Các nước Châu Âu giữa thế kỷ XIX

C. Các nước Châu Âu giữa thế kỷ XIX

I - Phong trào cách mạng 1848-1849 ở đế quốc phong kiến Áo

1. Cuộc cách mạng ở Viên

Đến giữa thế kỷ XIX, đế quốc Áo vẫn ở trong tình trạng lạc hậu dưới sự thống trị của triều đại phong kiến Hapxbua. Đế quốc Áo là “nhà tù của các dân tộc” bao gồm nhiều đất đai vùng Trung Âu như một phần Đức, Bôhêm, Hunggari, miền Bắc Ý... Trong đó các dân tộc Xlavơ, Xécbi, Crôat, Ý... đều chịu sự nô dịch của phong kiến Áo. Quan hệ phong kiến thối nát đã kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Năm 1828, con đường sắt đầu tiên được xây dựng và đến 12 năm sau mới dài 144km, trung bình mỗi năm tăng có 12 km (Anh: 90km, Pháp: 42km, Phổ: 30km). Chế độ nông nô vẫn tồn tại. Bôhêm, là nơi tương đối phát triển nhất, có tới 1.300 công xưởng. Riêng ngành dệt ở Bôhêm đã có quy mô lớn bằng một phần ba toàn đế quốc, sử dụng tới 15 vạn công nhân. Chính ở đây đã từng nổ ra những cuộc đấu tranh của công nhân hồi năm 1844 nhưng đều bị thất bại.

Tin tức về cuộc cách mạng tháng Hai năm 1848 ở Pari đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh đang âm ỉ nhiều năm ở đế quốc Áo. Cuộc biểu tình cách mạng đầu tiên nổ ra ở Praha ngày 8-3 và tiếp theo đó, ngày 13-3, làn sóng cách mạng tràn về Viên, thành trì của chế độ quân chủ Áo. Các chiến lũy mọc trên đường phố, nhân dân bao vây cung điện nhà vua, đội quân vệ quốc tư sản được thành lập. Bộ trưởng ngoại giao Mettecnich cầm đầu chính phủ Áo bị cách chức, phải trốn ra nước ngoài.

Trước áp lực của quần chúng, nhà vua phải lập một nội các gồm các nhân vật thuộc phái tư sản tự do. Tháng 4, hiến pháp được công bố, quy định chế độ hai viện nhưng tước quyền bầu cử của công nhân. Điều đó gây ra bất mãn trong quần chúng, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang của công nhân, thợ thủ công, sinh viên xảy ra trên đường phố suốt nửa sau tháng 5. Giai cấp tư sản buộc phải thừa nhận quyền bầu cử của công nhân và tuyên bố phế bỏ thượng nghị viện. Nhưng chính phủ và nghị viện tư sản tự do không chịu tiếp tục giải quyết những yêu sách của quần chúng, đặc biệt là vấn đề ruộng đất.

Cuộc khởi nghĩa tháng Sáu ở Pari làm cho tình hình cách mạng ở Viên chuyển sang giai đoạn mới. Sợ hãi trước sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và phong trào cách mạng của quần chúng, chính phủ liên kết với thế lực phản động do vua Phécđinăng I cầm đầu công khai đối lập với nhân dân. Tháng 8, chính phủ công bố sắc lệnh hạ lương công nhân, gây ra nhiều vụ khiêu khích và điều quân đội đến đàn áp những cuộc biểu tình của quần chúng.

Tháng 10, chính phủ cử quân đội đi đàn áp cách mạng Hunggari. Các đơn vị quân đội chống lệnh đó, cùng nhân dân kết nghĩa anh em, kêu gọi khởi nghĩa chống chính phủ phản động. Hơn 7 vạn quân tinh nhuệ ở các nơi được điều về đàn áp cách mạng ở Viên. Cuộc chiến đấu diễn ra khắp thành phố. Công nhân, thợ thủ công, sinh viên, và các lực lượng dân chủ tự trang bị bằng những vũ khí mới chiếm được đã chống cự mãnh liệt. Đến cuối tháng, viên tướng khát máu Vindixgraet hạ lệnh bắn phá thành phố và cho quân tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Các chiến sĩ nghĩa quân anh dũng đánh trả, bảo vệ từng ngôi nhà, từng ụ đất. Nhưng đến ngày 1-11, cuộc khởi nghĩa Viên hoàn toàn bị dập tắt.

Sau khi dập tắt được cuộc khởi nghĩa tháng 10 ở Viên, thế lực phản động tăng cường hoạt động nhằm bóp chết cách mạng. Phrăngxoa Giôdep 1 lên ngôi vua ngày 2-12-1848, công khai tuyên bố khôi phục “sự thống nhất của đế quốc Áo”, có nghĩa là đàn áp phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức. Đêm 7 tháng 3 năm 1849, chúng làm đảo chính phản cách mạng, giải tán nghị viện, tập trung quyền hành vào tay nhà vua, ban hành hiến pháp mới chỉ có lợi cho tầng lớp trên, duy trì quyền thống trị của triều đại Hapxbua đối với các dân tộc. Như vậy, cuộc cách mạng 1848 không hoàn thành được nhiệm vụ lật đổ chế độ quân chủ và giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của nhà nước Áo.

2. Phong trào giải phóng dân tộc ở Tiệp

Vấn đề đặt ra đối với cuộc cách mạng ở Tiệp là giải phóng các dân tộc Xlavơ khỏi ách thống trị của đế quốc Áo. Ngay từ năm 1820, ở Bôhêm đã có phong trào đòi phát triển văn hóa dân tộc, xây dựng nhà trường dân tộc và muốn thống nhất tất cả các dân tộc Xlavơ.

Trong cao trào cách mạng chung của châu Âu, ngày 11 tháng 3 năm 1848, quần chúng Praha họp mít tinh đòi lập Viện lập pháp ở Tiệp, Môravi..., đòi quyền bình đẳng giữa tiếng Tiệp với tiếng Đức, đòi tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí. Những phần tử cấp tiến còn đưa ra yêu cầu thủ tiêu chế độ phong kiến. Những cuộc đấu tranh diễn ra sôi nổi tại các trung tâm công nghiệp: Praha, Môravi, Brơnô... Ở nông thôn, nông dân nổi dậy chống quý tộc địa chủ, đòi chính phủ ra sắc lệnh thủ tiêu các nghĩa vụ phong kiến.

Trước phong trào ngày càng mạnh mẽ của quần chúng, giai cấp tư sản tự do Tiệp triệu tập đại hội Xlavơ. Ngày 2-6-1848, đại hội khai mạc ở Praha bao gồm các đại biểu của người Seccơ, người Xlôvacơ, người Ba Lan, người Ucraina, người Xécbi... Chiếm ưu thế trong đại hội là quý tộc và tư sản tự do đối lập với quần chúng, thù ghét cách mạng và gắn bó với triều đại Hápxbua, chủ trương biến nước Áo thành một liên bang các dân tộc. Nhưng đại hội phải ngừng lại vì cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng nổ tại Praha ngày 12-6. Chiến lũy mọc lên khắp đường phố. Những người dân chủ cấp tiến đóng vai trò lãnh đạo. Công nhân và sinh viên chiến đấu rất anh dũng và được sự hưởng ứng của nông dân ngoại thành. Nhưng đến ngày 17, phong trào bị dập tắt. Cuộc khởi nghĩa tháng Sáu ở Praha là đỉnh cao nhất của cách mạng 1848 ở Tiệp.

3. Phong trào giải phóng dân tộc ở Hunggari

Mùa xuân năm 1848 cao trào cách mạng châu Âu lan tràn đến Hunggari, một bộ phận nằm trong đế quốc Áo. Cuộc đấu tranh chống triều đại phong kiến Hapxbua gắn liền với những yêu cầu cải cách tư sản và những yêu sách của quần chúng lao động mặc dầu quan hệ tư bản chủ nghĩa còn phát triển yếu ớt. Ngày 15-3, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Buđapet do công nhân, thợ thủ công, sinh viên và nông dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của nhà thơ dân chủ cách mạng Sanđo Pêtôphi. Lực lượng cách mạng đánh lùi quân đội chính phủ, tràn vào thành phố và lập những “ủy ban an ninh xã hội”. Ngày 17, chính phủ độc lập đầu tiên của Hunggari được thành lập do Catchianni, một phần tử tự do ôn hòa đứng đầu. Đóng vai trò lãnh đạo nổi bật trong chính phủ là Laiôt Kosut. Dưới áp lực của nông dân, viện lập pháp ban hành đạo luật thủ tiêu tạp dịch và một số nghĩa vụ phong kiến bằng cách chuộc tiền. Những người dân chủ đòi hỏi thủ tiêu hoàn toàn trật tự phong kiến, chia ruộng đất cho nông dân, xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của bọn đại địa chủ và nhà thờ. Nhà cách mạng dân chủ xuất sắc Mikhai Tantrích và nhà thơ Pêtôphi đã nói lên những yêu cầu đó trên “Tạp chí công nhân”. Những đòi hỏi cơ bản của công nhân là tăng lương, hạn chế ngày làm việc xuống 10 giờ và thủ tiêu chế độ phường hội. Ngày 17 tháng 4, một cuộc biểu tình khổng lồ được tiến hành ở Pextơ, buộc chính phủ phải nhượng bộ, ký kết với thợ nhà in bản hợp đồng tập thể đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân Hung. Ở nông thôn, nông dân nhiều nơi đấu tranh đòi tiến hành cải cách, thành lập ủy ban chia ruộng đất.

Trước những yêu cầu cách mạng của quần chúng, chính phủ Catchianni không có ý định thực sự giải quyết các vấn đề cơ bản của đất nước, không đem lại quyền bình đẳng và tự trị cho các dân tộc (Xécbi, Xlôvacơ, Ucraina, Rumani). Vì vậy, nó không được sự ủng hộ của quần chúng và đứng sang lập trường phản động của nền quân chủ Áo.

Ngoài kẻ thù bên trong là nhà thờ và bọn quý tộc, cách mạng Hunggari còn phải đối phó với kẻ thù bên ngoài là chính phủ Áo. Sau sự kiện tháng Sáu ở Pari, bọn phản cách mạng Áo chuyển sang thế tấn công. Ngày 22-9, Phecđinăng I lên tiếng kết án cách mạng Hunggari và nhân dân Hunggari, coi đó như một lời tuyên chiến, “ủy ban bảo vệ Tổ quốc” được thành lập ở Hunggari do Kôsút đứng đầu tiến hành đấu tranh chống ách thống trị của Áo. Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa tháng Mười ở Viên, chính phủ Áo lập tức tập trung mũi nhọn sang Hunggari, Đầu tháng 1-1848, quân Áo chiếm được Buđapet nhưng không đánh bại được phong trào. Trái lại, cách mạng Hung phát triển rất nhanh, giải phóng hầu khắp cả nước. Ngày 14-4, nước Hunggari tuyên bố độc lập và Kôsút được cử ra đứng đầu chính phủ dân tộc. Nhưng Nga hoàng đã can thiệp. Tháng 5-1849, 14 vạn quân Nga tràn vào Hunggari, đến cuối tháng 9 thì dập tắt cuộc cách mạng Hunggari.

II - PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1848 VÀ CUỘC ĐẤU TRAnh THỐNG NHẤT NƯỚC Ý

1. Cách mạng 1848-1849

Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Ý năm 1848-1849 là thống nhất đất nước, giải phóng Lôngbacdia, Vênêdia khỏi ách thống trị của Áo, thủ tiêu chế độ chính trị và kinh tế phong kiến lạc hậu.

Phong trào cách mạng bắt đầu bùng nổ từ miền Nam nước Ý. Ngày 12 tháng 1 năm 1848, quần chúng ở Palecmô, một thành phố lớn thuộc Xixilia đứng dậy khởi nghĩa. Nhân dân lao động trong thành phố được sự ủng hộ của đông đảo nông dân có vũ trang đã triển khai nhanh chóng phong trào và chiếm được gần hết đảo Xixilia.

Những tin tức về cuộc cách mạng ở Pháp, Đức và Áo đã thúc đẩy cao trào cách mạng ở trong nước, đặc biệt là vùng Bắc Ý, nơi chịu ách chiếm đóng của quân đội Áo. Ngày 18-3, cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở Milanô với khẩu hiệu: "Người Áo cút khỏi Ý". Công nhân, thợ thủ công, tiểu thương, trí thức đóng vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh. Vài ngày sau, quân Áo bị đuổi khỏi thành phố, chính quyền chuyển sang tay chính phủ lâm thời mới thành lập gồm những người tư sản tự do.

Ngày 22-3, sau 2 ngày chiến đấu anh dũng, nhân dân Vênêdia đã làm chủ thành phố và tuyên bố thành lập nước “Cộng hòa thần thánh Mácca”. Sau đó, toàn bộ vùng Vênêdia được giải phóng.

Dưới áp lực của quần chúng khởi nghĩa, vua Piêmông là Các Anbe ra lệnh tuyên chiến chống Áo. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm giải phóng Piêmông khỏi ách thống trị của triều đình Hapxbua. Nhưng nhà vua không dám tiến hành chiến tranh một cách kiên quyết, không động viên hết khả năng người và của để đánh bại quân Áo.

Từ cuối tháng 4-1848, liên minh phản cách mạng bắt đầu phản công: giáo hoàng Piô IX kêu gọi ngừng cuộc chiến tranh chống Áo, vua Napôli là Phécđinăng, tiến hành một cuộc chính biến phản cách mạng, cuộc chiến tranh lừng chừng của Các Anbe làm cho quân Ý bị thua trận, gây tai hại cho phong trào chống Áo. Đến 6-8 quân Áo chiếm được Milanô, đặt toàn bộ Milanô và Lôngbacđia dưới quyền thống trị của Áo.

Nhưng cuộc cách mạng vẫn không ngừng tiếp diễn trong cả nước. Ngày 15-9, quần chúng khởi nghĩa ở Rôma đuổi Giáo hoàng và tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Rôma. Tháng 3-1849, quân Áo giành được thắng lợi ở Piêmông và tiếp theo đó, thế lực phản động được phục hồi ở nhiều nơi. Plorenxia, Palecmô, Napôli... Giữa lúc đó, ngọn lửa cách mạng vẫn không ngừng bùng cháy ở nước Cộng hòa Rôma. Liên minh Pháp, Áo, Tây Ban Nha gửi quân tới hòng bóp chết cách mạng. Những chiến sĩ bảo vệ Rôma đã chiến đấu rất anh dũng chống bọn can thiệp. Trên các chiến lũy, nghĩa quân được khích lệ mạnh mẽ bởi sự tham gia chiến đấu của những người lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ ở Ý là Garibanđi. Nhưng cuối cùng, quân Pháp đã chiếm được Rôma vào đầu tháng 7. Chính quyền Giáo hoàng được phục hồi và các cải cách tiến bộ đều bị thủ tiêu. Sự thất bại của Rôma là một tổn thất nặng nề đối với phong trào cách mạng Ý.

