Cái bên trong và cái bên ngoài

1. Cái bên trong và cái bên ngoài

Bởi đạo đức liên quan đến hành vi, nên mọi thuyết nhị nguyên được đặt ra giữa trí óc và hoạt động ắt phải được thể hiện trong lý luận về đạo đức. Bởi vì các phát biểu về sự phân lìa đó trong lý luận triết học về đạo đức đã được sử dụng để biện minh và tư tưởng hóa các phương pháp được sử dụng trong giáo dục đạo đức, cho nên một bàn luận ngắn có tính phê phán là điều thích hợp. Một điều đã trở thành cũ rích trong lý luận giáo dục là, việc xây dựng tính cách là một mục tiêu bao trùm của giáo dục và kỷ luật nhà trường. Vì thế, thật quan trọng nếu chúng ta nên đề phòng một quan niệm về các mối quan hệ giữa trí thông minh và tính cách bởi nó cản trở cho việc thực hiện mục tiêu nói trên, và cảnh giác trước những điều kiện mà nhà trường phải cung cấp để mục tiêu đó có thể được thực hiện thành công.

Trở ngại thứ nhất chúng ta gặp phải là, sự thịnh hành của các quan niệm đạo đức tách quá trình hoạt động ra thành hai nhân tố đối lập nhau, thường được gọi lần lượt là cái bên trong và cái bên ngoài hoặc cái tâm hồn và cái thể xác. Sự phân chia này là đỉnh điểm của thuyết nhị nguyên về tinh thần và thế giới, linh hồn và thể xác, mục đích và phương tiện mà chúng ta đã lưu ý quá nhiều. Trong lĩnh vực đạo đức, sự phân chia này thể hiện ở một sự phân chia ranh giới rõ ràng giữa động cơ hành động và hệ quả của hành động, giữa tính cách và hành vi. Động cơ và tính cách được coi là cái “bên trong” thuần túy, chúng chỉ tồn tại trong ý thức, trong khi đó hệ quả và hành vi thì được coi là nằm ngoài trí óc, hành vi chỉ đơn thuần có liên quan với những hành động thực hiện động cơ; hệ quả thì liên quan đến điều xảy ra xét như một kết quả. Các trường phái khác đều đồng nhất đạo đức với hoặc trạng thái tinh thần bên trong hoặc với hành động và kết quả bề ngoài, cái này tách rời khỏi cái kia. Hành động có mục đích bao giờ cũng mang tính chủ tâm; nó đòi hỏi phải có một mục đích được thấy trước một cách hữu ích và một sự cân nhắc lợi hại trong đầu. Nó còn bao hàm một trạng thái hữu thức nóng lòng hoặc mong muốn đạt được mục đích. Sự lựa chọn có chủ tâm một mục tiêu và một xu hướng mong muốn ổn định, đòi hỏi phải có thời gian. Ở thời điểm này, hành vi chưa thể bộc lộ hoàn toàn ra ngoài. Người ấy chưa đi đến một quyết định, chưa biết phải làm gì. Do đó anh ta hoãn hành động rõ ràng càng lâu càng tốt. Có thể so sánh tình thế của anh ta với một người đang tính toán nhảy qua một cái rãnh. Nếu anh ta biết chắc có thể làm được hoặc không thể làm được, anh ta sẽ chọn hành động theo cách nào đó. Nhưng nếu anh ta đang cân nhắc, thì anh ta vẫn đang trong tình trạng hoài nghi; anh ta do dự. Trong khi đang trong tình trạng chờ đợi một phương châm hành động duy nhất biểu lộ rõ ràng, các hoạt động của anh ta là những sự tái phân bố lại năng lượng bên trong cơ thể để chuẩn bị một đường lối hành động xác định. Anh ta dùng mắt ước lượng cái rãnh; anh ta căng người lên để thử xem mình có đủ sức hay không; anh ta nhìn xung quanh để tìm cách vượt qua cái rãnh bằng cách khác, anh ta suy nghĩ về ý nghĩa của việc nhảy qua cái rãnh. Toàn bộ điều này nghĩa là một trạng thái nhấn mạnh của ý thức; nghĩa là, một sự bất ngờ thay đổi trong thái độ, năng lực, nguyện vọng của cá nhân ấy.

