Ba Tư (Iran)

B. Ba Tư (Iran)

I. Tình hình kinh tế chính trị Ba Tư và phong trào khỏi nghĩa “Ba Bít”

1. Tình hình kinh tế - chính trị của Ba Tư

Ba Tư là một trong những nước lớn ở miền Tây nam châu Á trong thời kỳ trung cổ. Dưới triều đại Xêvêphít (thế kỷ XVI - XVII), Ba Tư đạt tới mức hưng thịnh về kinh tế và văn hóa. Trong thế kỷ XVIII, sau khi đánh đuổi người Ápganixtan (thống trị từ 1722 - 1730), Ba Tư giành được độc lập và mở rộng đất đai sang các vùng Ápganixtan, Buha, Hiva Bắc Ấn Độ và Ngoại Cápcadơ. Nhưng từ giữa thế kỷ XVIII, Ba Tư bước vào giai đoạn suy tàn, biên giới thu hẹp, đất nước bị chia cắt làm nhiều mảnh. Chính quyền các địa phương đều ở trong tay bọn quý tộc thân vương (Khan), có quyền hành rất lớn như những công quốc tự trị. Giữa các "Khan", luôn luôn xảy ra những cuộc tranh chấp về đất đai và quyền lợi, làm cho Ba Tư ngày càng suy yếu.

Đạo Hồi đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của xã hội Ba Tư. Các tòa án mang nhiều tính chất tôn giáo, xử án theo những quy định khắt khe của nhà thờ Hồi giáo.

Nền kinh tế cơ bản của Ba Tư là nông nghiệp. Ruộng đất tập trung trong tay nhà vua, các "Khan", tầng lớp quý tộc và nhà thờ Hồi giáo. Nhiều bộ lạc còn duy trì chế độ kinh tế du mục. Nông dân không có ruộng đất, bị lệ thuộc vào địa chủ về tô tức, thuế má, các đảm phụ phong kiến và cả về thân phận. Thu hoạch của nông dân bị chia làm 5 phần: ruộng đất, nước, sức kéo, giống và nhân công, trong đó, người nông dân chỉ được hưởng 1/5. Nhiều khi họ còn phải nạp thêm những khoản phụ khác, nên đời sống rất cực khổ, luôn luôn bị đe dọa bởi nạn đói và bệnh dịch. Các nghề thủ công còn gắn chặt với kinh tế gia đình, ở các thành phố xuất hiện công trường thủ công dệt vải, dệt thảm và lò rèn. Một phần sản phẩm được bán ra nước ngoài, còn chủ yếu là cung cấp cho thị trường trong nước.

Từ đầu thế kỷ XIX, các nước phương Tây chú ý nhiều đến Ba Tư vì vị trí chiến lược quân sự, con đường thương mại thuận lợi, thị trường khai thác và tiêu thụ hàng hóa của nó. Những cuộc chiến tranh xâm lược của Anh, Pháp, Nga diễn ra liên tiếp trong nửa đầu thế kỷ XIX làm cho Ba Tư dần dần mất quyền tự chủ. Năm 1841, vua Ba Tư phải ký với Anh bản hiệp ước không bình đẳng quy định cho Anh quyền trị ngoại và tự do mua hàng không chịu thuế. Hàng Anh nhập vào Ba Tư không bị đánh thuế quá 5%. Năm 1845 những điều khoản tương tự lại được ký kết với Nga, Pháp, các nước châu Âu khác và cả với Mỹ.

2. Phong trào “Babít” (1844-1852)

Chế độ phong kiến thống trị tàn bạo và thối nát ngày càng đè nặng lên quần chúng. Do sự thỏa hiệp của triều đình, hàng hóa nước ngoài tràn vào trong nước, bóp chết các ngành thủ công và thương nghiệp của Ba Tư. Đại đa số quần chúng nhân dân, thợ thủ công và thương nhân bất mãn với chế độ đương thời, tỏ thái độ phản kháng. Trong điều kiện đó, cuộc khởi nghĩa “Babít” bùng nổ và kéo dài từ năm 1844 đến 1852, có tiếng vang rất lớn.