Tiếp theo đó là sự thất bại của nước Cộng hòa Vênêdia, sự kiện kết thúc phong trào 1848 -1849 ở Ý.

2. Cuộc đấu tranh thống nhất nước Ý

Cuộc cách mạng 1848-1849 ở Ý thất bại, vấn đề thống nhất đất nước chưa được giải quyết. Nước Ý vẫn bị chia cắt thành 7 vương quốc nhỏ: Lôngbacđia - Vênêdia chịu sự thống trị trực tiếp của đế quốc Áo. Pacna, Môdêna, Tôxcana và Napôli bị bọn vua chúa phong kiến đã từng bỏ chạy trong những ngày cách mạng trở lại thống trị dưới ảnh hưởng của Áo; Rômania (đất thuộc Giáo hoàng) là trung tâm Thiên chúa giáo có quân Pháp chiếm đóng và Piêmông là nước duy nhất giữ được hiến pháp tự do năm 1848, có chế độ chính trị và kinh tế tiến bộ hơn cả.

Sau cách mạng 1848, Piêmông theo chế độ quân chủ lập hiến, do triều đại Xavoa, đứng đầu là vua Vichto Emmanuyen II trị vì. Kẻ nắm quyền lãnh đạo nhà nước là Cavua, thủ tướng, đại biểu lợi ích của liên minh giai cấp quý tộc tư sản hóa và đại tư sản. Hai giai cấp này cùng quan tâm đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, cùng chủ trương thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Piêmông và cùng lo ngại cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng. Piêmông là vương quốc có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhất ở Ý.

Việc xây dựng đường sắt, đóng tàu, kinh doanh các ngành công nghiệp mới được nhà nước khuyến khích. Chính sách “tự do buôn bán” đã mở cho quý tộc và tư sản một thị trường tiêu thụ mới, bảo đảm việc mua nguyên liệu rẻ và trang bị máv móc. Trong khoảng 1851-1858, số lượng hàng hóa lưu thông tăng gấp hai lần; máy móc, quặng, gang, than đá được nhập vào ngày càng nhiều. Ngành sản xuất bông phát triển nhanh chóng, ngành luyện kim và cơ khí bắt đầu được xây dựng. Nông nghiệp cũng chuyến hướng kinh doanh tư bản chủ nghĩa để cung cấp hàng hóa nguyên liệu cho công nghiệp và xuất cảng.

Trong khi đó, hầu hết các quốc gia khác ở Ý đều ở trong trạng thái trì trệ, lạc hậu vì ách thống trị của đế quốc Áo và thế lực phong kiến trong nước. Hàng hóa Áo tràn vào thị trường bóp chết các ngành sản xuất trong nước. Nông nghiệp luôn luôn bị mất mùa. Mối mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển sản xuất với sự ràng buộc của ách thống trị phong kiến trong và ngoài nước ngày càng gay gắt. Giải quyết vấn đề thống nhất đất nước tức là đáp ứng nguyện vọng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc Áo và thực hiện yêu cầu xóa bỏ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Như vậy, vấn đề thống nhất nước Ý trở thành một yêu cầu cấp thiết của giai cấp tư sản và toàn thể quần chúng nhân dân. Trước vấn đề này, có hai khuynh hướng giải quyết.

Giai cấp tư sản tự do ở các vương quốc đều muốn tiến hành chiến tranh chống Áo dưới sự lãnh đạo của Piêmông, của khối liên minh giai cấp quý tộc tư sản hóa và đại tư sản. Cavua chủ trương thống nhất bằng con đường “từ trên xuống” tiến hành những cuộc chiến tranh vương triều, tiến tới thành lập một nước Ý dưới quyền lãnh đạo của triều đại Xavoa. Chỗ dựa bên ngoài là Napôlêông III, người quan tâm đến vấn đề Ý không phải vì quyền lợi dân tộc Ý mà vì mưu đồ gạt Áo để tranh giành ảnh hưởng trên bán đảo Apennanh.

Đối lập lại là khuynh hướng tư sản dân chủ. Những người dân chủ tư sản và cộng hòa được quần chúng ủng hộ, xác định con đường tiến hành cách mạng coi đấu tranh vũ trang là biện pháp cơ bản để giải phóng và thống nhất nước Ý. Matdini là người đại biểu cho khuynh hướng này trong đó nổi lên vai trò của Garibandi.

Quá trình thống nhất nước Ý có thể chia làm ba giai đoạn:

a) Cuộc chiến tranh chống Áo và sự thống nhất miền Bắc Trung Ý (4-1859 - 3-1860)

Tháng 7-1838, Cavua ký kết bí mật một hiệp ước với vua Pháp là Napôlêông III. Theo hiệp ước, Pháp hứa sẽ giúp Cavua đuổi Áo ra khỏi Lôngbácđia - Vênêdia, sáp nhập vùng đó vào Piêmông, Pháp sẽ được trả công bằng vùng Xavoa và Nixơ.