Tuy nhiên, hiển nhiên việc nhận ra một cách hữu thức sự đột ngột thay đổi trong các nhân tố cá nhân lại là một phần của toàn bộ hoạt động trong sự biến diễn về mặt thời gian. Không làm gì có chuyện trước hết là một quá trình thuộc về tâm lý đơn thuần, rồi ngay sau đó là một quá trình khác biệt hẳn thuộc về thể xác. Có một hành vi tồn tại liên tục, bắt đầu là tình trạng không xác tín, phân vân, do dự và sau đó là một tình trạng rõ ràng, quyết tâm hoặc hoàn chỉnh hơn. Thoạt đầu hoạt động chủ yếu là những căng thẳng và điều chỉnh nào đó bên trong cơ thể; trong quá trình cơ thể phối hợp các trạng thái căng thẳng và những điều chỉnh nói trên để hình thành một thái độ thống nhất, nó hành động xét như một toàn thể - một hành động xác định nào đó được thực hiện. Dĩ nhiên chúng ta có thể phân biệt được giai đoạn hữu thức rõ ràng hơn của hoạt động diễn ra liên tục xét như giai đoạn ấy liên quan đến tâm trí hoặc tâm lý. Nhưng việc chỉ nhận ra được cái thuộc về tâm trí hoặc tâm lý nói trên có nghĩa là, tình trạng do dự, đang hình thành của một hoạt động trong quá trình nó trở thành hoàn chỉnh bao giờ cũng kéo theo sự bộc lộ năng lượng để làm biến đổi môi trường.

Các suy nghĩ, quan sát, ước ao, ác cảm hữu thức đóng vai trò quan trọng bởi chúng là các hoạt động ở trạng thái phôi thai, chớm xuất hiện. Vào một thời điểm sau đó chúng mới hoàn tất số phận để biến thành các hành động cụ thể mà có thể được nhận ra. Và những sự điều chỉnh của cơ thể ở giai đoạn phôi thai, chớm xuất hiện nói trên đóng vai trò quan trọng bởi vì chúng là phương tiện duy nhất để chúng ta thoát khỏi sự chi phối của các thói quen và động năng mù quáng. Chúng là các hoạt động mang một ý nghĩa mới trong quá trình triển diễn. Do đó, thông thường hễ khi nào các bản năng và thói quen có sẵn của chúng ta đột nhiên bị ngăn cản khi gặp các điều kiện mới mẻ, khi ấy thường xảy ra một sự nhấn mạnh của trạng thái ý thức cá nhân. Khi ấy chúng ta buộc phải dựa vào chính bản thân để tái tổ chức lại thái độ của mình trước khi bắt đầu một đường lối hành động dứt khoát và không thể rút lại. Trừ phi chúng ta có ý định giải quyết bằng sức mạnh hoàn toàn vũ phu, chúng ta buộc phải thay đổi các khả năng của cơ thể để làm cho chúng thích nghi với các đặc tính cụ thể của tình huống chúng ta gặp phải. Như vậy, trạng thái cân nhắc và mong muốn có tính hữu thức xảy ra trước hành động công khai chính là sự tái điều chỉnh phương pháp của cá nhân liên quan tới hoạt động tại các tình huống không chắc chắn.

