Cách đọc thơ

7. Cách đọc thơ

a) Đọc thơ hay ngâm thơ?

Các cụ hồi xưa ưa ngâm nga, gặp đoạn văn nào cũng bình lên lớn tiếng. Sáng dậy uống một chén trà rồi ngâm một bài thơ, đó là phép dưỡng sinh của cổ nhân, cũng như bây giờ ta nhảy khỏi giường, uống một ly nước lạnh rồi thâm hô hấp vậy.

Chúng ta khác các cụ, thường đọc thầm. Các cụ có lý mà chúng ta cũng có lý. Văn thơ hồi xưa đều theo luật bằng trắc; bài nào ngâm không được thì không phải là văn, nên muốn xét văn thì phải bình. Bình là một lối đọc chầm chậm, xuống trầm và ngân dài để vừa thưởng thức nhạc điệu vừa có thì giờ suy nghĩ về ý trong câu.

Chúng ta bây giờ không trọng luật bằng trắc bằng hồi xưa, nên không cần bình mà đọc thầm để dễ chú ý đến tư tưởng của tác giả.

Tuy nhiên tôi tưởng khi đọc những đoạn du dương và hùng hồn, nhất là khi đọc thơ, thì nên đọc lớn tiếng hoặc ngâm nga để thưởng thức hết cái hay của nhạc trong văn.

Một anh bạn bảo tôi ngâm thơ có cái hại là một bài thơ dở, khéo ngâm cũng thành hay; do đó ta khó xét được thơ.

Lời đó sai. Đọc thơ sao lại lẫn lộn ý với nhạc như vậy được? Nhạc du dương tới mấy mà ý sáo, rỗng thì ta vẫn thấy là hạ phẩm đấy chứ? Còn bảo một bài thơ thiếu nhạc mà ngâm lên vẫn êm đềm thì tôi không tin. Một câu thơ mắc lỗi khổ độc chẳng hạn, đố bạn ngâm lên làm sao cho như rót vào tai được.

Chẳng hạn câu này:

Mặc tình thương ghét đem trồng xới,

Sự sống buộc lòng phải lấn chen.

(Cang Trực)

Bạn ngâm lên, có thấy gì không? Có thấy tiếng buộc hơi như nghẹn lại không? Lỗi chính ở tiếng đó. Nó đáng phải bằng mà là trắc, nên khó đọc.

Rồi tới 2 câu này của Đoàn Thị Điểm:

Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi,

Gieo bói tiền tin dở còn ngờ .

thì khỏi cần phân tích gì cả, cứ ngâm lên cũng thấy câu trên du dương hơn câu dưới. Câu dưới mắc lỗi tiếng thứ 3 và thứ 7 đều bình trầm[1].

Ngâm chẳng những giúp ta dễ biết được lỗi trong nhạc mà còn làm nổi bật chỗ khéo trong nhạc.

Gặp những bài như bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

Cô Tô thành ngoại Hàn san tự.

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

nếu không ngâm thì làm sao thưởng được hết cái âm điệu tuyệt diệu của nó?

J. Leiba đã mượn từ ý đến nhạc điệu của bài ấy để viết bốn câu sau này:

Thuyền dạo hồ Đông muôn dặm chơi.

Quạ kêu, trăng lặn nước mờ khơi.

Hàn san vẳng tiếng chuông chùa sớm,

Cây bến, đèn ngư não mộng người.

Vậy tôi chủ trương thơ, nhất là thơ Hoa và Việt, không phải để đọc mà để ngâm. Gặp một bài thơ, bao giờ tôi cũng ngâm nó lên một hai lần xem nó có gây cho tôi cảm tưởng gì không rồi mới phân tích ý trong đó. Tôi tìm hiểu nó bằng tai, bằng tim trước rồi bằng óc sau.

Mỗi người có một cách ngâm và mỗi bài thơ cũng có một lối ngâm thích hợp với nó. Lối ngâm bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư tất khác lối ngâm bài Người Mọi già của Tố Hữu. Giọng ngâm bài trên phải trầm trầm, ngân dài ở những tiếng thu, phu, phụ, khô; giọng ngâm bài dưới phải như nghẹn ngào, để tả nỗi uất hận, nỗi phẫn nộ của một kẻ bị cùm xích[2].

Thơ luật chỉ có một vài lối ngâm vì hầu hết nhạc bài nào cũng như nhau, cũng theo một luật bằng trắc nhất định. Đó là một sở đoản của thơ luật, nó làm cho ta lâu ngày hóa chán và phải tìm những nhạc điệu mới.