Người khởi xướng phong trào này là Ali Môhamét, xuất thân từ một gia đình thương nhân, bản thân đã từng tham gia buôn bán. Ali Môhamét tự nhận là “Bap”, tiếng Ba Tư,có nghĩa là “Ngưỡng cửa” để nói rằng ý chí của thần đi qua “Ngưỡng cửa” này sẽ truyền đạt đến nhân dân. Ông tuyên truyền Chúa cứu thế, Makhơdi, sắp giáng trần để lập nên một vương quốc chính nghĩa trên trái đất. Từ chữ “Bap” những người tham gia phong trào được gọi là “Babít” gồm nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ tiến hành đấu tranh chống phong kiến và, về khách quan, chống sự xâm nhập của tư bản nước ngoài. Họ đòi quyền bình đẳng nam nữ, đòi tự do về thân thể và bất khả xâm phạm về tài sản, chấm dứt chế độ chuyên quyền, độc đoán. Họ đòi đuổi tư bản nước ngoài ra khỏi đất nước, tịch thu tài sản đem chia cho nhân dân. Họ đề ra những yêu sách phù hợp với quyền lợi thương nhân: đánh thuế cưỡng bức chung đối với mọi người kể cả người nước ngoài, giữ bí mật các tài liệu thương mại, thừa nhận việc cho vay lấy lãi là chính đáng, các nhà buôn được giao dịch với nước ngoài, tổ chức trạm bưu điện tốt hơn nữa và thống nhất hệ thống tiền tệ... Năm 1847, Ali Môhamét bị bắt, khi cuộc khởi nghĩa lên đến cao trào thì ông bị giết (1850). Tuy vậy, phong trào Babít vẫn tiếp tục lan rộng ở các thành phố Bacpharut Denjan. ở thủ đô Têhêran, các tín đồ Babít vẫn tiếp tục hoạt động bí mật.

Cuộc khởi nghĩa Babít là một phong trào chống phong kiến và tư bản nước ngoài, có nhiều yêu sách tiến bộ đối với tình hình Ba Tư khi đó. Nhưng nó chỉ thu hút một bộ phận nông dân gần thành phố chứ chưa phát động được lực lượng đông đảo ở nông thôn, không đề ra được cương lĩnh chống tư bản nước ngoài rõ rệt. Dưới màu sắc tôn giáo, nó mang nhiều điều mê tín, gây lòng tin mù quáng vào “thế giới bên kia”. Trong số những người Babít, đã xuất hiện phái “Bêha” (do Bêha Un cầm đầu) đại diện cho lợi ích của bọn mại bản liên hệ với chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Năm 1852, phong trào Babít bị thất bại.

II. SỰ xâm nhập CỦA tư bản Phương Tây ĐÃ BIẾN BA TƯ THÀNH MỘT NƯỚC NỬA THUỘC ĐỊA

1. Chủ nghĩa thực dân phương Tây tăng cường xâm nhập Ba Tư

Sau khi cuộc khởi nghĩa Babít bị dập tắt, Thù tướng đầu tiên của Ba Tư là Taghi Khan dự định tiến hành một số cải cách nhưng bị phái phong kiến thủ cựu trong triều đình phản đối. Trong khi đó, bọn tư bản phương Tây tăng cường xâm nhập vào Ba Tư. Thực dân Anh gây ra cuộc chiến tranh xâm lược từ 1856-1857 chiếm được nhiều địa điểm ở vùng ven biển Ba Tư. Trong khoảng 10 năm từ 1862-1872, triều đình Ba Tư phải ký 4 bản thỏa ước thừa nhận Anh được quyền xây dựng đường điện tín để có thể liên lạc từ Luân Đôn đến Ấn Độ, người Anh được hưởng quyền trị ngoại. Tư bản Anh còn xây dựng và kiểm soát những con đường ờ miền Trung và Nam Ba Tư nắm độc quyền vận chuyển trên sông Carun. Còn ở miền Bắc, đế quốc Nga Sa hoàng cũng xây dựng những trạm điện tín và đường giao thông. Trước yêu cầu của Ba Tư muốn xây dựng đường sắt, cả hai đế quốc đều từ chối. Anh sợ rằng Nga sẽ dùng đường sắt để đưa quân lính đến sát biên giới Ấn Độ. Nga lại lo ngại hàng hóa rẻ của Anh sẽ tràn lên phía bắc, giáp biên giới của Nga.

