Các loại thuật chiêm bốc

Các loại thuật chiêm bốc

Trung Quốc cổ đại, trên từ Thiên tử công khanh, dưới đến thảo dân phần lớn đều sùng bái và mê tín sức mạnh siêu nhiên như thiên địa quỷ thần, có một số sự đời không kể lớn nhỏ đều phải khẩn cầu ý chỉ của thần linh, sau đó căn cứ theo chỉ thị của thần linh để quyết định có hành động hay không và hành động như thế nào. Thông thường người ta không coi trọng bản thân vật dùng để cầu bốc, mà là coi trọng toàn bộ quá trình cầu bốc và kết quả cuối cùng. Mặc dù trong tình huống thông thường, người cầu bốc đã có một ý hướng đã định, nhưng để chứng minh tính hợp lí và thần thánh của hành động ấy, để giành được càng nhiều người tin và ủng hộ, họ vẫn mong nhờ vào quá trình cầu bốc thần thánh này và kết quả cuối cùng. Dù rằng cái người ta coi trọng chỉ là quá trình và kết quả xem bốc, nhưng người ta cũng không hề áy náy định ra biện pháp thích hợp cho từng nơí, dùng những vật dễ kiếm để thay cho mai rùa và cỏ thi, do đó dã xuất hiện nhiều phương pháp chiêm bốc như: Lãi bốc, Hổ bốc, Kê bốc, Điều bốc, Sủ bồ bốc, Thập nhị kì bốc, Trúc bốc, Ngưu đế bốc, Ngoã bốc, Dương cốt bốc, Tiền bốc, Trịch bang bốc.

Truyền thuyết Lãi bốc (bói vỏ sò) bắt đầu từ Tô Tần thời Chiến quốc. Tô Tần là người Lạc Dương, thời Chiến quốc nổi tiếng vì dùng chủ trương liên kết để chống Tần. Truyền thuyết kể rằng thời trẻ ông đã từng học nghệ với Quỷ Cốc tử, học thành nghiệp mới hạ sơn, trên đường đi bị thiếu ăn thiếu mặc, đói rét dày vò, vô cùng nhếch nhác. Khi đến đất Yên, ông đành phải dựa vào việc xem bói cát hung để kiếm tiền. Dụng cụ ông dùng để xem bói toán không còn là mai rùa và cỏ thi, mà là dùng vỏ sò hến. Phương pháp này so với bói xương rùa khác nhau không nhiều. Người đời sau gọi phương pháp chiêm bốc của Tô Tần là Lãi bốc (bói vỏ sò).

Hổ bốc (bói hổ) được thấy ghi lại trong sách "Bác vật chí" của Trương Hoa đời Tấn. Hổ là một động vật có trí khôn, theo truyền thuyết hổ biết xung phá (tức có thể dự đoán được cát hung), dùng móng vuốt của nó vẽ lên trên mặt đất để biểu thị cát hung (lành dữ). Người ta đã dựa theo truyền thuyết nói hổ vẽ lần trên mặt đất biểu thị cát hung, để vẽ một số sinh vật lên trên hai mặt trên và dưới tờ giấy, cái bàn hoặc các đồ vật khác; sau đó, dựa vào sự chẵn hoặc lẻ của số tranh đã vẽ ở hai mặt trên và dưới để suy đoán cát hung phúc họa. Trương Hoa gọi phương pháp chiêm bốc này là Hổ bốc.

Kê bốc (bói gà), trong sách "Sử kí" đã ghi rằng: "Việt phệ lập việt tự dĩ kê bốc". Xem ra thì kê bốc mới đầu dùng trong các hoạt động tế lễ trọng đại. Do thời gian đã quá lâu dài, nên phương pháp bói gà như thế nào đã không còn biết nữa. Nhưng, từ việc dùng vào hoạt động tế lễ để xét có thể xem hình dáng của can tạng (gan) để xem đoán cát hung. Vì gà là một trong sáu loại súc vật thời xưa thường dùng vào việc cúng tế. Khi tế lễ, thông thường giết thịt gà ngay tại hiện trường để làm đồ lễ. Thời xưa, một số dân tộc thiểu số phương Nam còn dùng xương gà để dự đoán năm đó mùa màng được hay mất. Phương pháp bói này cũng tương tự như bói mai rùa. Ngoài ra, theo truyền thuyết thời Hán Vũ Đế, kê bốc còn được dùng rộng rãi trong việc hành quân chinh chiến, phương pháp đó như thế nào hiện nay cũng không được biết nữa.

