Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

III. BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

1. Khái niệm cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng

a. Cơ sở hạ tầng (CSHT)

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ sản xuất của một xã hội hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó

  • Toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội là tổng hợp những quan hệ sản xuất cùng đồng thời tồn tại bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất là tàn dư của xã hội trước và mầm mống của quan hệ sản xuất mới. Trong đó QHSX thống trị giữ vai trò chủ đạo, nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ nền kinh tế.
  • Trong xã hội có đối kháng giai cấp, cơ sở hạ tầng cũng có tính đối kháng vì lợi ích và địa vị kinh tế của các giai cấp là khác nhau thậm chí đối lập nhau.

b. Kiến trúc thượng tầng (KTTT)

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội (tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp quyền, tư tưởng tôn giáo, tư tưởng đạo đức,...) cùng với những thể chế tương ứng của chúng như nhà nước, đảng phái, pháp luật, giáo hội, các đoàn thể xã hội v.v.., được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.

  • Toàn bộ tư tưởng xã hội là tổng hợp các hình thái tư tưởng của xã hội bao gồm: tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp luật, tư tưởng đạo đức, tư tưởng nghệ thuật, tư tưởng tôn giáo, tư tưởng triết học, khoa học.v.v. của các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng và quan điểm của giai cấp thống trị là đặc trưng cho KTTT, nó chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Trong đó tư tưởng chính trị và những thiết chế tương ứng của giai cấp thống trị là bộ phận có vai trò quan trọng nhất tiêu biểu cho chế độ chính trị của xã hội đó.- Thể chế (còn gọi là thiết chế) 2 là những quy định, những luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo. Các tư tưởng xã hội thường được thể chế hóa thành các quy định tương ứng, đặc biệt là tư tưởng của các giai cấp thống trị có các thể chế như: nhà nước, pháp luật...

2. Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

a. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

  • Xét cho cùng cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng ấy. Quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là quan hệ vật chất, là quan hệ cơ bản nhất quyết định mọi quan hệ tư tưởng và các quan hệ xã hội khác. Những mâu thuẫn cơ bản trong KTTT xét cho cùng là do những mâu thuẫn cơ bản trong cơ sở hạ tầng.
  • Trong xã hội có giai cấp đối kháng, cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệ đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính chất đối kháng (biểu hiện ở sự xung đột về quan điểm tư tưởng của các giai cấp đối kháng). Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế và nắm vững chính quyền nhà nước thì hệ tư tưởng cùng những thể chế của giai cấp ấy cũng giữ địa vị thống trị. Sự thống trị về kinh tế tác động trực tiếp và quy định xu hướng của toàn bộ đời sống tinh thần, quyết định tính chất và đặc trưng cơ bản của kiến trúc thượng tầng của xã hội.
  • Những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi trong kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi này diễn ra trong từng hình thái kinh tế - xã hội, và diễn ra khi chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác. Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến biến đổi trong kiến trúc thượng tầng là quá trình diễn ra rất phức tạp. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, quá trình này diễn ra thông qua cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.

b. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

  • Kiến trúc thượng tầng củng cố, bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; kiến trúc thượng tầng đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ.
  • Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp nào nắm quyền thống trị về chính trị thì mới giữ được quyền thống trị trong kinh tế. Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tư tưởng thì cơ sở kinh tế của nó không thể đứng vững được. Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng. Nhà nước không chỉ dựa trên hệ tư tưởng mà còn dựa trên những hình thức nhất định của việc kiểm soát xã hội, sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù.v.v.. để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, củng cố vững chắc địa vị của quan hệ sản xuất thống trị. Anghen viết: "Bạo lực (quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế". Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng đều tác động mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng bằng những hình thức khác nhau, nhưng trong xã hội có giai cấp thì sự tác động này phải thông qua nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng khác mới phát huy được hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng, cũng như đối với toàn xã hội.
  • Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có hiệu quả to lớn khi KTTT đó là KTTT tiến bộ, nghĩa là khi nó tác động cùng chiều với qui luật vận động khách quan của cơ sở hạ tầng, trái lại sẽ cản trở sự phát triển của cơ sở hạ tầng.

3. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

  • Cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Đó là nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
  • Kiến trúc thượng tầng gồm các tư tưởng xã hội và các thể chế tương ứng, trong đó chủ nghĩa Mac Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò chủ đạo với thể chế chính trị bao gồm hệ thống Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Mục đích chung của hệ thống chính trị là nhằm phục vụ con người, thực hiện lợi ích và quyền lực của nhân dân lao động.
  • Vận dụng lí luận về quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào thực tiễn đổi mới, chúng ta đổi mới cả vế kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế là nền tảng.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang