Các phong cách triết học

Các phong cách triết học

Có ít nhất năm cách trình bày phương pháp triết học được các nhà triết học vĩ đại của phương Tây sử dụng. Sinh viên hay độc giả đọc triết học cổ nên phân biệt những ưu điểm và nhược điểm của từng loại.

1. Hội thoại triết học

Đây là phương thức trình bày triết học đầu tiên tính theo thời gian (không phải theo tính hiệu quả) và được Plato dùng trong tác phẩm Dialogues (Những cuộc hội thoại). Văn phong được dùng ở đây là đối thoại, thảo luận một đề tài giữa một số người với Socrates (sau đó là với một diễn giả ở Athen). Sau một hồi thăm dò, Socrates đưa ra một loạt câu hỏi và nhận xét làm sáng tỏ vấn đề. Dưới bản tay bậc thầy của Plato, văn phong này giúp phát triển sự tìm tòi, giúp người đọc tự mình khám phá. Khi được hỗ trợ bởi tính cao trào, kịch tính trong câu chuyện của Socrates, văn phong này càng trở nên hiệu quả.

Không ai có thể làm như Platon. Các nhà triết học khác như Cicero và Berkeley cũng đã cố gắng dùng đối thoại nhưng không mấy thành công. Những đoạn đối thoại của họ cứ đều đều, buồn tẻ và hầu như không thể đọc được. Sự vĩ đại của Plato chính là ở chỗ ông viết được những mẩu đối thoại mang tính triết học mà vẫn có sự hài hước, hấp dẫn và chiều sâu có thể sánh ngang với bất kỳ cuốn sách nào về bất cứ đề tài nào của bất cứ ai.

2. Chuyên luận mang tính triết học

Aristotle là học trò giỏi nhất của Plato. Ông đã học thầy mình trong suốt 20 năm. Người ta cho rằng ông cũng đã viết những mẩu đối thoại nhưng không có cái nào tồn tại được lâu. Những gì trường tồn lại là những chuyên luận rất khó về một số chủ đề khác nhau. Aristotle là người luôn suy nghĩ rạch ròi, nhưng mức độ khó trong các tác phẩm còn tồn tại của ông khiến các học giả cho rằng chúng chính là những ghi chú cho các bài diễn thuyết, sách, hoặc là những ghi chú của chính Aristotle hay của một sinh viên nào đó ghi lại những lời dạy của thầy mình. Có thể chúng ta không bao giờ biết được sự thật, nhưng dù sao những chuyên luận của Aristotle vẫn là một kiểu văn phong mới trong triết học.

Những vấn đề Aristotle bàn đến trong các chuyên luận và những cách hành văn khác nhau mà ông dùng để trình bày những phát hiện của mình đã giúp tạo nên một số chuyên ngành và cách tiếp cận môn triết học ở những thế kỷ tiếp theo. Trong các chuyên luận đó, có những tác phẩm được cho là thông dụng và đa số chúng là các đoạn đối thoại. Sau đó là các bộ sưu tập tư liệu với tác phẩm chính mà chúng ta biết là bộ sưu tập 158 hiến pháp của các bang thuộc Hy Lạp cổ. Cuối cùng là những bài luận chính, hoàn toàn mang tính triết học lý thuyết hay quy phạm về vật lý, siêu vật lý, đạo đức, chính trị và thi ca. Một số tác phẩm khác như cuốn On the Soul (Nói về linh hồn) là sự pha trộn giữa lý thuyết triết học và khám phá khoa học đầu tiên. Ngoài ra còn một số bài luận về sinh học, chủ yếu là các tác phẩm khoa học về lịch sử tự nhiên.

Immanuel Kant, đã đi theo phương thức của Aristotle mặc dù về phương diện triết học ông chịu ảnh hưởng của Plato nhiều hơn. Những bài luận của ông là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, không giống như Aristotle. Các tác phẩm của ông trước tiên nêu lên vấn đề chính, đi sâu vào vấn đề một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc, sau đó mới bàn đến các vấn đề đặc biệt. Có thể nói, sự rõ ràng của Kant và Aistotle nằm ở trật tự bố cục mà họ đưa vào một đề tài bao gồm phần mở đầu, thân bài và kết luận. Về phương diện nào đó, văn phong của bài luận cũng giống văn phong của đoạn hội thoại. Nhưng yếu tố kịch bị mất đi trong những bài luận của Kant hay Aristotle. Họ trình bày thẳng thắn về các quan điểm triết học chứ không đưa ra các mâu thuẫn về ý kiến hay giả thuyết như của Platon.