Theo truyền thuyết, Sủ bồ bốc (bói bằng con xúc xắc) bắt đầu từ Lão Tử. Gieo quân xúc xắc là một trò chơi thời cổ xưa, triều Tấn rất thịnh hành. Phương pháp này cũng gần như gieo xúc xắc đời sau, nhưng việc xem thắng thua không phải là tính số điểm nhiều hay ít mà là xem màu sắc của nó, các màu được chọn gồm có màu đất thổ, màu lông trĩ, màu da bê và màu trắng. Theo sách "Bác vật chí" của Trương Hoa có ghi chép lại, Sủ bồ bốc là do Lão Tử sáng tạo ra khi ông đi tây du Quan Trung, mới đầu là do 5 loại gỗ có màu sắc tạo nên. Sử sách còn ghi Lão Tử đi tây du Quan Trung, nhưng chỉ nói là khi ông đi qua Hàm Cốc quan, sau khi Quan lệnh là Doãn Hỉ ép đòi quyển sách nổi tiếng của ông sau đó mới đi ẩn cư, không còn biết làm sao được Lão Tử đành phải viết "Đạo đức kinh". Việc sáng tạo ra gieo xúc xắc trong sử sách không thấy có ghi chép. Trương Hoa nói "Lão Tử vào Tây giới đã tạo ra thuật gieo xúc xắc", có lẽ đây chỉ là theo truyền thuyết. Trò chơi gieo xúc xắc này về sau được dùng để xem bói toán và do đó mới có "Sủ bồ thuật". Tương truyền rằng các dân tộc thiểu số ở phương Bắc cũng sử dụng phương pháp chiêm bốc này.

Tương truyền "Thập nhị kì bốc" (bói bằng 12 quân cờ) là của Hoàng Thạch Công. Hoàng Thạch Công là người có tài cao hơn người vùng giáp ranh Hán Sở, ông đã sáng tạo ra phương pháp bói 12 quân cờ, đã truyền lại cho Trương Lương. Trương Lương đã đem thuật bói 12 quân cờ dùng vào việc chinh chiến sát phạt, giúp Lưu Bang giành lại được thiên hạ cho nhà Hán. Đến thời Hán Vũ đế, Đông Phương Sóc đã đem thuật 12 quân cờ dùng vào các việc khác và đã biên soạn ra sách "Linh kì kinh", miêu tả tỉ mỉ cách chiêm bốc bằng 12 quân cờ. Phương pháp này được làm như sau: gọt đẽo 12 quân cờ hình tròn, chia 4 quân một nhóm lần lượt khắc 3 chữ "Thượng", "Trung", "Hạ". Khi chiêm bốc phân 4 lần tung ném, mỗi lần làm đều được một nhóm các chữ Thượng, Trung, Hạ, cuối cùng đem kết quả 4 lần thu được đặt lại cùng một chỗ và dự đoán cát hung. Theo truyền thuyết từ sau Đông Phương Sóc, thuật chiêm bốc 12 quân cờ đã bị thất truyền. Mãi đến thời Hiếu Khai đế nhà Đông Tấn là Ninh Khang, Đạo nhân Pháp vị chùa Nhương Thành mới nhận lại được quyển sách đó từ một Hoàng y trưởng lão, thuật chiêm bốc 12 quân cờ mới lại được truyền lại cho đời. Sách "Linh kì kinh" đứng tên Đông Phương Sóc truyền lại đến nay đã miêu tả tỉ mỉ cách chiêm bốc bằng 12 quân cờ.

Trúc bốc (bói trúc) là một loại chiêm bốc nông dân vùng Kinh Sở thời xưa dùng để dự báo mùa màng được mất. Theo ghi chép, nông dân vùng Kinh Sở tiết Thu phân (giữa thu) hàng năm thường dùng lợn và dê làm đồ lễ tế Trời Đất, đồ lễ vật so với tiết Xuân tế Trời đất còn thịnh soạn hơn. Khi tế lễ xong xuôi, tất cả đồ lễ vật đều tặng lại cho người địa phương. Khi tế lễ Trời Đất, thường ném mảnh vỏ con trai để dự đoán mùa màng năm sau thu hoạch như thế nào, có khi lại dùng mảnh trúc chế tạo thành hình dáng vỏ trai để thay cho vỏ trai. Vì vậy gọi là bói trúc. Thực tế là một loại trịch chiêm (chiêm bốc theo kiểu tung ném). Dân tộc Ô Man ở Ích Châu thời Đường có một thuật sĩ tên là Bishanjuji, ông dã sáng tạo ra một loại bói trúc khác, cách bói này dùng 49 que trúc mỏng mảnh (hoặc dùng xương gà thay thế) để chiêm bốc đoán cát hung phúc hoạ cho người cầu bói.