Các công ty thương mại nước ngoài dần dần giành được nhiều đặc quyền ở Ba Tư. Năm 1872, vua Ba Tư ký với công ty “Râyte” của Anh một điều ước có giá trị trong 70 năm cho độc quyền xây dựng đường sá, các công trình tưới nước, khai thác mỏ và rừng, lập nhà máy. Như vậy là những nguồn lợi công nghiệp hoàn toàn rơi vào tay nước ngoài. Bị Nga cực lực phản đối, bản điều ước bị thủ tiêu, nhưng công ty “Râyte” được đền bù bằng việc thành lập nhà ngân hàng với độc quyền phát hành tiền giấy ở Ba Tư, tham gia việc quản lý ngân sách nhà nước và chế độ quan thuế, kiểm soát sự chi tiêu của triều đình và chi phối ngoại tệ. Hãng “Tanbốt” được độc quyền mua bán và chế biến thuốc lá. Đế quốc Nga cũng giành được những điều ước về quyền kiểm soát nghề đánh cá ở ven bờ phía nam biển Catxpiên, thành lập nhà ngân hàng ở miền Bắc Ba Tư. Ngoài ra Bỉ được độc quyền xây dựng những nhà giải trí và sòng bạc; Pháp được độc quyền khai quật khảo cổ.

Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, những nguồn lợi cơ bản của Ba Tư đều nằm trong tay tư bản phương Tây. Ba Tư rơi vào địa vị phụ thuộc về kinh tế, thành một thị trường cung cấp nông sản và đầu tư của Anh và của Nga - hai địch thủ mạnh nhất ở Ba Tư.

2. Ba Tư bị biến thành một nước nửa thuộc địa

Bị phụ thuộc về kinh tế, Ba Tư dần dần mất địa vị độc lập về chính trị. Dưới triều đại Nátet Đin (1848-1896), Ba Tư đi theo xu hướng thân phương Tây. Nhà vua 3 lần đi thăm các nước châu Âu để đặt quan hệ ngoại giao. Việc tập luyện và tổ chức quân đội được giao cho nước ngoài. Các chức vụ sĩ quan và tướng lĩnh ở trong tay đế quốc Nga. Ngoài ra, trong quân đội còn có các cấp chỉ huy người Áo, Đức, Pháp và Ý. Người nước ngoài cũng tham gia vào bộ máy nhà nước của Ba Tư: Bộ trưởng bưu điện là người Anh, đứng đầu ngành thuế quan là người Bỉ, người Nga nắm các chức vụ quan trọng ở thủ đô và các tỉnh miền Bắc, người Anh ở các tỉnh miền Nam. Bọn quan lại ngoại quốc ký kết với các “Khan” ở địa phương những bản thỏa hiệp có lợi cho chúng bằng cách mua chuộc, biến các “Khan” thành tầng lớp tay sai. Ba Tư thật sự rơi vào tình trạng nửa thuộc địa trong khi chế độ phong kiến được duy trì nguyên vẹn. Bọn quý tộc phong kiến câu kết với chủ nghĩa thực dân phương Tây, đặc biệt là với hai đế quốc Anh và Nga, từ cuối thế kỷ XIX có thêm Đức, bóc lột quần chúng rất thậm tệ. Trong khoảng từ 1870 đến 1890, thuế má tăng lên 2 lần rưỡi. Nạn đói và bệnh dịch xẩy ra khắp nơi, nông dân bị phá sản phiêu bạt ra thành phố. Mâu thuẫn giữa đại đa số quần chúng nông dân với chính quyền phong kiến phản động và bọn thực dân phương Tây ngày càng trở nên gay gắt.

