Câu và nhận định

Câu và nhận định

Cũng như quy tắc về từ và thuật ngữ, ở đây, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Câu và đoạn văn là các đơn vị ngữ pháp, đồng thời là đơn vị ngôn ngữ. Nhận định và lập luận là những đơn vị logic, hay đơn vị tư duy và tri thức.

Vì ngôn ngữ không phải là phương tiện hoàn hảo để biểu đạt tư duy. Hơn nữa, một từ có thể có nhiều nghĩa và hai hay nhiều từ có thể đồng nghĩa nên mối quan hệ giữa hệ thống từ vựng và thuật ngữ mà các tác giả sử dụng rất phức tạp. Một từ có thể được biểu thị bằng một vài thuật ngữ và một thuật ngữ có thể được diễn đạt thông qua một số từ.

Các nhà toán học đã miêu tả mối liên hệ giữa những chiếc cúc và khuyết trên một cái áo là sự tương ứng 1-1. Mỗi cái cúc có một khuyết và mỗi khuyết ứng với một cái cúc. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là mối quan hệ giữa từ và thuật ngữ không phải là sự tương ứng 1-1. Sai lầm lớn nhất bạn có thể mắc phải khi áp dụng các quy tắc này là công nhận sự tồn tại của mối liên hệ 1-1 giữa các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố tư duy hoặc kiến thức.

Bạn không nên vội vàng đưa ra giả định, ngay cả về mối liên hệ giữa cúc áo và khuyết áo. Ta có thể thấy có những tay áo có vài chiếc cúc trang trí mà không có cái khuyết nào tương ứng. Ngược lại, có những khuyết áo không hề có cúc để cài. Thực tế này có thể áp dụng vào trường hợp của câu và nhận định. Không phải tất cả các câu trong sách đều ẩn chứa một nhận định vì có những câu nêu lên sự nghi vấn. Các câu này chủ yếu nêu vấn đề chứ không đưa ra câu trả lời. Nhận định chính là câu trả lời cho những câu hỏi. Chúng là tuyên ngôn nêu lên tri thức hoặc ý kiến. Điều này lý giải tại sao chúng ta gọi những câu ẩn chứa nhận định là câu tường thuật và những câu nêu câu hỏi là câu nghi vấn. Cũng có loại câu biểu thị mong muốn hay dự định, giúp độc giả hiểu phần nào mục đích của tác giả nhưng chúng không đề cập gì đến những kiến thức mà tác giả sẽ trình bày.

Hơn nữa, không phải cứ tương ứng với một câu trần thuật là một nhận định được nêu ra. Có ít nhất hai lý do sau: Thứ nhất, từ thường đa nghĩa và có thể được dùng trong nhiều câu khác nhau. Do đó, một câu có thể ẩn chứa nhiều nhận định khác nhau nếu có sự thay đổi về từ biểu đạt thuật ngữ. Ví dụ: “Đọc sách chính là học” là một câu đơn giản, nhưng nếu lúc này ta hiểu “học” là thu nhận thông tin, lúc khác lại hiểu “học” là nâng cao hiểu biết thì rõ ràng nhận định đã thay đổi theo sự thay đổi của thuật ngữ trong khi câu đó không có gì thay đổi.

Lý do thứ hai, không phải câu nào cũng đơn giản như câu “Đọc sách chính là học”. Khi các từ trong câu được sử dụng một cách tường minh thì một câu đơn giản thường diễn đạt một nhận định riêng, nhưng một câu ghép thì vẫn nêu lên hai hay nhiều nhận định. Câu ghép là một tập hợp câu nối với nhau bởi những từ như “và”, “nếu... thì”, “không những... mà còn”. Ranh giới giữa một câu ghép dài và một đoạn văn ngắn vô cùng mong manh. Một câu ghép có thể nêu lên một số nhận định liên kết với nhau dưới dạng một lập luận.

Những câu như vậy rất khó phân tích. Ví dụ câu trích từ tác phẩm The Prince (Quân vương) của Machiavelli sau đây:

Một ông hoàng luôn làm người khác khiếp sợ, nếu không được mọi người yêu mến, ông ta sẽ cố tránh bị thù ghét; vì ông ta có thể chịu đựng rất giỏi việc người khác khiếp sợ mà không căm ghét mình - điều luôn xảy ra trừ phi ông ta không lấy của cải của thần dân và chiếm đoạt vợ của họ.