Ngưu đế bốc (bói bằng bàn chân trâu) được ghi lại trong sách "Tấn thư" - Theo ghi chép trong sách "Tùy thư - Tứ di truyện", nước Phù Dư khi gặp hành động quân sự lớn, thường giết trâu để tế lễ và xem hình dáng hiển hiện của chân trâu sau khi giết mổ đế dự đoán cát hung. Nếu sau khi trâu giết chết mà chân móng trâu ở dạng phân li là điềm xấu không lợi cho việc xuất binh đánh nhau. Nếu móng chân trâu chụm lại với nhau là điềm tốt. Phương pháp chiêm bốc này là lấy ý nghĩa tượng trưng của hình dáng móng chân trâu: nếu móng chân trâu phân li (tách nhau) tượng trưng cho việc bị tan tác và thất bại, còn móng chân trâu co chụm lại thì tượng trưng cho việc đoán tụ và thắng lợi.

Điểu bốc (bói chim) được ghi chép trong sách "Tùy thư - Tây Vực truyện". Nữ quốc Tây Vực thờ Hà Tu La thần và Thụ thần, hàng năm vào đầu năm dùng- người sống hoặc khỉ Macác để tế lễ. Tế lễ xong vào trong núi cầu đảo, lúc này sẽ có một con chim trông giống như gà rừng sẽ rơi xuống bàn tay người đứng tế. Người ta sẽ đem con chim này giết thịt, mổ bụng, nếu trong bụng nó có chứa các vật thuộc loại lương thực, điều đó nói lên năm đó sẽ được mùa. Nếu như là các vật như sỏi cát thì đó là điềm năm đó gặp thiên tai. Khai Hoàng năm thứ 6 (tức năm 586), Nữ quốc dã từng đem loại chim này làm lễ vật để cống tiến Văn đế nhà Tùy.

Tiền bốc (bói bằng đồng tiền) được bắt đầu từ nhà "Dịch" thuật nổi tiếng thời Tây Hán là Kinh Phòng. Cao sĩ Nghiêm Quân Bình Thời Tây Hán đã sống ẩn ở Thành Đô, Tây Thục bằng nghề xem bói.

Ông đã mượn việc xem bói để khuyên người làm điều thiện răn điều ác. Khi xem bói cho những người là con trai, con gái thì ông khuyên họ làm điều hiếu thuận. Khi xem cho những người anh em bạn bè thì ông khuyên họ yêu thương lẫn nhau. Khi xem cho tầng lớp quan lại thì dựa vào điều mình dự đoán, theo đà phát triển của sự vật để dẫn dắt, để khuyên họ làm điều thiện. Ông đã dùng đồng tiền thời nhà Hán để xem bói, tung tiền lên gieo quẻ, xem tượng quẻ để dự đoán cho người ta lấy tiền chi phí cho sinh hoạt, sau đó đóng kín cửa để truyền thụ về "Lão Tử". Vì vậy, người đời sau có câu thơ:

Ngạn dư Chức nữ chi cơ thạch.

Tỉnh hữu Quân Bình trịch quái tiền.

Ngõa bốc (bói ngói) và Dương cốt bốc (bói xương dê) thuộc loại bói mai rùa. Ngõa bốc là dùng ngói thay rùa, dùng lửa đốt mặt lưng viên ngói, xem hình dáng các yết nứt của nó để dự đoán cát hung.

Dương cốt bốc là một phương pháp xem bói của người dân tộc thiểu số phương Bắc thường dùng. Cách này dùng lửa đốt xương ống chân dê (cừu), căn cứ hình dáng hiện ra sau khi đốt lửa để xem bói. Tấm ngói và xương ống chân dê đều là những vật thay thế mai rùa.