III. PHONG TRÀO ĐẤU TRAnh CÁCH MẠNG Ở BA TƯ CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX

1. Phong trào đấu tranh cuối thế kỷ XIX

Đến cuối thế kỷ XIX, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc đã thổi bùng ỉên ngọn lửa cách mạng bấy lâu âm ỉ ở Ba Tư. Năm 1891, “vụ loạn thuốc lá” là cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại bản nhượng ước của nhà vua cho thực dân Anh tự do mua bán và chế biến thuốc lá trong 50 năm. Nhiều cuộc mít tinh và biểu tình diễn ra ở các thành phố với lời kêu gọi chống người nước ngoài, chỉ trích chính phủ là phản bội và nhà vua là kẻ bán nước. Trong các truyền đơn có lời kêu gọi: “Hỡi các tín đồ! Hỡi người Hồi giáo! Đất nước đã rơi vào tay người nước ngoài. Nhà vua không chú ý đến quyền lợi của chúng ta. Hãy giành lấy sự nghiệp về tay chúng ta!”. Trước áp lực của quần chúng, bản nhượng ước bị xé bỏ. Phong trào năm 1891 mang tính chất chống đế quốc nhưng còn tự phát và thiếu tổ chức.

Cùng thời gian này, những người trí thức có liên hệ với thương nhân và một bộ phận địa chủ yêu nước là người đại diện cho tư tưởng tư sản dân tộc ở Ba Tư. Có vai trò nổi bật là nhà báo, nhà hoạt động xã hội và nhà ngoại giao Mancôm Khan. Năm 1890, ông bị cách chức đại sứ ở Anh, liền ở lại Luân Đôn xuất bản tờ báo “Luật pháp” phê phán nghiêm khắc chế độ chuyên chế và chính sách đầu hàng nước ngoài của nhà vua. Những hoạt động của ông có tác dụng thức tỉnh ý thức dân tộc trong giới trí thức, nhưng chưa liên hệ được với đông đảo nhân dân. Trong những năm 90, nhiều cuộc biểu tình chống đế quốc nổ ra trong các thành phố lớn. Những người biểu tình đòi cấm ngân hàng Anh đầu cơ vàng bạc và buôn lậu, giành độc quyền thuế quan, đóng cửa trường học của người Âu...

Trong giới tăng lữ và một bộ phận trí thức, nhà buôn lan tràn khuynh hướng “Đại Hồi” do Jêman el Đin an Apgani khởi xướng. Họ chủ trương thiết lập một đế quốc thống nhất Hồi giáo gồm các dân tộc theo đạo Hồi, chống lại ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân bên ngoài, bảo vệ nền độc lập của nước Ba Tư phong kiến. Đặc điểm của phong trào “Đại Hồi” là sự cố gắng thống nhất giữa phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc của các dân tộc Hồi giáo với việc củng cố địa vị của các “Khan”, địa chủ, giáo sĩ v.v... Trên thực tế nó không giải quyết mối mâu thuẫn giai cấp giữa tầng lớp quý tộc các “Khan” với đông đảo quần chúng nhân dân. Nó cũng khó tránh khỏi mâu thuẫn giữa các dân tộc trong liên minh “Đại Hồi”. Năm 1896 một người phái “Đại Hồi” ám sát vua Natet Đin. Bọn phản động lợi dụng vụ manh động đó để tăng cường khủng bố. Mudafa Et Đin lên ngôi vua (1896-1907) vẫn tiếp tục đi vào con đường bán nước làm cho mâu thuẫn giai cấp trở nên cực kỳ sâu sắc.

2. Cao trào cách mạng 1905-1907

Cuộc cách mạng Nga năm 1905 đã gây một tiếng vang mạnh mẽ ở các nước châu Á, trước tiên là ở Ba Tư. Nhiều người trí thức chịu ảnh hưởng tư tưởng xã hội dân chủ của nước Nga và châu Âu.

Từ cuối năm 1905, nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở Têhêran đòi cách chức tên thủ tướng phản động Ain Et Đôilơ, đuổi tên phụ trách thuế quan người Bỉ, lập “Viện Chính nghĩa” để nhận đơn kiện tụng của nhân dân. Những người biểu tình đòi ban hành hiến pháp và triệu tập quốc hội. Đồng thời những cuộc đấu tranh cũng nêu khẩu hiệu chống đế quốc, tẩy chay vải nước ngoài, đòi đóng cửa các ngân hàng Anh, xóa bỏ những đặc quyền của người Âu châu. Cuộc đấu tranh đặc biệt sôi nổi ở Têbridơ là nơi đã xuất hiện những nhóm xã hội dân chủ đầu tiên. Ở đó đã tiến hành tổng bãi công, bãi thị, thành lập những “ủy ban cách mạng” gồm đại biểu nhà buôn, tăng lữ và địa chủ để kiểm soát hoạt động của chính quyền nhà vua. Những người xã hội dân chủ Ba Tư thành lập một tổ chức cách mạng lấy tên là “Chiến sĩ vì sự nghiệp chân chính”.

