vùng Đông Nam bộ 2010 Đông Nam bộ
4 Quy trình sản xuất giống mía tại vùng Tây Nam bộ 2010 Tây Nam bộ
5 Biện pháp sử dụng thuốc trừ cỏ và phòng trừ sâu hại cho cây mía ở các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam bộ 2011 Đông Nam bộ
6 Biện pháp bón phân bã bùn dạng hoai mục và phun chế phẩm phân bón lá K-Humate cho cây mía tại miền Trung 2011 Nam Trung bộ
7 Sử dụng thuốc trừ cỏ và phun phân qua lá cho cây mía ở Tây Nguyên 2011 Tây Nguyên

Tập đoàn quỹ gen giống cây trồng nói chung, giống mía nói riêng là nguồn vật liệu khởi đầu rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống mía cho sản xuất. Đối với các nước trồng mía trên thế giới, việc xây dựng tập đoàn quỹ gen giống mía rất được quan tâm vì đó là nguồn vật liệu khởi đầu quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu, chọn tạo giống mía mới ở mỗi nước. So với các nước khác, tập đoàn quỹ gen giống mía của ta số lượng chưa nhiều. Tính đến năm 2011, sau gần 40 năm sưu tập chúng ta mới có 917 mẫu giống mía (Bảng 14). Tuy nhiên các mẫu giống mía ở nước ta lại tương đối đa dạng, có nguồn gốc từ nhiều nước khác nhau trên thế giới, trong đó có một số dòng thương phẩm tốt của các nước như Cuba, Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Úc,... Đặc biệt là trong tập đoàn quỹ gen giống mía của ta có rất nhiều mẫu gen của các loài mía hoang dại được thu thập từ nhiều vùng núi, rừng, vùng nguyên sản khắp nơi trên cả nước trong 5 năm gân đây. Đây là các mẫu gen quý hiếm và rất cần thiết cho công tác tạo giống mía mới có ưu thế lai cao như các loài Saccharum officinarum, Saccharum spontaneum, Saccharum sinense, Erianthus arundinaceus,... Hiện nay, vườn tập đoàn quỹ gen giống mía Quốc gia này đang được bảo tồn, lưu giữ duy nhất tại Viện Nghiên cứu Mía đường. Trong thời gian tới, với nhu cầu của sản xuất về giống mía mới không ngừng tăng cao, sự quan tâm, đầu tư cho công tác nghiên cứu, lai tạo và phát triển giống mía nội ngày càng lớn thì vai trò của tập đoàn quỹ gen giống mía sẽ ngày càng được coi trọng. Do đó chắc chắn nó sẽ tiếp tục được bổ sung, đánh giá, khai thác và phát huy hiệu quả hơn.

Bảng 14. Diễn biến số lượng mẫu giống mía được sưu tập và bảo tồn tại Viện Nghiên cứu Mía đường từ 2006-2011

TT Loài lưu giữ Đơn vị Số lượng lưu giữ
2006 2008 2010 2011
1 Mía quý (Saccharum officinarum) Mẫu 10 10 24 24
2 Mía hoang dại (Saccharum spontaneum) " 2 2 12 12
3 Mía gie (Saccharum sinense) " 3 3 3 3
4 Erianthus arundinaceus " 0 0 34 34
5 Miscanthus sp " 0 0 15 15
6 Saccharum Robustum " 0 0 2 2
7 Sclerostachya " 0 0 1 1
8 Balida " 0 0 3 3
9 Dòng giống lai tạo trong nước " 185 185 185 185
10 Dòng giống nhập nội " 470 548 587 587
11 Thu thập không rõ nguồn gốc " 80 63 51 71
Tổng số 750 821 917 917

Công tác lai tạo giống mía mới ở Việt Nam từ sau 1975 tới nay chủ yếu được giao cho Viện Nghiên cứu Mía đường thực hiện. Trước 2007 Viện chỉ thực hiện việc lai tạo mía duy nhất tại trụ sở Viện ở xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ cuối năm 2007 đến nay, ngoài địa điểm trên, Viện còn tiến hành lai tạo tại xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Trong tương lai, nơi đây sẽ trở thành địa điểm lai tạo giống mía chính của Viện nói riêng, của Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 1988 đến 2007, bình quân hàng năm Viện chỉ thực hiện được 12 tổ hợp lai và thu được khoảng 500 cây con lai. Nhận thức được sự yếu kém và tụt hậu khá xa của mình trong công tác lai tạo giống mía so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về yêu cầu vĩ độ và cao độ nơi thực hiện các tổ hợp lai, kết hợp với việc tư vấn, tham khảo kinh nghiệm và kết quả lai tạo giống mía mới của các nước sản xuất mía đường hàng đầu trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Cuba, Úc,... kể từ cuối năm 2007 Viện đã có một quyết định đột phá là chuyển tập đoàn giống bố mẹ lên trồng ở xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, nơi có cao độ > 800 m so với mực nước biển, song song với việc tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống nhà xử lý ra hoa nhân tạo - lai tạo - dưỡng cờ thu hạt tại huyện Bến Cát. Đến năm 2012, sau 5 vụ lai tạo (2008 - 2012), có thể khẳng định được rằng đó là một quyết định hết sức đúng đắn, bởi số lượng tổ hợp lai thực hiện được hàng năm của Viện đã tăng lên nhiều lần so với bình quân 20 năm trước đó khi còn lai tạo duy nhất tại Bến Cát. Tỷ lệ giống bố mẹ trổ cờ hàng năm đều đạt trên 80% (so với điểm Bến Cát có nhiều năm tỷ lệ này không đáng kể). Tỷ lệ tổ hợp lai thành công cao, đạt từ 81,82 - 96,91% so với bình quân 41,67% của 20 năm trước, dẫn tới số lượng cây con lai (hay dòng lai mới) thu được hàng năm đã tăng lên hàng chục lần. Đặc biệt, trong điều kiện tự nhiên ở vùng Đơn Dương, Viện đã thực hiện được các tổ hợp lai xa giữa các giống mía thương phẩm với các loài mía hoang dại ErianthusMiscanthus để tạo các giống mía có ưu thế lai cao. Đây là một xu hướng lai tạo mới của thế giới đang được nhiều nước triển khai thực hiện và bước đầu đã thu được một số kết quả rất khả quan.