Ngày 29 tháng 4 năm 1859, cuộc chiến tranh giữa liên minh Ý, Pháp chống Áo bùng nổ. Cao trào cách mạng của quần chúng nhân dân phát triển rất cao. Trong suốt mùa hè năm 1859, nhân dân nổi dậy khởi nghĩa ở Tôxcana, Pacma, Môđêna và Rômania. Bọn phong kiến thống trị bỏ chạy sang Áo. Đóng vai trò quan trọng trong phong trào nhân dân là đoàn quân của Garibandi mang tên đội “Xạ thủ núi Anpơ” bao gồm những người lính tình nguyện, yêu nước, đầy tinh thần anh dũng. “Những xạ thủ núi Anpơ” giành được thắng lợi rực rỡ, trong tháng 5 giải phóng hàng loạt thành thị ở Lôngbácđia. Tháng 6, quân Áo thua lớn ở Magăngta (4-6), Xonphêrinô (24-6)..., có nguy cơ thất bại hoàn toàn.

Nhưng trước cao trào cách mạng của nhân dân Ý, Napôlêông III liền bội ước những điều đã hứa với Cavua, quay lại ký với Áo hòa ước Vilaphrăngca ngày 11-7-1859: Áo nhường Pháp Lôngbácđia để Pháp “cho” Piêmông, còn Vênêdia vẫn thuộc Áo. Chính quyền của các lãnh chúa sẽ phục hồi ở các vương quốc Tôxcana, Pácma, Môdêna, Rômania. Như vậy, Napôlêông trắng trợn chuyển sang phe phản động, công khai thừa nhận sự chia cắt nước Ý và chỉ nhượng bộ đôi chút phong trào yêu nước ở Ý, phản bội những lời cam kết ở Piôngbierơ.

Nhân dân Ý rất căm phẫn trước bản hòa ước nhục nhã này, không thừa nhận nó. Matdini tuyên bố “nhân dân Ý không hề ký hòa ước”. Phong trào dân chủ tư sản ráo riết hoạt động, nhân dân khắp nơi đòi vũ khí, đội cận vệ quốc gia được thành lập. Quần chúng nhân dân đánh tan âm mưu khôi phục chế độ cũ ở miền Trung Ý. Các quốc hội Tôxcana, Pácma, Môđêna và Rômania phê chuẩn việc truất ngôi các triều đại thân Áo và ra sắc lệnh sáp nhập vào vương quốc Piêmông. Tháng 3 năm 1860, việc sáp nhập được chính thức hóa sau khi nhân dân biểu quyết.

Thế là dưới áp lực của quần chúng và sự đóng góp tích cực của những người dân chủ tư sản, một bộ phận lớn của miền Bắc nước Ý được thống nhất, dưới ngọn cờ của Piêmông do vua Emmanuyen II và thủ tướng Cavua lãnh đạo.

b) Cao trào cách mạng Nam Ý và sự thành lập nước Ý thống nhất (4-1860 - 3-1861)

Từ năm 1859, phong trào khởi nghĩa bùng lên mạnh mẽ ở miền Nam nước Ý. Ngày 4-1-1860, cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ Palécmô và lan ra nhiều thành phố khác ở Xixinlia. Nông dân nổi lên đấu tranh, thành lập các đội du kích do người phái Mátdini chỉ huy: Nhân dân tiến đánh các nhà tù để giải thoát chính trị phạm, phá các đồn bốt, đòi lật đổ chính quyền phong kiến và thống nhất nước Ý. Chính giữa lúc đó, đội quân “Một nghìn” có tính chất thần thoại của Garibandi rời Giênôva tiến về Xixinlia. Trên hai chiến thuyền, những dũng sĩ áo đỏ tình nguyện, gần một nửa là công nhân, thợ thủ công, sinh viên, trí thức và cả những người nước ngoài - đã vượt biển trong đêm tối, đổ bộ vào đảo giữa lúc ngọn lửa cách mạng đang bùng cháy. Từ đấy, cuộc chiến đấu của họ hòa vào phong trào đấu tranh rộng rãi của quần chúng nhân dân. Chỉ trong một tháng, 5.000 du kích đã tham gia quân tình nguyện. Đạo quân Garibanđi cùng với các lực lượng vũ trang của quần chúng chiến đấu anh dũng, đến cuối tháng 5 giải phóng hầu hết đảo Xixinlia. Triều đình phong kiến Buốcbông bỏ chạy, chính quyền tư sản được thành lập. Garibanđi mang danh hiệu vị “chấp chính” của Xixinlia. Nhưng quyền hành thực tế ở trong tay phái tự do, Garibanđi ra lệnh xóa bỏ những đặc quyền có tính chất đẳng cấp của quý tộc và tăng lữ, trục xuất bọn thầy tu và tước đoạt ruộng đất của chúng, bãi bỏ nhiều thứ thuế; thực hiện tự do buôn bán, chia đất công cho những người nông dân đã từng tham gia chiến đấu.