Tuy cùng một lối ngâm nhưng cũng phải thay đổi giọng cho hợp với ý trong bài: lúc nhấn vào tiếng này, lúc nhấn vào tiếng khác, lúc trầm lúc bổng.

Chẳng hạn hai câu:

Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Thì câu trên như thường, câu dưới nhấn vào 2 tiếng cau mặt.

Trong 2 câu:

Thương nữ bất tri vong quốc hận ,

Cách giang do xướng Hậu đình hoa.

của Đỗ Mục, những tiếng phải nhấn là “vong quốc hận”, “do xướng”.

Ngâm những loại thơ khác như lục bát, song thất lục bát cũng vậy. Phải làm cho nổi bật ý chua xót trong câu:

Chữ trinh còn có chút này,

Chẳng cầm cho vững lại vầy cho tan.

(Nguyễn Du)

Ý ảo não trong câu:

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

(Nguyễn Gia Thiều)

Ý uất hận trong câu:

Chém cha cái số hoa đào!

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!

Có nhiều cách hiểu một bài thơ thì cũng có nhiều cách ngâm, và cách hiểu đúng nhất là cách của tác giả nên theo lẽ, người ngâm phải chính là tác giả. Nhưng thi sĩ nhiều người có tài mà kém giọng, phải nhờ người khác ngâm hộ. Hồi xưa các cụ nhờ ả đào và gặp ả nào đủ thanh lẫn sắc, lại thông minh, hiểu nổi thơ, hiểu đúng ý của các cụ thì thật là trần gian không còn gì thú hơn; nhất là khi ả đó lại họa được thơ thì quả thật là nhà thơ như mọc cánh mà lên tiên. Một tri âm trong phái đẹp, đủ tài lẫn sắc, bạn thử tưởng tượng! Các cụ mê các cô Hồng, cô Tuyết cũng phải.

Chúng ta không hiểu hết thâm ý của thi nhân thì cũng cứ ngâm càn đi. Ai mà chẳng là thi sĩ? Đúng vậy, thưa bạn. Tôi cũng như bạn, không làm thơ, nhưng chúng ta đều là bạn của Tố Hữu, của Yên Đổ, của Xuân Diệu, của Thế Lữ vì lòng ta cũng một đôi khi “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”[3] và luôn luôn “ham vẻ Đẹp có muôn hình muôn thể”[4]. Vậy thì ta cứ để tâm hồn thi sĩ của ta lồng trong tâm hồn thi sĩ của tác giả, biết đâu chẳng giúp được câu thơ thêm ý nghĩa, thêm màu sắc, thêm linh động?

Người ta bảo “Đọc sách là hai người sáng tác chung”. Đọc sách thì có lẽ chưa đúng hẳn. Đọc thơ mới thật đúng. Tìm hiểu một bài thơ cũng là sáng tác đấy.

b) Xét một bài thơ

Đọc một bài thơ, ngoài nhạc điệu ra, ta phải xét cảnh và tình. Thơ có cảnh mà thiếu tình thì dù đẹp như bức tranh cũng là không hồn, thơ có tình mà thiếu cảnh thì tuy có hồn mà còn vụng.

Thơ của Anh Thơ và Bàng Bá Lân thường kém về tình nên cảm ta không mạnh:

Trời lơ cao vút không buông gió;

Đồng cỏ cào khô cánh lượt hồng.

Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa;

Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng.

(Trưa hè - Bàng Bá Lân)

Thực là như vẽ, hơn vẽ nữa, vì đủ cả màu sắc lẫn thanh âm, nhưng đọc xong, lòng tôi không rung động chút nào.

Bốn câu dưới đây quả là một bức tứ bình đối nhau từng cặp một mà chỉ được các nhà nho cho là trung phẩm vì thiếu tình:

Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu,

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.

Song hàm tây lĩnh thiên thu tuyết,

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

(Tuyệt cú - Đỗ Phủ)

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,

Một hàng nhạn trắng vút trời xanh.

Nghìn năm tuyết núi sông in sắc,

Vạn dặm thuyền Ngô bến rập rình .

(Tản Đà dịch)

Trái lại trong bài Phục sầu cũng của Đỗ Phủ, chỉ có tình mà không có cảnh:

Vạn quốc thượng nhung mã,

Cố viên kim nhược hà?

