Cách thẩm định hào động và khí quẻ

Cách thẩm định hào động và khí quẻ

Sau khi lập quẻ ta cần phân tích, phán đoán quẻ. Muốn thế, trước hết phải xem: hào động, tiếp sau là xem khí quẻ, cuối cùng là xem xét mối quan hệ giữa quẻ thể và quẻ dụng. Đầu tiên ta bàn về hào động và khí quẻ.

Phương pháp lập quẻ theo cách đã giới thiệu ở trên bao giờ cũng có hào động. Hơn nữa chỉ có một hào động xuất hiện, như thế thì trọng điểm của vấn đề đã hiện rõ, lợi cho việc phán đoán.

Sở dĩ lấy tổng số chia cho 6 để được hào động là vì mỗi tượng quẻ có 6 hào, nên chia cho 6 là có căn cứ.

Tác dụng của hào động có thể quy về mấy mặt dưới đây:

1. Căn cứ hào động để xác định quẻ thể, quẻ dụng

Quẻ thể, quẻ dụng là khái niệm mới do Thiệu Ung sáng tạo ra. Nguồn gốc của nó là cơ sở triết học âm dương, tức một phân làm hai, thực chất là phân chia rõ chủ thể và khách thể, tương đương với phương pháp hào thế, hào ứng của cáçh lập quẻ bằng gieo đồng tiền, mục đích để đoán quẻ được dễ dàng.

Phương pháp xác định quẻ thể và quẻ dụng là: lấy sự động và tĩnh của triết học âm dương làm căn cứ. Quẻ có hào động là quẻ dụng, quẻ tĩnh là quẻ thể. Quẻ thể là mình, quẻ dụng là người khác hay sự việc cần đoán.

2. Hào động là căn cứ để phán đoán cát hung

Sau khi lập quẻ, ta căn cứ vào sự sinh khắc của ngũ hành giữa quẻ dụng và quẻ thể để phán đoán cát hung. Nhưng nhất định còn phải tham khảo lời hào tử của hào động. Ví dụ: Hào đầu của quẻ càn động, lời hào tử là: "tiềm long vật dụng", tức có thể đoán: thời cơ sự việc" chưa đến, trước mắt không nên manh động.

Do đó có thể thấy Mai Hoa dịch thuật của Thiệu Ung đã hấp thụ được nội dung ý nghĩa của bốc phệ, tức là bao giờ cũng xuất phát từ nguồn gốc của vấn đề. Lấy hào tử của quẻ làm căn cứ lí luận cho sự phán đoán như vậy Mai Hoa dịch thuật có một cơ sở triết học và cơ sở lí luận rất sâu sắc, nó trở thành một phái mới của dịch học..

3. Căn cứ hào động dể xét tình trạng và quá trình phát triển của sự việc

Hào động không những chỉ rõ kết quả cát hung của sự việc mà còn biểu thị tình hình các giai đoạn của quá trình phát triển, tức là việc sẽ biến thành tốt hơn, hoặc xấu hơn, biến sinh biến khắc, biến ngang hòa, biến thành xì hơi, v.v...

Ví dụ: Hào hai của quẻ càn động, quẻ càn hạ là quẻ dụng càn thượng là quẻ thể. Quẻ càn ban đầu vốn là quẻ ngang hòa, biểu thị sự việc tốt. Nhưng nay hào hai động, dương biến thành âm nên quẻ càn biến thành quẻ Thiên hòa đồng nhân. Quẻ thượng càn là quẻ thể, là kim, quẻ hạ là quẻ dụng là hỏa. Quẻ dụng hỏa khắc quẻ thể kim là điềm xấu. Do đó có thể đoán sự việc phát triển trước tốt sau xấu.

4. Hào dộng là căn cứ của xu hướng phát triển của sự việc

Hào động là xu hướng phát triển của sự việc, cũng là căn cứ chủ yếu để phán đoán hướng đi ban đầu và hướng đi về sau thay đổi của người đi xa. Ví dụ: lập được quẻ càn có hào đầu động. Quẻ thượng càn kim là quẻ thể quẻ hạ càn kim là quẻ dụng, là người đi xa. Hào đầu động biến thành quẻ tốn, nên có thể đoán người này ban đầu đã đi hướng tây bắc, sau đó chuyển hướng đông nam.

5. Là căn cứ để phân chia quẻ gốc và quẻ biến

Vạn vật có động thì có biến, vật phát triển đến cực độ tất quay trở lại. Dương động biến thành âm, âm động biến thành dương. Hào biến thành quẻ biến. Ví dụ: Hào đầu quẻ càn động, hào dương biến thành hào âm nên quẻ càn biến thành quẻ Thiên phong cấu. Quẻ càn gọi là quẻ gốc, quẻ thiên phong cấu là quẻ biến.

Quẻ gốc biểu thị sự việc phát triển ở giai đoạn đầu quẻ biến là phát triển ở giai đoạn cuối.

Sau khi căn cứ lời từ hào động để tìm ra kết luận ta còn phải xem xét khí của tượng quẻ ra sao. Khí quẻ là tình hình vượng suy của ngũ hành quẻ đó trong bốn mùa.

Ngũ hành của 8 quẻ như sau: càn, đoài, thuộc kim; khôn, cấn thuộc thổ; chấn, tốn thuộc mộc; khảm thuộc thủy; li thuộc hỏa.

Sự vượng suy của ngũ hành tám quẻ trong bốn mùa biểu hiện là:

- Chấn, tốn thuộc mộc, vượng khí ở mùa xuân, suy khí ở mùa thu.

- Ly thuộc hỏa, vượng khí ở mùa hạ, suy khí ở mùa đông.

- Càn, đoài thuộc kim, vượng ở mùa thu, suy ở mùa hạ.

- Khảm thuộc thủy, vượng ở mùa đông, suy ở các tháng: 2, 5, 8, 11.

- Khôn cấn thuộc thổ, vượng vào các tháng: 2, 5, 8, 11, suy vào mùa xuân.

Khí của quẻ thể nên vượng, khống nên suy. Quẻ thể nên được quẻ dụng sinh cho, không nên bị quẻ dụng khắc. Đó là nguyên tắc chung của sự sinh, khắc, vượng, suy của ngũ hành.

Khi phân tích sinh, khắc, vượng, suy của ngũ hành bát quái, phải chú ý đến tình hình ngũ hành của quẻ gốc, quẻ hỗ, quẻ biến.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Địa lợi
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyễn Văn Mậu
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Ebook: TVE-4U.org
"Like" us to know more!