Cái học về bề rộng và cái học về bề sâu

B. Cái học về bề rộng và cái học về bề sâu

Có hai thứ học vấn: học về bề sâu và học về bề rộng.

Có một thứ hiểu biết do bên ngoài đưa đến, có một thứ hiểu biết do bên trong mà phát huy ra được.

Cái học bao quát mà người xưa ở Đông Phương khuyên bảo: “thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự” là một cái học hết sức cần thiết để tìm biết được chân lý trong đời này. Thật vậy, mọi sự, mọi vật trên đời, rất liên quan mật thiết với nhau. Có biết được nguyên nhân mới hiểu rành lý sự. Nhưng cái nhân nầy sanh ra cái quả kia, rồi cái quả ấy lại là cái nhân cho cái quả khác, tiếp tục nhau mà đến. Sự việc vừa xảy ra trước mắt ta hôm nay, trước đây đã có một dọc nguyên nhân mà ta không biết và có biết được chăng, cũng chỉ biết được một vài nguyên nhân thiển cận nhãn tiền mà thôi, còn lại không biết bao nhiêu nguyên nhân khác nữa, hữu hình có, vô hình cũng có mà ta không làm sao biết hết được. Người trí sở dĩ khác được kẻ ngu chỉ ở điểm này: một đàng đã tìm thấy được nhiều nguyên nhân sâu xa và rộng rãi, còn một đàng chỉ không nhận thấy một nguyên nhân nào khác hơn là sự việc đã xảy ra mà thôi. Vì vậy người trí thức cần phải có một cái học rộng rãi để khỏi phải bị thiên kiến trong khi nhận xét và phê bình.

Nhưng cần nhất là phải có một cái học chuyên môn, một cái học về bề sâu. Victor Duruy nói: “Phải có một cái học tổng quát để phụng sự cho ngành chuyên môn của mình!”.

Câu chuyện sau đây chứng tỏ rằng cái học chuyên môn mà được tận tâm huấn luyện, bắt buộc ta phải đi đến cái học tổng quát.

Một nhà tiến sĩ văn chương cổ điển ngày kia đến viếng ông Kerschensteiner, bấy giờ đang làm hiệu trưởng các trường ở Munich, để xin một chân giáo học ở trường tiểu học của ông. Dĩ nhiên trong việc xin dạy đây, chắc chắn không phải vì vấn đề sinh nhai, mà chính vì ông ta muốn tự mình nghiên cứu sự tổ chức và phương pháp dạy dỗ ở cấp đại học mà ông sẽ có phận sự đảm nhiệm.

Kerschensteiner, trước lòng tha thiết nhiệt thành ít có ấy, bằng lòng nhận cho ông ấy vào dạy học, nhưng cũng không quên nhắc ông rằng cái học chuyên khoa về ngôn ngữ học của ông e sẽ là một trở ngại to tát cho công việc dạy dỗ của ông đối với cấp sơ học. Ông này cho biết rằng sự chuyên học về tiếng La tinh và Hy lạp đầu tiên đã hướng ông vào công việc nghiên cứu về lịch sử thời cổ sơ. Và nghiên cứu về lịch sử cổ thời lại lôi kéo ông đi vào ngành nghiên cứu của thời tiền sử, và vì thế bắt ông phải đeo đuổi theo nhân loại học. Chính lúc ấy ông cảm thấy ông cần phải có một sự hiểu biết vững vàng về vạn vật học và ông bắt đầu nghiên cứu về thực vật học và động vật học. Nhân đó ông cảm thấy ông còn thiếu sót rất nhiều về vật lý học cũng như hoá học, bởi vậy ba năm sau khi thi đậu bằng tiến sĩ văn khoa, ông theo thọ giáo những nhà khoa học trứ danh Roentgen và Bayer (14).

Câu chuyện trên đây, đâu phải là một câu chuyện đặc biệt riêng tư gì của một người: các nhà học thức chân chánh nào cũng đi một con đường như ông tiến sĩ trên đây cả. Thật vậy, khi mình muốn đi thật sâu vào một vấn đề nào, thường thường lại phải cầu cứu đến các ngành học khác có liên lạc đến nó. Như cái học về vật lý bắt ta phải sành toán học, cái học về địa lý buộc ta phải có một cơ sở học vấn vững vàng về địa chất học.

Thành ra, chỉ đi sâu vào một ngành học nào, người ta rốt cuộc cũng tìm ra được cái học bao la tổng quát, vì sự vật trong đời chằng chịt dính líu nhau, không có một sự vật nào là cô đơn độc lập cả.

Rồi ra, cái học tổng quát có cái hại này, là cái gì cũng biết, nhưng không có cái gì chuyên môn thực hiện được cả cho sự tiến bộ chung của nhân loại. Tuy vậy, nó có những cái lợi to tát này là nó đào tạo cho ta có được một cái nhìn bao quát, không thiên kiến, trí óc và tâm hồn rộng rãi, hiểu được người chung quanh, không có tinh thần quá khích. Đời sống tinh thần cũng dồi dào mà hưởng thụ sự sung sướng cũng rộng rãi. Thử tưởng tượng một người có óc thẩm mỹ, hiểu biết được cái hay của âm nhạc hay hội hoạ, bất kỳ là âm nhạc hay hội hoạ của nước nào. Người đó phải chăng là người có một nguồn hạnh phúc tinh thần vô tận không? Trái lại, những kẻ chỉ biết cái hay của Vọng cổ mà không biết thưởng thức cái đẹp của một bản nhạc Beethoven, biết cái hay của một tuồng hát bóng Âu Mỹ mà không thưởng thức nổi cái đẹp của một tuồng “hát bội” Á đông... thì dĩ nhiên nguồn cảm hứng mỹ thuật phải kém nhiều, vì bị hạn định.

Cái học chuyên môn thì có lợi nhiều cho xã hội, khiến cho công việc làm càng ngày càng trở nên tinh tiến, mau lẹ, nhưng nó có cái hại là thường hay biến con người thành bộ óc hẹp hòi, và bị sai ngoa vì nghề nghiệp. Có nhiều nhà chuyên môn họ làm thái quá đến như lố bịch... Như nhà y sĩ kia bị ám ảnh vì vi trùng, rồi thì dưới con mắt ông, cái gì cũng cắt nghĩa bằng vi trùng... Cho đến tình yêu, họ cũng cắt nghĩa là bị vi trùng “yêu”. Dưới mắt y sĩ, điên là một chứng bệnh, nhưng thiên tài đối với các ông cũng là một chứng bệnh. Thậm chí có nhà bác học nọ cho Đức Chúa Jésus cũng là một người điên, vì là một người “phi thường”. Lại nữa, nhà chuyên môn cũng thường bị mang chứng bệnh “sai ngoa về nghề nghiệp” nữa. Đó là một tai hại đáng lo ngại, cần phải tránh xa vì nó có tánh cách phản văn hóa.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Tôi tự học
  • Tác giả: Thu Giang Nguyễn Duy Cần
  • Nhà xuất bản: Khai Trí, 1971
  • Ebook (TVE): Goldfish
"Like" us to know more!