Tháng 8, quần đội Garibanđi lại vượt biển vào Napôli với tư thế của một đoàn quân chiến thắng. Khắp các thành phố của Napôli nổi dậy, chính phủ lâm thời được thành lập do những người phái Matdini đứng đầu. Các đội quân nông dân tự vũ trang đốt phá đồn điền, trại ấp, phối hợp cùng với quân đội của Garibanđi. Ngày 7-9, Garibanđi tiến vào thủ đô Napôli, nhà vua đã bỏ chạy trước đó vài ngày. Chính quyền mới được thành lập do Garibanđi làm “Chấp chính”. Cuộc cách mạng tư sản ở miền Nam thắng lợi, đất công được chia cho nông dân, những đặc quyền phong kiến bị hủy bỏ. Garibanđi thật xứng đáng là vị “anh hùng khí phách thời cổ đại, có khả năng sáng tạo những kỳ công và đã sáng tạo ra những kỳ công” như Ăngghen đánh giá.

Hoạt động của Garibanđi làm cho phái tự do cố gây áp lực để giành lại chính quyền, sáp nhập Napôli vào Pilêmông, dưới quyền của triều đại Xavoa (10-1860). Sau khi cầm quyền ở Napôli, Cavua đã thủ tiêu những sắc lệnh cách mạng, Garibanđi bị đày ra đảo Caprêra.

Tháng 3-1861, Nghị viện Ý vừa được bầu ra, chính thức tuyên bố thành lập vương quốc Ý thống nhất do nhà vua Piêmông là Victo Emmanuyen II làm hoàng đế. Chính quyền tập trung trong tay quý tộc tư sản hóa và giai cấp đại tư sản. Thị trường dân tộc được thống nhất, hàng rào quan thuế bị thủ tiêu, đường sắt và công cuộc kinh doanh được khuyến khích.

Hoàn thành thống nhất nước Ý (1861 - 1870)

Đến năm 1861, chỉ còn vùng Vênêdia (thuộc Áo) và Rômania (thuộc Giáo hoàng) là chưa nằm trong bản đồ Vương quốc Ý thống nhất. Garibanđi nhiều lần dẫn quân trở về nước để giải quyết nốt các khu vực còn lại, đều bị quân của Víchto Emmanuyen II chặn đánh. Triều đại Xavoa dựa vào sức mạnh nước ngoài, ủng hộ Phổ trong cuộc chiến tranh Phổ-Áo. Do thất bại của Áo, Ý được trả lại vùng Vênêdia. Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 dẫn tới sự sụp đổ của nền Đế chế thứ II ở Pháp, Giáo hoàng mất chỗ dựa. Quân Ý tiến vào chiếm Rôma. Ngày 20-9, Vênêdia và Rômania được sáp nhập vào nước Ý. Giáo hoàng Piô IV rút vào Vaticăng, tự coi mình là kẻ “bị cấm cố” với mấy trăm giáo dân và các lâu đài của Tòa thánh. Nước Ý hoàn thành việc thống nhất, lấy Rôma làm thủ đô.

III - PHONG TRÀO ĐẤU TRAnh GIÀNH ĐỘC LẬP Ở CÁC NƯỚC VÙNG BÁN ĐẢO BAN CĂNG

Từ giữa thế kỷ XIX, các nước vùng bán đảo Ban Căng còn nằm dưới ách thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ. Sự tan rã của chế độ phong kiến và sự xuất hiện những nhân tố tư bản chủ nghĩa đẩy mạnh quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc Thổ và ách thống trị phong kiến. Trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh lên mạnh ở Valakhi, Mônđavi, Bungari, Xecbi...

1. Sự thành lập nước Rumani (1861)

Trong thời gian này, Mônđavi và Valakhi vẫn là những công quốc có nền kinh tế nông nghiệp phụ thuộc vào Thổ Nhĩ Kỳ. Nhu cầu cung cấp nông sản cho thị trường không ngừng tăng lên gắn liền với sự bóc lột nông dân ngày càng nặng nề. Chế độ nông nô còn tồn tại, người nông dân không có quyền hành, chịu ách áp bức, bóc lột cùng cực.

Mặc dầu quan hệ phong kiến tồn tại, những nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng bắt đầu phát triển.

Giữa những năm 60 thế kỷ XIX đã có 172 cơ sở sản xuất sử dụng máy hơi nước. Công nghiệp khai mỏ bắt đầu phát triển. Chỉ riêng năm 1858, dầu hỏa khai thác tăng từ 250 đến 500 tấn và những nhà máy đầu tiên ra đời. Đường sắt, đường dây bưu điện... bắt đầu được xây dựng.

Sự thống trị của quan hệ phong kiến, tình trạng thiếu thị trường thống nhất ở trong nước, sức mua của quần chúng nhân dân bị giảm xuống đã ngăn cản sự phát triển kinh tế của các công quốc. Sự phát triển của sức sản xuất đòi hỏi phải thống nhất đất nước và xóa bỏ tình trạng phụ thuộc chính trị vào Thổ Nhĩ Kỳ. Cho nên vấn đề thống nhất các công quốc trở thành một yêu cầu cấp thiết của quần chúng nhân dân và của sự phát triển kinh tế ở Rumani.

