Các vị Thần và Phật

Các vị Thần và Phật

Ở phần trên chúng tôi đã đưa ra những lý luận mang tính tôn giáo nhằm đặt cơ sở cho luân lý về nghề nghiệp của con người trần tục. Tuy nhiên, tín ngưỡng của người bình dân cận thế thì không phải chỉ quy tụở những lý luận như vậy. Rất nhiều trường hợp các vị Thần, Phật được tôn sùng bởi sự linh nghiệm. Những vị Thần, vị Phật mang lại nhiều lợi ích trần thế như là Thất phúc thần (Shichifukujin)(126) đã được sùng bái một cách rộng rãi. Những tín ngưỡng này đã được phổ biến nhờ những đạo sĩ của phái Tu nghiệm và Âm dương. Hơn nữa, như người ta vẫn gọi là Lưu hành thần (Rūkōshin), có những vị thần, Phật đột nhiên được đồn thổi và sùng bái một cách cuồng nhiệt, nhưng sau đó lại bị lãng quên.

Cũng có những trường hợp được người ta tin như một vị thần sống. Chẳng hạn như nhân vật Otake Dainichi là người vốn từ vùng quê Dewa (Xuất Vũ)(127) ra làm thuê cho một gia đình thương nhân ở Edo, nhưng nhờ một đạo sĩ Tu nghiệm ở Haguro (Vũ Hắc) mà được sùng bái như là hóa thân của Phật Như Lai Đại Nhật. Cũng có trường hợp một người dân thường không có vẻ gì đặc biệt lại đột nhiên được sùng bái như là hóa thân của Phật và bùng phát như một làn sóng lan truyền rộng rãi. Hơn nữa, có cả tín ngưỡng thờ những người dân sống có nghĩa khí như nhân vật Sakura Sōgorō. Ông đã vì những người dân thường đang lao đao bởi sưu cao thuế nặng mà cả gan trực tiếp tố cáo lên Tướng quân. Sau đó, ông đã được thờ như một vị thần.

Những vị Thần, Phật này đã được phát triển do sự tuyên truyền khéo léo và đáp ứng được đúng ước vọng của người bình dân. Hơn nữa, tín ngưỡng của người bình dân thời đó còn có nhiều hình thức khác nhau như Tuần lễ (Junrei, tạm dịch là Hành hương -ND) hay Xuất khai trướng (De Kaichō)(128). Trong đó lễ hành hương Okage Mairi(129) đến Ise được tổ chức với quy mô lớn vào các năm Hōei (Bảo Vĩnh) thứ 2 (1705), năm Meiwa (Minh Hòa) thứ 8 (1771), năm Bunsei (Văn Chính) thứ 13 (1830), nghĩa là cứ khoảng 60 năm mới tổ chức một lần. Người ta cho rằng, năm Meiwa đã có 2 triệu người và năm Bunsei đã có 5 triệu người hành hương. Người ta còn ghi nhận lại tình trạng cuồng nhiệt bất thường như có trường hợp không xin phép chủ, bỏ trốn để đi hành hương hoặc nhảy múa điên cuồng khivào hội. Vào năm Keichō thứ 3 (1867), từ việc thấy thẻ bùa nhất loạt rơi lả tảở các đền thờ mà đặc biệt là Thần cung Ise mà người ta tưng bừng nhảy múa hát vang “Ee janaika” (tạm dịch là “Thật là hay”), gây nên một hiện tượng đáng chú ý về tôn giáo của người bình dân trong cảnh hỗn loạn cuối thời Mạc phủ Tokugawa.

Từ trong bối cảnh đó chúng ta cũng có thể thấy xuất hiện những phong trào tôn giáo để hình thành nên những giáo đoàn. Jikigyō Miroku (Thực Hành Thân Lộc, 1671-1733) xuất hiện từđoàn Fuji-kō (Phú Sĩ Giảng) được xây dựng dựa trên tín ngưỡng về núi Fuji (Phú Sĩ) đã tin tưởng vào sự quay trở lại và đem lại cuộc sống ấm no cho chúng sinh của Phật Di Lặc mà tuyệt thực và nhập định trên núi Fuji. Từ đó tín ngưỡng đối với núi Fuji đã lan rộng mà trung tâm chính là Edo. Trong tình hình tín ngưỡng của người thường dân nở rộ, vào cuối thời Mạc phủ Tokugawa nhiều phong trào tôn giáo mới như Nakayama với Thiên lý giáo (Tenri-kyō) đã xuất hiện (Xin tham khảo thêm ở Chương 11).

Tín ngưỡng của dân chúng thời cận thếđã phát triển đa dạng như vậy. Có thể nói, sang thời cận thế tôn giáo không những không suy thoái mà còn ngày càng nở rộ. Đặc biệt, thương nhân và các hào nông đã từ trong tầng lớp người bình dân mà đứng lên đi tìm một lối sống riêng mang tính chủ thể. Xu hướng này đã kết tụ trong các tôn giáo mới và khác hẳn với tôn giáo thời trung thế, tức những tôn giáo được những nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp đem đến. Kết quả của thế tục hóa trước hết đã dẫn đến sự trưởng thành của lớp người mới trong tôn giáo như vậy.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Lịch sử tôn giáo Nhật Bản
  • Tác giả: Sueki Fumihiko
  • Bản quyền tiếng Việt: Công ty sách Alpha
  • Biên tập viên: Đào Quế Anh (Alpha Books)
  • Nguồn: caphebuoitoi
"Like" us to know more!