Trước áp lực của quần chúng, ngày 9-9-1906, nhà vua phải công bố thể lệ bầu cử. Việc bầu cử được tiến hành theo chế độ đẳng cấp, gián tiếp với những quy định chặt chẽ về điều kiện cử tri. Công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, đông đảo thợ thủ công, thương nhân và phụ nữ không được tham gia.

Đầu tháng 10, quốc hội đầu tiên của Ba Tư được triệu tập. Quốc hội thông qua một số quyết định tiến bộ: quy định giá tối đa về lúa mì, thảo luận về dự án thành lập nhà Ngân hàng quốc gia Ba Tư đối lập với các ngân hàng của Anh và Nga. Tháng 12-1906, vua Mudafa Et Đin công bố những đạo luật cơ bản làm thành phần thứ nhất của hiến pháp. Theo đó quyền lực của nhà vua bị hạn chế bởi quốc hội bao gồm hai viện là cơ quan có quyền thông qua sắc luật và ngân sách, kiểm soát việc thi hành luật pháp. Các công việc đối ngoại, ký kết nhượng ước và hiệp định với nước ngoài chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của quốc hội.

Sau khi Mudafa Et Đin chết (1-1907), hoàng tử Môhamét Ali lên ngôi (1907-1909) được bọn phản động ủng hộ đã công khai xóa bỏ những cải cách tiến bộ. Một làn sóng đấu tranh mới nổ ra ở Têhéran, Têbridơ, Restơ, Itxfahan... Ở Têbridơ do xảy ra xung đột vũ trang, thế lực phản động phải lùi bước, những đạo luật cơ bản được giữ nguyên vẹn, đánh dấu sự thắng lợi của giai đoạn đầu của cuộc cách mạng Ba Tư.

Trong giai đoạn đó, các tầng lớp địa chủ tự do, tăng lữ, nhà buôn lớn, cùng với tiểu tư sản, thợ thủ công, công nhân và dân nghèo thành thị đấu tranh đòi ban hành hiến pháp, đòi đuổi bọn phản động ra khỏi các cơ quan nhà nước. Phong trào chống đế quốc lan rộng trong cả nước. Ở Itxfahan, Siradơ, Busia... quần chúng tẩy chay hàng Anh, phản đối công ty dầu lửa của Anh. Những cuộc nổi dậy của nông dân lan ra rất nhanh từ miền Bắc xuống miền Trung và Nam với khẩu hiệu không nộp tô thuế cho địa chủ, không thực hiện các nghĩa vụ phong kiến, chiếm lấy gia súc, đập phá nhà cửa và trừng trị những tên gian ác. Những cuộc bãi công đầu tiên của Ba Tư nổ ra ở các trung tâm công nghiệp do công nhân điện tín, công nhân nhà in, công chức các cơ quan tiến hành năm 1907. Đồng thời, các ủy ban cách mạng cũng được thành lập ở nhiều nơi, trong đó nhà buôn, địa chủ chiếm ưu thế. Hơn mười tờ báo và tạp chí dân chủ được xuất bản. Hội “Chiến sỹ vì sự nghiệp chân chính” được thành lập bí mật ở miền Bắc, thu hút thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ và cả công nhân, nông dân. Họ thông qua cương lĩnh dân chủ cách mạng, đòi bầu cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng và bí mật, đòi tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do lập hội và bãi công, tịch thu và chia ruộng đất của nhà vua cho nông dân, ngày làm việc 8 giờ cho công nhân... Nhiều hội viên tham gia tích cực vào các đội vũ trang Phêđaép (Người yêu nước) của cách mạng. Các địa phương thành lập Hội đồng dân biểu mang tính chất dân chủ tiến bộ. Hoạt động mạnh mẽ nhất là Hội đồng tỉnh Têbridơ.