Bảng 15. So sánh kết quả lai tạo và chọn dòng mía lai Việt Nam 5 năm gần đây

và bình quân 20 năm trước (1988-2007)

TT Nội dung Đơn vị tính BQ 20 năm trước Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1 Tỷ lệ giống bố mẹ trổ cờ % 15,3 93,7 81,2 87,5 78,54 80,30
2 Số tổ hợp lai thực hiện hàng năm cặp 12 22 33 43 101 97
3 Tỷ lệ tổ hợp lai thành công  % 41,67 81,82 84,85 88,37 86,14 96,91
4 Số cây con lai (dòng lai) hàng năm đưa vào sơ tuyển cây 500 16.000 8.000 14.000 43.000 80.000

Hiện nay Viện Nghiên cứu Mía đường đang thực hiện chương trình lai tạo giống mía mới chủ yếu vẫn bằng phương pháp lai hữu tính và qua 2 bước chọn dòng (trước đây là 4 bước chọn dòng), với tổng thời gian từ 7-8 năm tính từ khi thu hoạch hạt lai đến khi giống hoàn thành khảo nghiệm sản xuất, chờ công nhận giống cho phép sản xuất thử. Thời gian này đã rút ngắn đáng kể so với trước đây (12-14 năm) và gần tương đương với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Việc sơ tuyển và chọn dòng bước 1, bước 2 hiện nay được Viện Nghiên cứu Mía đường thực hiện chủ yếu trên khu ruộng thí nghiệm của Viện tại xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Hạt lai sau khi thu hoạch, phơi khô được bao gói đưa vào bảo quản trong tủ lạnh hoặc mang đi gieo hạt ngay. Việc gieo hạt lai được thực hiện trong nhà kính, trên nền đất đã được xử lý, khử trùng và trộn với chất hữu cơ hoai mục theo tỷ lệ 1:1. Sau khi hạt mía nảy mầm từ 10-15 ngay, tiến hành gây nhiễm bệnh cho cây con lai. Sau đó chọn các cây con lai không bị nhiễm bệnh chuyển sang trong trong các bầu đất nylon. Sau 2-4 tháng chăm sóc, ươm bầu cây con lai trong vườn ươm, cây con lai được đem trồng ra đồng ruộng với khoảng cách cây cách cây là 50 cm x 50 cm, hàng cách hàng 1,2 m. Theo dõi, đánh giá trong thời gian từ 10-12 tháng sau khi trồng cây con lai ra ngoài đồng ruộng. Các dòng lai đã chọn được ở bước sơ tuyển được chuyển sang ruộng chọn dòng bước 1, mỗi giống được trồng thành 1 hàng dài khoảng 2 m và cứ cách 10-20 hàng thì trồng 1 hàng đối chứng là giống đang trồng phổ biến trong sản xuất. Theo dõi, đánh giá trong thời gian 2 vụ (1 vụ mía tơ và 1 vụ mía gốc). Những dòng lai đạt tiêu chuẩn chọn sẽ được chuyển sang bước 2 kế tiếp, còn những dòng không đạt tiêu chuẩn sẽ bị loại bỏ. Ở bước 2, các dòng lai được bố trí trồng thí nghiệm theo kiểu ô vuông latin (lattice) 5 x 5 hoặc 7 x 7. Mỗi ô thí nghiệm có 4 hàng, mỗi hàng dài 7,5-10 m và lấy giống mía tiêu biểu trong sản xuất làm đối chứng. Cũng tiến hành theo dõi, đánh giá trong thời gian 2 vụ (1 vụ mía tơ và 1 vụ mía gốc). Sau bước 2, những dòng ưu tú sẽ được đem trồng nhân giống ở một khu vực khác để có đủ khối lượng hom giống mang đi khảo nghiệm cơ bản, sau đó là khảo nghiệm sản xuất, sản xuất thử và công nhận giống ở các vùng sinh thái trồng mía khác nhau trên toàn quốc.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Ngân hàng kiến thức trồng mía
  • Tác giả: Viện nghiên cứu mía đường
  • Nguồn: vienmiaduong.vn
"Like" us to know more!