Sau một quá trình đấu tranh lâu dài, hội nghị những đại biểu ở Mônđavi và sau đó ở Valakhi năm 1859 đã bầu ra một nhà quý tộc hoạt động tiến bộ là Alêchxăngdrơ Cuda làm người đứng đầu. Mặc dầu gặp sự chống đối và đe dọa của các nước lớn, nhân dân Mônđavi, Valakhi và một bộ phận Betxarabi vẫn quyết tâm đi theo con đường của mình. Năm 1861, các công quốc trên hợp nhất thành nước Rumani, thủ đô là Bucaret, thoát khỏi sự phụ thuộc nước ngoài, tuyên bố độc lập đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng phải đến sau cuộc chiến tranh Nga-Thổ (1877-1878), Rumani mới được độc lập hoàn toàn và được các cường quốc thừa nhận.

2. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Bungari

Đến giữa thế kỷ XIX, Bungari vẫn chịu ách thống trị tàn khốc của Thổ Nhĩ Kỳ. Bọn địa chủ Thổ chiếm đoạt hầu hết ruộng đất trong nước. Sự bóc lột vô nhân đạo, nạn cướp đất và tăng thuế, những nghĩa vụ lao dịch... làm cho đời sống nông dân rất khổ cực. Ách thống trị dân tộc và giai cấp gây nên làn sóng căm phẫn ngày càng mãnh liệt trong nhân dân. Kẻ thù chủ yếu của cuộc đấu tranh là nhà nước phong kiến Thổ Nhĩ Kỳ. Trong những năm 50, các cuộc khởi nghĩa nông dân lan tràn ở miền Tây Bắc nhằm đánh đuổi bọn địa chủ Thổ đều bị thất bại. Tuy nhiên, do quy mô và lực lượng của phong trào khởi nghĩa, bọn Thổ Nhĩ Kỳ buộc phải tiếp xúc với đoàn đại biểu nông dân Bungari, phải chấp nhận một số yêu sách như chia cho nông dân một phần ruộng đất sau khi họ chuộc lại với những điều kiện khắt khe. Tuy nhiên về cơ bản, vấn đề ruộng đất chưa được giải quyết.

Cùng trong thời gian này, hàng hóa nước ngoài nhập vào Bungari ngày càng nhiều, gây tác hại nghiêm trọng đến các ngành sản xuất thủ công và các công trường thủ công của Bungari. Do sự cạnh tranh của hàng nước ngoài, thợ thủ công bị phá sản, những ngành sản xuất chính của Bungari bị suy sụp như nghề dệt dạ, nghề đóng giầy. Giai cấp tư sản muốn củng cố sự sản xuất và buôn bán của mình bằng cách lập những công ty cổ phần trong các ngành mậu dịch, vận tải... nhưng họ không đủ vốn và không cạnh tranh được với hàng nước ngoài, vì vậy, trong giai cấp tư sản bắt đầu xuất hiện chủ trương tẩy chay hàng nước ngoài. Sự khủng hoảng trong thủ công nghiệp và thương nghiệp càng làm tăng lòng công phẫn của nông dân, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách Thổ Nhĩ Kỳ được tăng cường mạnh mẽ.

Một trong những hình thức sớm nhất của phong trào dân tộc ở Bungari là cuộc đấu tranh đòi quyền tự chủ của nhà thờ. Giai cấp tư sản đứng đầu phong trào này, được sự ủng hộ của nông dân và thợ thủ công. Họ đòi nhà thờ Bungari phải được tự quản lý và các chức vụ giáo hội phải được lựa chọn trong số dân Bungari, tách khỏi sự khống chế của các tăng lữ cao cấp Hy Lạp ở Côngxtăngtinôpôn. Thực chất của cuộc đấu tranh này không thu hẹp trong phạm vi tôn giáo mà là nhằm mục đích chính trị, chống lại sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ.

Người có vai trò đầu tiên chủ trương đấu tranh vũ trang giải phóng Bungari khỏi ách thống trị của Thổ là một nhà văn, một nhà cách mạng nổi tiếng Ghêoocghi Racôpxki (1821-1867). Ông giành cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Ông chuẩn bị thành lập những đội vũ trang, liên minh với Xécbi, tiến tới khởi nghĩa vũ trang chống Thổ. Nhưng mọi kế hoạch đều bị thất bại vì không liên hệ với nhân dân các địa phương, không dựa vào lực lượng quần chúng.

Nhà cách mạng dân chủ, người tổ chức có tài Vaxin Lepxki (1837-1873) đã thành lập các ủy ban cách mạng địa phương trên cơ sở các tổ chức cách mạng rộng rãi của quần chúng ở chính ngay Bungari. Ông chuẩn bị lật đổ ách thống trị Thổ bằng con đường cách mạng, thiết lập nước Bungari dân chủ cộng hòa và theo ông, sẽ thực hiện một xã hội bình đẳng hoàn toàn cho mọi người dân. Ông nhận thức đúng đắn rằng lực lượng cơ bản của cuộc đấu tranh là nông dân và trong cuộc đấu tranh chống ách thống trị của bọn phong kiến Thổ, nhân dân Thổ và nhân dân Bungari đều có quyền lợi chung, gắn bó với nhau.

