Cách đọc tiểu thuyết

3. Cách đọc tiểu thuyết

Tôi đọc mỗi tiểu thuyết hai ba lần, lần đầu để thoát ly đời sống hiện tại, những lần sau mới để hiểu biết thêm.

Khi đọc xong, tôi tự hỏi:

a) Tiểu thuyết này thuộc về loại nào?

Nếu là một tiểu thuyết luận đề như “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh thì tôi chú trọng trước hết đến luận đề. Tác giả muốn dựng lên cái thuyết rằng trong gia đình, cái cũ với cái mới không dung hòa với nhau rồi kết luận phải có sự chia rẽ, phải cho cá nhân thoát ly gia đình.

Tôi phải xét khi tả cái cũ và cái mới đó, tác giả có theo đúng sự thực không, hay đã phóng đại ra để bênh vực thuyết của ông? Ông có quyền phóng đại nhưng phóng đại có hợp lý không? Tâm lý các nhân vật có tự nhiên không? Động tác của họ có hợp tâm lý không? Những biến chuyển trong truyện có gì bất ngờ không?...

Có tự hỏi những câu đó rồi mới quyết đoán được thuyết của tác giả có vững hay không, nên theo tới bực nào?

Nếu là một tiểu thuyết phong tục như Con trâu của Trần Tiêu thì tôi chú ý nhất đến nghệ thuật miêu tả và cách xây dựng cốt truyện.

Nếu là một tiểu thuyết xã hội như cuốn Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, tôi tự hỏi tác giả có vạch rõ một con đường chiến đấu không hay để ta tự tìm lấy? Con đường ấy là con đường nào? Nó hợp với trào lưu tiến hóa của xã hội ta trong giai đoạn đó không?

Mỗi tiểu thuyết có giá trị đều chứa một tư tưởng, ít nhất cũng là một nhân sinh quan. Tôi rán tìm ra tư tưởng hoặc nhân sinh quan ấy. Chẳng hạn Nguyễn Công Hoan có tư tưởng mỉa mai kẻ giàu sang và bênh vực kẻ nghèo hèn. Đái Đức Tuấn thì mơ mộng, thích phong vị cổ, chỉ muốn thoát ly đời sống hiện tại...

b) Tiểu thuyết chứa sự thực tới một trình độ nào?

Muốn trả lời câu ấy ta phải biết tiểu thuyết gia tạo tiểu thuyết ra sao.

Tất nhiên là tùy loại. Tiểu thuyết tả chân bao giờ cũng đúng sự thật hơn tiểu thuyết thần tiên. Tuy nhiên ngay trong tiểu thuyết tả chân và cả những tự truyện như cuốn Dã tràng của Thiết Can, Le Petit chose của A. Daudet, David Copperfield của Ch. Dickens, vẫn có một phần tưởng tượng vì không có tưởng tượng, không thành tiểu thuyết.

Ai cũng biết chàng Đông trong Dã tràng chính là Thiết Can, David Copperfield chính là Dickens, còn Flaubert thì nói: “Bovary là tôi”, nhưng không phải các nhà đó chép đúng đời sống của họ vào truyện đâu. Họ đã lựa chọn, xếp đặt, thêm bớt, phóng đại hoặc lý tưởng hóa đời họ đi một chút.

Sibermann, trong cuốn “Amour nuptial” đã chỉ cách ông viết tiểu thuyết: “Tôi đã tự hứa chỉ tưởng tượng mối liên lạc trong truyện, ngoài ra như nơi chốn, tính tình nhân vật, tôi sẽ chép đúng sự thực. Nhưng sau khi bắt đầu làm như vậy, tôi thấy phương pháp ấy không có giá trị gì cả. Tính tình nhân vật thiếu chặt chẽ... hóa ra rời rã, vụn vặt... và lúc đó tôi mới hiểu chức vụ của tưởng tượng trong tiểu thuyết. Nó phải dùng những bằng chứng rời rạc của sự nhận xét cùng với những kết quả cuối cùng của sự phân tích rồi tự do tổng hợp những cái đó lại”.

Nhưng tưởng tượng gì thì tưởng tượng, tiểu thuyết gia cũng phải dựa vào sự thực thì ta mới tin được, nghĩa là những chuyển biến trong động tác phải tự nhiên, tính tình nhân vật phải hợp lý. Đã đành trái tim có những lý lẽ mà lý trí không biết, đã đành có những tâm hồn đặc biệt, siêu việt mà chúng ta khó đoán được hành động, song kể ra cũng dễ đoán được tác giả tưởng tượng có lý hay không. G. de Scudéry, một văn sĩ Pháp ở thế kỷ 17, nói: Khi nào óc ta nhận cái gì một cách dễ dàng, không cần có chứng cớ thì cái đó có vẻ đúng sự thực”. Câu nói đó ông nói về kịch, nhưng áp dụng vào tiểu thuyết cũng vẫn đúng.

Đọc truyện Kiều, ta thấy hành động của nhân vật rất hợp tâm lý, tính tình của họ. Ta không ngạc nhiên khi thấy Thúy Vân ngủ li bì giữa cái đêm mà cô chị sắp phải xa cha mẹ và các em mà về với Mã Giám Sinh, rồi lại hỏi chị một câu ngớ ngẩn:

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây

Vì ở đầu truyện tác giả đã tả Thúy Vân là một người vô tư, gần như đần độn: mặt thì “khuôn trăng đầy đặn” mà tính tình thì “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”.

Trái lại trong tiểu thuyết hồi tiền chiến của Lê Văn Trương ta thấy đầy những mâu thuẫn về tâm lý; nhân vật nào cũng có những cử chỉ lố lăng chỉ làm cho ta nực cười chứ không cảm động.

c) Về phép bố cục trong tiểu thuyết

Có hai lối:

- Một lối mà hầu hết các tiểu thuyết gia Pháp đều theo là giữ tính cách nhất trí cho truyện. Fénelon nói: “Chỉ khi nào người ta không thể bỏ một đoạn trong một tác phẩm mà không phạm tới phần cốt yếu của nó thì tác phẩm đó mới thật là có tính cách nhất trí”.

Các tiểu thuyết gia của ta hiện nay chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp, cũng theo cách ấy: mỗi chi tiết trong truyện phải có một sứ mạng riêng, phải giúp ta hiểu thêm tính tình nhân vật hoặc dắt ta tới gần đoạn kết một chút, phải như một tia sáng chiếu qua một cái kính rồi tụ lại ở một điểm, điểm ấy là kết cục của truyện hoặc tư tưởng, luận đề mà tác giả muốn bênh vực[1].

- Lối thứ nhì cho rằng mỗi tiểu thuyết có thể có nhiều phương diện. Các tiểu thuyết gia Anh theo cách ấy và bị người Pháp chê là không biết dựng cốt truyện.

Forster, tác giả cuốn A passage to India (Một con đường sang Ấn Độ), đáp: Chúng tôi cũng biết dựng cốt truyện, nhưng chúng tôi muốn cốt truyện phải phức tạp. Đời sống không bình dị, xuôi theo một chiều mà rắc rối, có muôn mặt. Một nghệ phẩm càng vẽ được sự phức tạp ấy thì càng có giá trị. Tất nhiên các chi tiết vẫn phải theo một trật tự nào đó mới cảm động được người đọc”. Vì vậy tiểu thuyết Anh như một con đường mòn uốn khúc qua những cánh đồng, những bãi cỏ, tới một đích mơ hồ, có khi ngừng lại ở một bờ sông, không có đích nào hết.

Hai quan niệm ấy thực trái nhau. Người nào quen đọc tiểu thuyết Pháp mà đọc tiểu thuyết Anh, Mỹ có thể dễ chán, nhưng lâu rồi cũng thấy cái thú vị riêng của nó.

Đầu thế kỷ xuất hiện một thể mới, thể tiểu thuyết tràng giang hàng 20-30 cuốn tả cả một thời đại, có khi 2-3 thế hệ liên tiếp, như bộ Les hommes de volonté của Jules Romains, bộ Les Thibault của Roger Martin du Gard.

Có nhiều cách cấu tạo những tiểu thuyết ấy. Có cách của Balzac là viết một loạt tiểu thuyết, mỗi truyện có một kết cục riêng, nhưng toàn bộ có một tính cách chung là tả một xã hội nào đó trong một thời đại nào đó.

Có cách của Zola là cũng soạn một loạt tiểu thuyết mà nhân vật chính trong các truyện đều là người trong một dòng họ. Ông dùng cách ấy để chứng minh - một cách ngây thơ - những luật về di truyền.

Có cách của Proust và Romain Rolland là tả một nhân vật chính trong một đám rất đông nhân vật phụ và phức tạp giữa những hoàn cảnh rất thay đổi. Cách này khó thực hành vì phải cho nhân vật chính đó sống một đời cực dồi dào, trôi nổi; do đó truyện nhiều khi không tự nhiên.

Sau cùng là cách của Jules Romains. Ông không tập hợp các nhân vật lại để tạo thành một hình ảnh của xã hội mà định trước hình ảnh một xã hội rồi cho các nhân vật hoạt động trong đó; thành thử nhân vật chính trong tiểu thuyết tràng giang của ông không phải là một người mà là một thời đại. Ông tả những châu thành, những miền mênh mông, những sự biến trong lịch sử rồi những nhân vật của ông hiện lên trên bức họa đó như “những ngôi sao sa” hiện trên nền trời; nhân vật này không liên lạc gì tới nhân vật khác, có khi cùng tiến về một đích, cùng bị một trào lưu lôi cuốn mà không hề biết nhau; có khi hoạt động trong một thời gian ngắn rồi biến mất, không biết đi đâu, chẳng lưu lại một ảnh hưởng gì về sau cả, y như trong đời sống hàng ngày vậy.

d) Bất kỳ trong một tình thế xã hội nào

Bất kỳ trong một tình thế xã hội nào, nhất là trong tình thế xã hội hiện tại, tiểu thuyết gia cũng có trách nhiệm với quốc gia, xã hội và nhân loại.

Nếu họ không giúp loài người tiến, hiểu nhau nhiều hơn, yêu nhau hơn, công bình với nhau hơn... thì ít nhất họ cũng không được giảm giá trị, làm trụy lạc con người.

A. Souché viết: “Có những cuốn sách làm tàn tuổi xuân, làm nhơ nhớp óc tưởng tượng của đàn ông và đàn bà, già và trẻ, diệt sự tự trọng của ta (...)”. Chỉ những người tâm hồn rất trong sạch đọc những cuốn đó mới không có hại, nhưng chính những người ấy lại không thích đọc nó vì chẳng thấy lợi gì cả.

Chú thích

  1. Tiểu thuyết Pháp và Việt còn tính cách nầy nữa là giống một vở kịch cổ điển: truyện thường không bắt đầu từ hồi nhỏ của nhân vật mà từ lúc xảy ra một việc gì quan trọng trong đời nhân vật ấy. Chẳng hạn tiểu thuyết “Nửa chừng xuân” bắt đầu từ lúc Mai và Lộc gặp nhau.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tự học - Một nhu cầu của thời đại
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nguồn: Bản scan do Townguyen cung cấp (e-thuvien.com)
  • Đánh máy: Trieuthoa
  • Tạo eBook lần đầu và tạo lại: Goldfish (10-06-2013)
"Like" us to know more!