Trước sự phát triển của phong trào dân chủ, tầng lớp tư sản địa chủ chiếm đa số trong Quốc hội lo lắng, có thái độ đối lập với các yêu sách của quần chúng và các hoạt động cách mạng. Bộ phận tăng lữ, địa chủ tự do và tư sản nhanh chóng ngả sang phe phản động. Trước sự phân hóa đó, nhà vua liền tập hợp các lực lượng phong kiến chống lại phong trào quần chúng. Tháng 5-1907 vua khước từ việc ký bản dự án về “Điều bổ sung đạo luật cơ bản” là sắc luật nhằm hạn chế hơn nữa quyền lực của nhà vua, tuyên bố những quyền bình đẳng trước pháp luật, thực hiện chế độ phân lập ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thái độ ngoan cố của vua Môhamét Ali làm bùng lên một làn sóng phản đối mới. Biểu tình và bãi công lại nổ ra ở các thành phố. Phong trào đấu tranh mùa thu năm 1907 đã buộc nhà vua phải thừa nhận “Điều bổ sung”, đánh dấu thắng lợi giai đoạn thứ hai của phong trào. “Điều bổ sung” trở thành phần quan trọng của hiến pháp Ba Tư.

3. Sự can thiệp của bọn đế quốc và âm mưu phục hồi của phong kiến

Thực dân Anh muốn lợi dụng phong trào cách mạng để gạt bỏ ảnh hưởng của đế quốc Nga, nên đưa ra chiêu bài ủng hộ phong trào đòi hiến pháp và quốc hội, đưa quân đến vùng ven biển Ba Tư. Thực ra, chúng vẫn chủ trương duy trì chế độ phong kiến để có thể tăng cường xâm nhập hơn nữa vào Ba Tư. Đế quốc Nga đang lúng túng vì cuộc cách mạng 1905 ở trong nước, lại vừa thất bại trong cuộc chiến tranh với Nhật nên chưa thể can thiệp vũ trang vào Ba Tư. Đức cũng nhảy vào thị trường này, nhúng tay vào đời sống chính trị với luận điệu giả dối là chỉ “kinh doanh một cách hòa bình” mà thôi. Mâu thuẫn giữa các đế quốc dẫn tới sự thỏa hiệp Anh-Nga (1907) quy định việc phân chia khu vực ảnh hưởng ở Ba Tư: Anh ở phía nam, Nga ở phía bắc và giữa là một khu trung lập.

Thế lực phong kiến phản động muốn lợi dụng sự can thiệp của Anh và Nga để dập tắt cách mạng. Ngày 23-6-1908, nhà vua tiến hành cuộc chính biến phản cách mạng: điều những đạo quân Côdắc về thủ đô, bao vây và giải tán Quốc hội, bắt giam các đại biểu Quốc hội và những người tham gia cách mạng, đóng cửa các tờ báo tiến bộ. Phong trào ở thủ đô và nhiều thành phố khác rơi vào tình trạng nguy khốn.

4. Cao trào cách mạng 1908-1911 và cuộc chính biến phản cách mạng

Trung tâm cách mạng chuyển về vùng Adecbaidan thuộc Ba Tư. Cuộc khởi nghĩa vũ trang bùng nổ ở Têbridơ vào tháng 6-1908 được sự hưởng ứng của công nhân, nông dân, thợ thủ công, tư sản, loại nhỏ và vừa. Họ yêu cầu phục hồi hiến pháp và triệu tập quốc hội mới. Sau bốn tháng chiến đấu ngoan cường, họ đuổi được bọn phản động ra khỏi thành phố. Phong trào lan sang nhiều tỉnh ở Adecbaidan, các “Ủy ban cách mạng” và các đội Phêđaép được tổ chức, tài sản của nhà vua bị tịch thu, trật tự và an ninh được thiết lập, nhiều trường mới mở cửa. Tháng 2-1909, quân đội nhà vua vây hãm thành phố. Mặc dầu bị nạn đói đe dọa, Têbridơ vẫn tồn tại, các tỉnh khác cũng noi gương Têbridơ, giữ vững quyền làm chủ. Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ đó, bọn đế quốc Anh-Nga nhúng tay vào, điều quân đội đến can thiệp hòng dập tắt phong trào. Nhưng những người Dân chủ cách mạng đã giáng một đòn mãnh liệt vào nền quân chủ. Tháng 7-1909 các đội nghĩa quân chiếm được Têhêran, vua Môhamét Ali bị phế truất,, hiến pháp 1906-1907 được phục hồi, Chính phủ lâm thời được thành lập do Xênada, một địa chủ tham gia đội “Phêđaép”, đứng đầu.