Khác với Vaxin Lepxki, nhà văn hiện thực và nhà hoạt động xã hội là Luyben Caravêlôp (1837-1879) không đề ra một cương lĩnh nào rõ ràng mà chủ trương giải phóng Bungari bằng con đường liên minh với các nước láng giềng, nhất là Xécbi. Mặc dầu có sự khác nhau trên, V.Lepxki và L.Caravêlôp đã cùng nhau đấu tranh giải phóng đất nước và đến năm 1870 thành lập “ủy ban trung ương cách mạng Bungarỉ” để lãnh đạo phong trào, chủ trương lật đổ ách bóc lột của Thổ và thiết lập “Liên minh các dân tộc tự do vùng Danuyp”.

Phong trào cách mạng Bungari tiếp tục phát triển trong những năm 70, dưới sự lãnh đạo của Crixtô Bôlep, một thi sĩ, một nhà báo có tài, một nhà dân chủ cách mạng. Năm 1873 ông làm Chủ tịch ủy ban cách mạng Bungari. Hai lần tiến hành khởi nghĩa vào năm 1873 và 1876 đều bị thất bại. Sau khi chiến tranh Nga-Thổ (1877-1878) chấm dứt, các cường quốc tham dự hội nghị Beclin (1878) thừa nhận một phần nền độc lập của Bungari ở phía bắc dãy núi Ban Căng, còn phía nam thì vẫn thuộc về Thổ. Đây chỉ là cơ sở bước đầu của nền độc lập Bungari. Nhân dân Bungari còn phải tiếp tục đấu tranh trong một thời gian dài chống Thổ Nhĩ Kỳ và sự khống chế của các nước lớn châu Âu như Đức, Áo, Hung, Nga... đang có dã tâm xâu xé Bungari.

3. Phong trào cách mạng ở Xécbi, Anbani và các nước khác

Đến giữa thế kỷ XIX, Xécbi là một công quốc biệt lập phụ thuộc vào sự thống trị tàn bạo của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khoảng năm 50-70 thế kỷ XIX, cùng với sự hình thành các quốc gia tư sản châu Âu, phong trào dân tộc Xécbi cũng phát triển. Do sự đấu tranh của những phần tử tri thức tiến bộ, một số cải cách được ban hành vào những năm 60: lập các trường trung học hiện đại, chấn chinh ngành giáo dục cao đẳng, thành lập viện hàn lâm quân sự, tăng số quân đội thường trực lên 15 vạn và thảo ra luật lệ, ban hành chế độ tư pháp thống nhất. Tuy nhiên mâu thuẫn gay gắt giữa nhân dân Xécbi và bọn Thổ vẫn chưa được giải quyết. Năm 1862, cuộc khởi nghĩa chống Thổ bùng nổ ở Bêôgrat và kéo dài đến năm 1867, quân Thổ phải rút khỏi Xécbi. Đến năm 1877, Xécbi hoàn toàn thoát khỏi cảnh lệ thuộc vào Thổ và trở thành một quốc gia độc lập.

Anbani, từ nhiều thế kỷ trước bị coi là một tỉnh phụ thuộc ách thống trị Thổ Nhĩ Kỳ. Sự phát triển kinh tế xã hội ở Anbani hết sức chậm chạp, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, mối liên hệ giữa các nước láng giềng bị cắt đứt. Quan hệ phong kiến giữ địa vị thống trị, hầu hết bọn phong kiến địa phương trở thành tay sai cho bọn xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ. Đại đa số quần chúng nhân dân Anbani căm thù bọn Thổ, nhiều lần đứng dậy đấu tranh giành độc lập nhưng thất bại. Trong cao trào cách mạng giữa thế kỷ XIX ở châu Âu, nhân dân Anbani cũng đứng lên đấu tranh, nhưng quyền lãnh đạo ở trong tay các trí thức phong kiến. Họ bất mãn với bọn phong kiến Thổ nhưng chỉ hạn chế cuộc đấu tranh trong phạm vi đòi lại đặc quyền phong kiến không đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Cho nên, phong trào đấu tranh ở Anbani còn phải tiếp tục tiến lên trong một thời gian dài sau này.

Cũng trong thời kỳ này, phong trào cách mạng lan tới các công quốc khác thuộc khu vực Ban Căng như Môntênêgrô, Hy Lạp, BôxniaHecsêgôvina... Mặc dầu còn có nhiều hạn chế, nhưng phong trào đấu tranh ở các địa phương đã góp phần làm suy yếu sự thống trị của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ và đưa công cuộc giải phóng dân tộc tiến lên một bước mới.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Lịch sử thế giới cận đại
  • Tác giả: Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng
  • Nhà xuất bản Giáo dục
  • Ebook:TVE-4U.org
"Like" us to know more!