Trịch ngao (Ném vỏ ngao) là một phương pháp xem bói tương đối được lưu hành ở Trung Quốc thời xưa. Loại xem bói này được xuất hiện khi nào, đến nay vẫn không rõ. Vỏ ngao chính là ngày nay thường gọi là vỏ con trai. Nên ném vỏ ngao chính là ném vỏ trai, dựa vào việc vỏ trai nằm sấp hay nằm ngửa đế đoán tai hoạ. Xét về hình thức nó cũng giống như Sủ bồ bốc (bói xúc xắc), chẳng qua chỉ là một loại dùng gỗ ngũ sắc, còn loại kia dùng 2 vỏ con trai. Một loại là xem màu sắc gỗ định cát hung, còn loại kia thì xem vỏ trai nằm sấp hoặc ngửa để đoán cát hung. Cả 2 loại tuy rất giống nhau, nhưng thật ra thì không phải là một. Ném vỏ ngao lần đầu tiên xuất hiện trong văn hiến cổ đạì, đại thể là câu thơ: "Thủ trì hiệu bôi ngao đạo ngã trịch" của nhà viết văn xuôi lớn Hàn Dụ, thời Đường (trong sách"Yết Hành Nhạc miếu"). Từ đó ta thấy chậm nhất là đến trước Hàn Dụ, ném ngao đã được lưu hành. Trong sách "Diễn phồn lộ" của Trịnh Đại Xương, đời Tống có đoạn ghi chép tỉ mỉ về ném ngao như sau:

"Đời sau xem bốc đều hỏi Thần linh, có một dụng cụ được gọi là cốc ngao, dùng 2 mảnh vỏ trai tung lên không gian rồi rơi xuống đất, xem nó nằm sấp nằm ngửa để phán đoán lành đữ. Từ khi có phương pháp này, người đời sau không chỉ dùng vỏ ngao nữa, hoặc đã dùng trúc hoặc dùng gỗ đẽo gọt như hình vỏ ngao, trong đó chia làm 2 loại có sấp có ngửa cho nên gọi là cốc ngao. Gọi là cốc vì bên trong vỏ ngao là rỗng có thể đựng chứa đồ vật, hình dáng của nó giống như chiếc cốc. Còn ngao vốn là giáo, nói lên lời chỉ giáo của Thần linh, sẽ biểu hiện thành sấp hoặc ngửa vậy."

Từ đó ta thấy ném vỏ trai là một phương pháp xem bói đơn giản, nghĩa là chỉ đem 2 mảnh vỏ trai (hoặc các đồ vật dùng mảnh trúc, mảnh gỗ đẽo thành hình vỏ trai) ném tung vào không gian, đợi sau khi nó rơi xuống đất xem vỏ trai nằm úp xuống hoặc ngửa lên để đoán lành dữ. Việc này cũng giống như việc người ta tung ném đồng tiền để xem mặt sấp ngửa để giành hơn thua. Về việc tung cốc ngao, Diệp Mộng Đắc đời Tống đã ghi chép một câu chuyện lí thú trong sách "Thạch lâm yến ngữ" rằng Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận khi còn chưa trở thành người có quyền lực, một hôm sau khi uống rượu, ông đi vào miếu Cao Tân, Nam Kinh thấy trên hương án có một chiếc cốc trúc, do đó ông cầm lấy để chiêm bốc xem danh vọng của mình trong tương lai. Một ngửa một sấp là Thánh chỉ. Những người cùng đến đó, từ Thiếu hiệu đến Tiết độ sứ, ai nấy đều lần lượt tung ném, nhưng đều không đạt được Thánh chỉ một sấp một ngửa. Lúc này Triệu Khuông Dận bỗng nhiên nói: "Sau đây sẽ phải là tượng của Thiên tử, một sấp một ngửa rồi". Thuận tay vừa ném đã đạt Thánh chỉ một sấp một ngửa. Câu chuyện này là để thần thánh hóa Triệu Khuông Dận, chứng minh cuộc chính biến Trần Kiều của ông và ứng theo ý trời của ông đã khoác lên mình chiếc áo Hoàng bào. Các bậc đế vương trong truyền thuyết dân gian Trung Quốc xuất thân đều có vàng hào quang "ứng thiên thuận dân" (theo trời thuận dân) thần thánh. Triệu Khuông Dận tung được Thánh chỉ, chỉ là một bản nhạc xen giữa bé nhỏ của việc xuất thân đế vương của Triệu Khuông Dận mà thôi.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Thiên thời
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyên An
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Nguồn: tusachcuaban.com
"Like" us to know more!