Mặc dù câu trên có vẻ rất phức tạp nhưng về mặt ngữ pháp, đây là một câu đơn. Dấu chấm phẩy (;) và từ “vì” báo hiệu sự ngắt ý. Nhận định đầu tiên được đưa ra là một ông hoàng luôn khiến người khác khiếp sợ.

Vế thứ hai bắt đầu bằng từ “vì” và tách ra thành một câu khác. Có thể diễn đạt đầy đủ câu này như sau: “Lý do là vì ông ta có thể chịu đựng...”. Vế thứ hai đã đưa ra ít nhất hai nhận định: (1) Lý do khiến một ông hoàng luôn làm người khác khiếp sợ là vì ông ta có thể chịu đựng được việc mọi người khiếp sợ mình miễn là họ không căm ghét ông ta; (2) Ông ta chỉ có thể tránh việc bị căm ghét bằng cách không chiếm đoạt của cải và vợ của các thần dân.

Việc phân biệt các nhận định ẩn chứa trong một câu dài và phức tạp rất quan trọng. Muốn tán thành hay phản đối ý kiến của Machiavelli, trước hết bạn phải hiểu ông ấy đang nói gì. Rõ ràng chỉ trong một câu, Machiavelli đã đề cập tới ba nhận định. Bạn có thể phản đối một trong các nhận định đó và tán thành những nhận định còn lại. Có thể bạn cho rằng Machiavelli đã sai lầm khi khuyên một ông hoàng sử dụng chính sách khủng bố bằng bất kỳ giá nào. Tuy nhiên, bạn vẫn thấy được sự sắc sảo của tác giả khi khẳng định rằng một ông hoàng không nên khơi dậy cùng lúc cả sự căm ghét và khiếp sợ, và bạn cũng có thể đồng tình với ông rằng tránh xa của cải và đàn bà chính là điều kiện bắt buộc để khỏi bị căm ghét. Nếu bạn không nhận ra những nhận định khác nhau trong một câu phức tạp, bạn không thể đánh giá đúng những gì mà tác giả đang trình bày.

Các luật sư nắm rất chắc vấn đề này. Họ phải kiểm tra câu chữ rất cẩn thận để biết rõ nguyên đơn đưa ra chứng cứ gì, hoặc bị cáo phủ nhận điều gì. Một câu đơn như “John Doe đã ký hợp đồng ngày 24 tháng 3” trông có vẻ đơn giản nhưng nó nói lên nhiều điều cả đúng và sai. Có thể John Doe đã ký hợp đồng nhưng không phải vào ngày 24 tháng 3 và đây là một thông tin quan trọng. Tóm lại, ngay cả một câu có cấu trúc ngữ pháp đơn giản cũng có thể nêu lên hai hay nhiều nhận định.

Chúng tôi đã nêu đầy đủ các dấu hiệu để phân biệt câu và nhận định. Giữa chúng không có sự tương ứng 1-1. Không những một câu đơn có thể diễn tả một vài nhận định nhờ tính đa nghĩa hay tính phức tạp, mà cùng một nhận định còn có thể được diễn đạt thông qua hai hay nhiều câu khác nhau. Một độc giả ít nhiều phải có kiến thức ngữ pháp. Bạn không thể xem xét các thuật ngữ, nhận định và lập luận nếu không thấu suốt về mặt ngôn ngữ. Nếu các từ, câu và đoạn văn không rõ ràng, không được phân tích, chúng sẽ trở thành rào cản chứ không phải là phương tiện giao tiếp. Lúc đó, bạn sẽ chỉ đọc các từ chứ không tiếp nhận được tri thức.

Sau đây là các quy tắc 6 và 7. Quy tắc 6: ĐÁNH DẤU NHỮNG CÂU QUAN TRỌNG NHẤT TRONG MỘT CUỐN SÁCH VÀ TÌM RA CÁC NHẬN ĐỊNH ẨN CHỨA TRONG ĐÓ. Quy tắc 7: TÌM RA CÁC LẬP LUẬN CƠ BẢN TRONG MỘT CUỐN SÁCH DỰA TRÊN MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC CÂU.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Đọc sách như một nghệ thuật
  • Nguyên tác: How to read a book
  • Tác giả: Mortimer J. Adler, Charles Van Doren
  • Dịch giả: Hải Nhi
  • Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2008
"Like" us to know more!