3. Trả lời những phản đối

Văn phong mang tính triết học phát triển vào thời Trung cổ và được thể hiện rõ trong tác phẩm Summa Theologica(Thần học Summa) của Thánh Thomas Aquinas. Văn phong của Aquinas cũng có những điểm tương đồng với hai kiểu trên. Như đã nói, Plato nêu lên những vấn đề triết học trường tồn; Socrates thông qua các mẩu đối thoại đã nêu lên những câu hỏi tuy đơn giản nhưng sâu sắc như trẻ em thường hỏi; Aristotle thì nhìn nhận những phản đối của các nhà triết học khác và trả lời họ.

Văn phong của Aquinas là sự kết hợp giữa việc đặt câu hỏi và trả lời những phản đối. Tác phẩm Thần học Summa được chia làm nhiều phần, nhiều bài luận, các câu hỏi và các bài viết. Hình thức các bài viết đều giống nhau: nêu lên các câu hỏi, đưa ra các câu trả lời sai; viện dẫn những lý lẽ để ủng hộ câu trả lời sai; sau đó có một bài viết đáng tin cậy phản lại những lý lẽ đó (thường là một bài từ Kinh Thánh). Cuối cùng, Aquinas đưa ra câu trả lời hay giải pháp của riêng ông. Sau khi nêu ra quan điểm của mình về vấn đề đó, ông trả lời đáp lại mỗi lý lẽ sai của câu trả lời sai.

Sự khúc triết và trật tự của văn phong này được những người có tư duy rõ ràng ưa thích, nhưng đó không phải là nét quan trọng nhất trong cách tranh luận của Thomas Aquinas. Chính sự nhìn nhận công khai những mâu thuẫn, việc ghi lại những quan điểm khác nhau và nỗ lực đưa ra những giải pháp cho mọi vấn đề có thể xảy ra mới là nét nổi bật của Aquinas. Việc cho rằng sự thật sẽ mở ra qua những chống đối và xung đột là một cách nghĩ khá thông dụng thời Trung cổ. Các nhà triết học thời Aquinas chấp nhận như lẽ đương nhiên rằng họ cần sẵn sàng bảo vệ chính kiến của mình trong những cuộc tranh luận công khai khi có rất nhiều sinh viên và những người quan tâm tham dự. Nền văn minh Trung cổ chủ yếu dựa trên văn nói vì sách thời đó rất hiếm và khó tìm. Một giả thuyết không thể được xem là đúng nếu nó không chịu được thử thách của các cuộc tranh luận công khai. Như Sorattes nói: “Nhà triết học không suy nghĩ đơn độc mà phải đối diện với các đối thủ trên một thị trường trí tuệ”. Vì thế, tác phẩm Thần học Summa thấm đẫm tinh thần tranh luận và bàn bạc.

4. Hệ thống hóa triết học

Vào thế kỷ XVII, một kiểu trình bày khác của triết học ra đời nhờ công của hai nhà triết học nổi tiếng là Descartes và Spinoza. Họ đã cố gắng tổ chức triết học giống như cách họ làm với toán học.

Descartes là một nhà toán học vĩ đại và cũng là một nhà triết học đáng kính. Những gì ông đã gắng sức cơ bản là khoác lên triết học “bộ áo quần” của toán học, đem lại cho nó sự chắc chắn và cấu trúc chính thống như Euclid đã làm với hình học trước đó 2.000 năm. Descartes không hoàn toàn thất bại. Xét về một số phương diện, yêu cầu của ông về sự rõ ràng và phân biệt rạch ròi trong suy nghĩ là chính đáng trong bầu không khí hỗn loạn của các ý tưởng thời bấy giờ. Ông cũng viết những bài luận về triết học mang hơi hướng truyền thống gồm một loạt câu trả lời cho những lý lẽ phản đối quan điểm của ông.

Spinoza đưa khái niệm này đi xa thêm một bước nữa. Tác phẩm Ethics (Đạo đức) của ông được viết theo kiểu hoàn toàn toán học với những định đề, chứng minh, hệ quả, bổ đề, chú giải... Tuy nhiên, phong cách này không thể giải quyết ổn thỏa chủ đề về siêu vật lý và đạo đức. Nó có thể phù hợp với các chủ đề hình học và toán học nhưng lại không phù hợp với các chủ đề về triết học. Dấu hiệu của phong cách này là khi bạn đọc các tác phẩm của Spinoza, bạn có thể bỏ qua rất nhiều giống như cách bạn đọc tác phẩm của Newton. Bạn không thể nhảy cóc khi đọc các tác phẩm của Kant và Aristotle vì tư duy nối tiếp liên tục. Bạn cũng không thể nhảy cóc khi đọc tác phẩm của Plato giống như đọc một vở kịch hay một bài thơ.

Có lẽ không có quy tắc tu từ tuyệt đối nào. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra vẫn là liệu có thể viết một tác phẩm triết học hay theo kiểu toán học như Spinoza từng làm hay viết một công trình khoa học theo kiểu đối thoại như Galileo đã cố thử không? Sự thật cho thấy, về phương diện nào đó, cả hai người đều đã thất bại trong việc truyền đạt những gì họ muốn truyền đạt và dường như chính hình thức họ chọn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại.

5. Văn phong cách ngôn

Văn phong cách ngôn cũng là một kiểu trình bày triết học đáng chú ý, mặc dù nó không quan trọng như những hình thức kia. Nó được Nietzsche và một số nhà triết học người Pháp hiện đại khác dùng trong các tác phẩm như Thus Spake Zarathustran (Zarathustra đã nói thế). Nguyên nhân làm cho văn phong này trở nên phổ biến trong thế kỷ qua có lẽ do các độc giả phương Tây tỏ ra đặc biệt thích thú các tác phẩm nói về sự thông thái của phương Đông được viết theo kiểu cách ngôn. Cũng có thể, văn phong này được ưa thích nhờ tác phẩm Pensees của Pascal (tất nhiên, Pascal không hề có ý định để tác phẩm của mình trở thành những câu nói ngắn và bí hiểm. Ông đã qua đời trước khi hoàn thành cuốn sách theo kiểu viết luận).

Ưu điểm lớn của hình thức cách ngôn trong triết học là nó khiến người đọc phải suy nghĩ. Người đọc có cảm giác tác giả muốn nói nhiều hơn những gì được viết ra vì họ phải suy nghĩ rất nhiều và liên kết các câu, dựng nên những lý lẽ để đưa ra lý luận của riêng mình. Tuy nhiên, đây đồng thời cũng là điểm bất lợi của văn phong này vì nó không hề mang tính trình bày. Tác giả đề cập đến một đề tài rồi chuyển ngay sang một đề tài khác mà không biện hộ cho những gì mình đã nói. Vì thế, cho dù văn phong cách ngôn được những người yêu thích thi ca ngưỡng mộ nhưng lại làm bực mình những nhà triết học nghiêm túc vốn muốn theo dõi và phê bình dòng suy tưởng của tác giả.

Trong năm hình thức trên, có lẽ phổ biến nhất từ trước đến nay là kiểu viết theo kiểu chuyên luận hay bài luận. Các tác phẩm viết theo kiểu này có thể là các công trình có tính trang trọng và khó đọc như các tác phẩm của Kant hay các bài luận triết học thông thường. Văn phong hội thoại rất khó viết, còn văn phong hình học thì vừa khó viết lại vừa khó đọc. Theo quan điểm triết học, văn phong cách ngôn hoàn toàn không phù hợp. Còn văn phong theo kiểu của Thomas không được sử dụng nhiều trong thời gian gần đây.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Đọc sách như một nghệ thuật
  • Nguyên tác: How to read a book
  • Tác giả: Mortimer J. Adler, Charles Van Doren
  • Dịch giả: Hải Nhi
  • Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2008
"Like" us to know more!