Tuy nhiên, vai trò nói trên của trí óc trong hoạt động mang tính liên tục không phải bao giờ cũng được duy trì. Mong muốn về điều gì đó khác, ác cảm với trạng thái cụ thể của sự vật nào đó bởi nó ngăn cản hoạt động diễn ra, kích thích trí tưởng tượng. Sự hình dung về một trạng thái khác của sự vật không phải bao giờ cũng giúp ích cho quan sát và hồi tưởng thông minh nhằm tìm ra giải pháp thoát ra và tiếp tục. Nếu không có một xu hướng kỷ luật, trí tưởng tượng sẽ hoạt động bừa bãi. Thay vì các đối tượng của trí tưởng tượng được kiểm chứng bằng các điều kiện có liên quan đến tính khả thi trong quá trình thực hiện, thì chúng lại được phép phát triển bởi điều đó mang lại sự thỏa mãn tức khắc về xúc cảm. Khi chúng ta không thể bộc lộ khả năng của mình bởi môi trường không phù hợp đã ngăn cản điều đó, dù là môi trường tự nhiên hay môi trường xã hội, thì lối thoát dễ dàng nhất là “xây những lâu đài trên cát” [nghĩ đến những chuyện viển vông] và dùng chúng để thay thế cho một thành tựu thực sự song nó đòi hỏi sự lao tâm. Như vậy, bề ngoài thì ưng hành động công khai ấy, nhưng trong đầu lại dệt một thế giới tưởng tượng. Sự đứt lìa này giữa suy nghĩ và ứng xử được biểu hiện trong các lý luận có sự phân lìa rõ ràng giữa trí ÓC xét như cái bên trong và ứng xử và hệ quả xét như cái bên ngoài đơn thuần.

Bởi chưng sự tách lìa nói trên không đơn thuần là một sự kiện tình cờ trong kinh nghiệm của một cá nhân cụ thể. Hoàn cảnh xã hội đã đẩy giai cấp có khả năng suy tư sáng sủa phải trông cậy vào những suy nghĩ và khát khao của chính họ mà không cung cấp phương tiện để cho những suy tư và khát vọng đó được sử dụng vào việc cải tổ lại môi trường. Trong những điều kiện như vậy, để trả thù môi trường xa lạ và thù địch, có thể nói như vậy, con người nuôi dưỡng thái độ khinh miệt nó, nguyền rủa nó. Họ tìm nơi trú ẩn và nguồn an ủi trong trạng thái tinh thần của chính mình, trong những tưởng tượng và khao khát của chính mình, họ ca tụng những điều đó là có thật và hoàn thiện hơn so với thế giới bên ngoài đáng khinh bỉ. Những giai đoạn như vậy đã lặp lại nhiều lần trong lịch sử. Ở vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Cơ đốc giáo, các hệ thống đạo đức có ảnh hưởng của thuyết Khắc kỷ, của giáo lý Cơ đốc của giới tu sĩ và của quần chúng và các phong trào tôn giáo khác của thời cuộc, đều đã được hình thành dưới ảnh hưởng của các điều kiện như vậy. Hành động diễn đạt các lý tưởng thịnh hành càng bị ngăn cản thì con người càng coi việc sở hữu và vun bồi chúng trong tâm hồn như là tự đủ đối với họ - như là bản chất của đạo đức. Thế giới bên ngoài nơi diễn ra hoạt động, được coi là chẳng liên quan gì tới đạo đức. Mọi sự đều nằm ở việc “có động cơ đúng đắn”, cho dù động cơ đó không phải là động lực tại thế giới này. Tình hình gần giống như vậy đã lặp lại tại nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX; nó dẫn đến việc Kant đã kiên quyết coi thiện chí như là cái tốt duy nhất của đạo đức, ý chí được coi là hoàn chỉnh tự nó, tách rời khỏi hành động và những thay đổi hoặc hệ quả xảy ra trong thế giới này. Về sau này quan niệm nói trên đã dẫn tới một sự tư tưởng hóa các thiết chế hiện hữu xét như bản thân chúng là sự thể hiện của lý tính.