Chính phủ tư sản-địa chủ tự do thừa hưởng thành quả cách mạng của quần chúng, không muốn thúc đẩy cách mạng đi lên. Các cơ cấu của chế độ quân chủ, các nhượng ước và hiệp định ký kết với bên ngoài và ngay cả các binh đoàn Côdắc đều được giữ nguyên vẹn.

Tháng 9-1909, Quốc hội khóa II được triệu tập, tính chất dân chủ bị giảm sút rõ rệt so với khóa I. Quốc hội không có đại biểu thợ thủ công, không đề ra một biện pháp hoặc sắc lệnh nào tiến bộ. Chiếm ưu thế trong Quốc hội là khuynh hướng “ôn hòa” do tư sản mại bản và địa chủ tự do làm đại biểu. Những người tư sản dân tộc đứng về phía “dân chủ”. Chính phủ Xênađa ngả về phía Anh, năm 1911 vay một món nợ lớn của Anh. Đồng thời, Mỹ được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Đoàn “cố vấn” Mỹ về tài chính do Moócgan Suxte đứng đầu được quyền kiểm soát toàn bộ tài chính, nhượng ước, nợ nần, thuế má, chi tiêu và ngân sách của Ba Tư Suxte ép buộc Ba Tư vay nợ, chuẩn bị cho việc ký kết nhượng ước về dầu lửa và đường sắt, tổ chức hiến binh Mỹ riêng và đặt quân đội phụ thuộc vào Mỹ.

Anh và Nga lo ngại trước sự bành trướng của Mỹ liền gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Ba Tư đuổi Suxte và phải hứa không mời “cố vấn” nếu không được sự đồng ý của Anh và Nga. Quốc hội Ba Tư bác bỏ những yêu sách đó. Lợi dụng lý do này, Anh và Nga gửi quân đội đến, câu kết với bọn phản động trong nước tiến hành đảo chính phản cách mạng vào tháng 12-1911, Quốc hội bị giải tán, các “ủy ban cách mạng” bị ngăn cấm, báo chí tiến bộ bị đóng cửa. Cách mạng Ba Tư thất bại.

5. Tính chất và ý nghĩa lịch sử

Cách mạng Ba Tư là một cuộc cách mạng tư sản chống đế quốc và phong kiến. Trong những năm cách mạng, phong trào giải phóng lan rộng trong cả nước. Đông đảo các tầng lớp tham gia vào cuộc đấu tranh: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, tư sản dân tộc. Họ thành lập quốc hội, các tổ chức cách mạng và lực lượng vũ trang, ở Têbridơ và Adecbaidan, cách mạng mang tính chất dân chủ tư sản rõ rệt.

Nhưng nhìn chung, phong trào còn mang nhiều nhược điểm. Lực lượng giai cấp công nhân còn yếu, những cuộc nổi dậy của nông dân còn tự phát và phân tán, giai cấp tư sản dân tộc còn non nớt. Những người cách mạng chưa giành được ưu thế đối với phái tự do đang nắm quyền lãnh đạo, có khuynh hướng thỏa hiệp với đế quốc và phong kiến.

Tuy nhiên, cuộc cách mạng Ba Tư 1905-1911 đã giáng một đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân xâm lược, vào chế độ quân chủ phong kiến, làm thức tỉnh ý thức chính trị của quần chúng nhân dân ở các thuộc địa và nửa thuộc địa.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Lịch sử thế giới cận đại
  • Tác giả: Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng
  • Nhà xuất bản Giáo dục
  • Ebook:TVE-4U.org

Có thể bạn muốn xem