Tích quy tương thức thiểu,

Tảo dĩ chiến trường đa.

Binh nhung muôn nước nôn nao,

Quê hương biết đã ra sao đó rồi?

Xưa về quen biết mấy ai,

Hay đâu sớm đã hóa nơi chiến trường.

(Trần Trọng Kim dịch)

Thơ của Chế Lan Viên bài nào tình cũng lai láng, mà cảnh thường thiếu:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu;

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?

Với tôi tất cả như vô nghĩa,

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Phải đủ tình đủ cảnh thì mới đáng gọi là khéo. Bạn nào không nhớ bài “Vạn lý tình” của Huy Cận:

Người ở trên trời, ta ở đây;

Chờ mong phương nọ, ngóng phương này.

Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm,

Vạn lý sầu lên, núi tiếp mây.

Nắng đã xế về bên xứ bạn;

Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy.

Trông vời bốn phía không nguôi nhớ,

Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.

Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt,

Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày.

Chiếu khăn không ấm người nằm một,

Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay.

(Lửa Thiêng)

Bài “Tình xưa” của Quách Tấn cũng vào hạng hay:

Từ buổi thuyền đưa khách thuận dằm,

Trông chừng bến cũ biệt mù tăm...!

Cảm thương chiếc lá bay theo gió,

Riêng nhớ tình xưa ghé lại thăm .

Cảnh thì dễ thấy mà tình có khi khó nhận vì ẩn ở sau lời. Mới đọc ba bài về Thu của Nguyễn Khuyến, ta tưởng như thiếu tình mà kỳ thực cái tình khoáng dật của thi nhân man mác ở trong mỗi câu, mỗi chữ.

Bạn nghĩ sao, chứ riêng tôi, tôi nghĩ tình trong những vần sau này:

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương.

(Lý Bạch)

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Thôi Hộ)

mới thật là tình sâu sắc, kín đáo, hoàn toàn Á đông, không bồng bột, nhiệt liệt, ồn ào như tình trong thơ Huy Cận. Tôi không muốn Nàng Thơ lộ liễu quá, tôi chỉ yêu nàng khi nàng e lệ dưới chiếc nón bài thơ hoặc thướt tha dưới ánh trăng mờ.

c) Thơ phải hàm súc

Thơ - mà Văn cũng vậy - muốn tuyệt diệu thì phải hàm súc, phải “ý ngôn tại ngoại”. Tôi muốn đọc xong môt bài thơ rồi, còn có dư ba ở trong lòng, còn liên miên suy nghĩ, tưởng tượng, mơ mộng.

Một bạn tôi ăn xong bánh ngọt, không khi nào chịu uống nước ngay. Hỏi anh, anh đáp: “Các bác sĩ bảo như vậy sâu răng. Sâu thì sâu, uống nước ngay thì hết vị ngọt, thơm ở miệng lưỡi rồi, còn thú gì nữa?”

Thơ cũng như bánh ngọt, phải cho tôi cái dư vị đó tôi mới thích.

Hàm súc là lời ít mà ý nhiều như hai câu này của Xuân Diệu tả nỗi buồn vơ vẩn, vô cớ của thiếu nữ khi thu về:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói.

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?

Ba tiếng “nghĩ ngợi gì?” làm cho ta bâng khuâng tự hỏi: Tại sao khi thu về thì ai cũng buồn, chứ không riêng gì thiếu nữ? Cái buồn đó ra sao? Ta nhớ những gì khi tựa cửa như vậy? Tưởng tượng những cái gì? Mơ tưởng tới cái gi? Cảnh vật, thời tiết ảnh hưởng tới tâm hồn ta ra sao?...

Chỉ 3 tiếng mà gợi được bao nhiêu ý tưởng, nghĩa của nó thực bát ngát.

Đọc 2 câu của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Trời tối quê nhà đâu đó tá?

Khói tuôn sóng vỗ mối sầu gây)

Với hai câu của Bà Huyện Thanh Quan:

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường .

Bạn thích 2 câu trên hay 2 câu dưới? Tôi thích 2 câu trên mà xét kỹ thì ý hai nhà đó như nhau: đều là hoài cổ. Thôi Hiệu hạ chữ sầu, Thanh Quan hạ hai chữ đoạn trường mà lời Thôi Hiệu hóa hàm súc hơn nhiều, vì chữ sầu nghĩa mơ hồ, để ta tưởng tượng, suy nghĩ thêm, không thực thà như hai chữ đoạn trường. “Sử nhân sầu”, sầu ra sao? Ta không biết. Ta muốn cho nó ra sao thì cho. Còn đoạn trường tức là sầu đứt ruột, sầu đến cực độ rồi, không còn tưởng tượng thêm gì được nữa.

Cái mờ mờ, mông lung như mỹ nhân dưới hoa, như cánh buồm trong sương ấy chính là cái đẹp của thơ.

Tả lúc ly biệt một chốn đã ở lâu năm, mà tuyệt nhiên không nói đến bạn bè, thân thích, chỉ hạ hai câu:

Hoàng oanh trụ cửu hồn tương thức,

Dục biệt tần đề tứ ngũ thanh.

(Nhung Dục)

(Ở mãi, oanh vàng quen biết lắm,

Gần đi, hót vội bốn năm thanh)

(Phương Sơn dịch)

thì thực là man mác, làm cho ta đoán được tâm hồn cùng đời sống của thi nhân ở nơi đó.

Thơ Việt thì có lẽ hàm súc nhất là thơ của Hồ Xuân Hương, như 2 câu dưới đây thì ai cũng nhận là tuyệt:

Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu!

d) Đọc thơ bằng tim chứ đừng đọc bằng óc

Những người giỏi toán thường ít thích thơ vì họ xét thơ bằng óc, dùng phép lý luận để phân tích thơ và như vậy không sao hiểu được thơ. Về môn toán, hai với hai là bốn. Trong thơ thì hai với hai có khi lại là năm, là sáu. Thơ không cần chứng minh rằng a cộng với b thành c. Thơ chỉ cần cảm lòng người, cho nên bố cục không quan trọng bằng trong văn xuôi. Đã đành một bài thơ mà phá, thừa, thực, luận, kết đúng phép thì là khéo rồi đấy, song cũng có những bài ý tưởng như rời rạc mà vẫn làm ta say mê như bài Xuân Giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư[5].Có người giảng bài thơ đó mà cố nhân tích ra từng đoạn, từng ý. Tôi tưởng như vậy vô ích. Sao không để cho tâm hồn cảm cái đẹp của trăng, nước, tả trong những vần thơ lóng lánh, du dương ấy? Có những bài càng phân tích càng mất hay:

Ai đi phân tích mùi hương

Hay bản cầm ca.... [6]

mà thơ nhiều khi tế nhị hơn cả hương lan, tiếng địch.

Những thi sĩ dùng thể thơ buông, bảo “thi ca không cần hợp lý, rành mạch như trong toán học, vì sự hợp lý ấy chỉ làm tan mất nguồn thơ đang dào dạt trong lòng”. Họ không phải là hoàn toàn vô lý.

Chú thích

  1. Xin coi thêm chương Nhạc trong văn trong cuốn Luyện văn của tác giả.
  2. Sợ nhiều độc giả không có sẵn hai bài đó, nên tôi chép lại dưới đây để các bạn tiện so sánh.
    Tiếng thu
    Em không nghe mùa thu
    Dưới trăng mờ thổn thức?
    Em không nghe rạo rực,
    Hình ảnh kẻ chinh phu
    Trong lòng người cô phụ?
    Em không nghe rừng thu
    Lá thu kêu xào xạc,
    Con nai vàng ngơ ngác
    Đạp trên lá vàng khô?
    (Những áng thơ hay)
    Người Mọi già
    Tôi bỗng thấy lòa lên trong bóng tối
    Lửa thù anh với ánh sáng chiều đông,
    Đôi vành môi thành một lưỡi dao cong,
    Anh mím chặt đôi hàm răng lẩm bẩm:
    - Đau cái bụng! Úi chui cha, tức lắm!
    Và hồi lâu, bên ngưỡng cửa song tù,
    Tôi còn nghe tiếng nói của Châu Ro:
    - Đau cái bụng! Úi chui cha, tức lắm!
  3. Xuân Diệu
  4. Thế Lữ
  5. Coi bài dịch rất khéo của Trần Trọng Kim trong cuốn Đường Thi (Tân Việt).
  6. Xuân Diệu

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Tự học - Một nhu cầu của thời đại
  • Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
  • Nguồn: Bản scan do Townguyen cung cấp (e-thuvien.com)
  • Đánh máy: Trieuthoa
  • Tạo eBook lần đầu và tạo lại: Goldfish (10-06-2013)
"Like" us to know more!