Đạo đức bên trong thuần túy xét như là sự “có ý định tốt”, có tâm tính tốt, bất chấp điều gì xảy ra, đã đương nhiên dẫn đến một sự phản đối. Sự phản đối này thường được gọi hoặc bằng khoái lạc chủ nghĩa [khoái lạc là nguyên tắc của đạo đức] hoặc bằng tên gọi vị lợi chủ nghĩa [cái gì có ích thì hợp với đạo đức]. Người ta cho rằng thực ra cái quan trọng thuộc về đạo đức không phải là điều gì xảy ra trong ý thức của một người, mà là điều gì anh ta làm - những hệ quả xảy ra, trách nhiệm mà anh ta thực sự đảm nhận. Đạo đức bên trong bị phê phán là, mang tính tình cảm, độc đoán, giáo điều, chủ quan - như là việc cho phép con người đề cao và bảo vệ mọi giáo điều phù hợp với tính tư lợi của họ hoặc mọi ý thích thất thường xảy ra trong trí tưởng tưởng và được họ gọi là trực giác hoặc một lý tưởng của lương tâm. Kết quả, sự ứng xử, mới là điều đáng quan tâm; chúng cung cấp tiêu chuẩn đánh giá duy nhất của đạo đức.

Đạo đức thông thường, và do đó là đạo đức của nhà trường, có lẽ là một sự thỏa hiệp thiếu nhất quán của cả hai quan niệm trên. Một mặt, một số trạng thái tình cảm nào đó được đề cao thái quá; cá nhân có bổn phận phải “có ý định tốt”, và nếu ý định của anh ta là tốt, nếu anh ta ý thức được đúng loại xúc cảm, anh ta được miễn trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầy đủ bằng hành động. Nhưng bởi vì, mặt khác, có những việc làm nào đó mà cá nhân buộc phải thực hiện để làm vừa lòng và thỏa mãn yêu cầu của người khác và yêu cầu của trật tự xã hội nói chung, vì thế có những việc nhất thiết không thể từ chối, bất chấp cá nhân có hứng thú hoặc có đủ khả năng trí tuệ để thực hiện hay không, Anh ta buộc phải phục tùng; anh ta buộc phải tự giác làm việc hết khả năng; anh ta phải tuân lệnh; anh ta phải hình thành các thói quen thực tế; anh ta phải học cách tự chủ - toàn bộ những quy tắc này được hiểu là chúng đơn giản đề cao việc làm trước mắt được hoàn thành một cách xác thực, bất chấp nó có được thực hiện bằng nhiệt tình và ý thích hay không, và bất chấp vì thế nó có tác động hay không tới những việc làm khác ít hiển nhiên hơn.

Chúng ta hi vọng rằng phần bàn luận trước [Chương XXV] đã đưa ra đầy đủ phương pháp để tránh hai điều tác hại nói trên. Một hoặc cả hai điều đó chắc chắn xảy ra hễ khi nào cá nhân, dù trẻ hay già, không thể tham gia vào một hoạt động diễn ra liên tục và có tính kế tiếp trong những điều kiện kích thích mối hứng thú của họ và đòi hỏi họ phải suy nghĩ. Bởi chỉ có trong hoàn cảnh như vậy khuynh hướng của ham muốn và tư duy mới là một nhân tố hữu cơ bên trong cách ứng xử công khai và rõ ràng. Bởi một hoạt động có tính kế tiếp là biểu hiện của mối hứng thú của người học, anh ta phải đạt được một kết quả xác định, cả thói quen đơn điệu và làm việc theo mệnh lệnh áp đặt hoặc làm việc theo ý muốn thất thường đều sẽ không đủ để thực hiện kết quả đó, cho nên sự xuất hiện của mục đích hữu thức, ham muốn hữu thức, và suy nghĩ có chủ tâm, là không thể tránh khỏi. Chúng là “không thể tránh khỏi” xét như chúng là linh hồn và đặc tính của một hoạt động đem lại các hệ quả cụ thể, chứ không phải xét như chúng hình thành một vương quốc tách rời của ý thức bên trong.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org
"Like" us to know more!