Bối cảnh ra đời của triết học phương tây hiện đại

II. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

1. Mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa

a. Những mâu thuẫn trong kinh tế

Vào giữa thế kỷ 19 chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rõ các mâu thuẫn vốn có với các căn bệnh xã hội vốn có của nó, khủng hoảng kinh tế bắt đầu xuất hiện. Giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị về chính trị và mất dần tính cách mạng chống phong kiến.

b. Những mâu thuẫn trong xã hội

  • Giai cấp vô sản đã phát triển thành một lực lượng chính trị độc lập và trở thành giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, đại diện cho lực lượng tiến bộ xã hội. Giai cấp vô sản không chỉ đòi hỏi chống phong kiến mà còn đòi hỏi chống sự nô dịch mới của chế độ tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn đó đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống lý luận làm thế giới quan cho giai cấp vô sản cách mạng để chỉ đạo cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp. Đây thực sự là nhu cầu bức xúc làm cho xã hội phát triển.
  • Giai cấp tư sản ngày nay đã trở thành giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị mất tính cách mạng chống phong kiến, về triết học họ không cần chủ nghĩa duy vật để chống lại thần học và CNKV. Khi có triết học Mác, họ lại thù địch với triết học Mác vì triết học Mác kế thừa và phát triển chủ nghĩa duy vật của triết học phương Tây.

2. Những hạn chế cơ bản của triết học cổ điển Tây Âu

a. Triết học phương Tây cận đại bắt nguồn từ thời kỳ phục hưng

Triết học phương Tây cận đại bắt nguồn từ thời kỳ phục hưng phù hợp với nhu cầu chống phong kiến của giai cấp tư sản và được sự phát triển của khoa học tự nhiên thúc đẩy do đó trong mấy trăm năm đã có bước phát triển rất lớn, đã có những thành quả quan trọng nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Thành tựu là đã vạch trần và phê phán tôn giáo và thần học; tổng kết và khái quát khoa học tự nhiên, thực nghiệm; luận chứng khả năng lý tính của con người và nghiên cứu nhận thức luận, đã trình bày quan điểm chủ nghĩa duy vật về tự nhiên và tìm tòi phép biện chứng

  • So với thời kỳ cổ đại và trung đại thì triết học thời kỳ này rất tiến bộ nhưng nó vẫn còn một số hạn chế: Duy vật không triệt để, về cơ bản là máy móc và duy tâm; còn phép biện chứng thì tách khỏi duy vật, nghiên cứu một chiều về lý luận nhận thức, tuyệt đối hóa kinh nghiệm hoặc tư duy, có khi rơi vào hoài nghi. Trong lĩnh vực xã hội, chủ nghĩa duy tâm luôn giữ địa vị chi phối.
  • Điều đó chứng tỏ hệ thống triết học được xây dựng xuất phát từ nhận thức luận đã có rất nhiều mâu thuẫn và triết học của họ rơi vào khủng hoảng.

b. Vấn đề đặt ra cho các nhà triết học thế kỷ 19

Từ những năm 30 của thế kỷ 19, điều kiện lịch sử xã hội và phát triển khoa học đòi hỏi các nhà triết học phương Tây phải trả lời những vấn đề

  • Con đường giải thoát của triết học ở đâu? Định hướng mới của triết học là gì để khắc phục những hạn chế cũ?
  • Phạm vi vấn đề cơ bản của triết học có nên hạn chế trong quan hệ giữa chủ thể và khách thể, vật chất và ý thức như truyền thống không?
  • Cách giải quyết vấn đề quan hệ chủ thể và khách thể như thế nào, quan hệ vật chất và ý thức như thế nào?
  • Nên chăng vượt lên con đường triết học trước đây, vượt lên kinh nghiệm hoặc phạm vi tư duy để tìm con đường khác?
  • Chính những vấn đề vừa nêu và sự trả lời cho những vấn đề đó đã tạo ra sự khác biệt giữa thời kỳ cổ điển và hiện đại. Sự khác biệt này đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong triết học phương Tây.
  • Bước ngoặc này nảy sinh cùng lúc với sự nảy sinh của triết học Mác, triết học phương Tây hiện đại và triết học Mác cùng bối cảnh nảy sinh nhưng lại khác nhau về bản chất.
  • Như vậy những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản gây ra các loại mâu thuẫn và bệnh tật trong xã hội hiện thực TBCN, trong đó có sự hoài nghi chủ nghĩa duy vật và lý tính trước đây. Đồng thời những thành tựu của khoa học tự nhiên làm lung lay chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức.
  • Tất cả những điều đó làm cho mâu thuẫn và khủng hoảng của giai cấp tư sản càng trở nên gay gắt và sâu sắc, đồng thời thúc đẩy các nhà triết học phương Tây dồn dập xúc tiến việc sửa đổi cơ bản phương hướng phát triển triết học tư sản cổ điển.

c. Sự phát triển của khoa học và sự xuất hiện triết học Mác

  • Sự phát triển của khoa học tự nhiên cho phép xây dựng môn triết học mới. Đó là những phát hiện lớn: học thuyết tế bào, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tiến hóa sinh vật và các thành tựu khác ngày càng cho phép người ta hiểu rõ tính biện chứng của thế giới. Chúng tạo điều kiện vững chắc về mặt khoa học cho việc xây dựng một hệ thống triết học mới.
  • Trong bối cảnh lịch sử đó người thầy của giai cấp vô sản là Mac-Ăngghen đã xây dựng một nền triết học mới với nội dung là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Triết học Mác ra đời đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển triết học nhân loại.

Bối cảnh trên đây đã thúc đẩy sự ra đời của triết học Mác. Đồng thời từ một góc độ khác, nó đã thúc đẩy sự chuyển biến triết học tư sản phương Tây.

3. Những trào lưu cơ bản

Triết học phương tây hiện đại có rất nhiều trường phái khác nhau nhưng giữa chúng cũng có những điểm chung: căn cứ vào thái độ của các trường phái triết học đối với các khoa học cụ thể, có thể chia làm 2 trào lưu tư tưởng chủ yếu (2 khuynh hướng chủ yếu):

a. Loại thứ 1: Chủ nghĩa duy khoa học (còn gọi là chủ nghĩa kỹ trị, chủ nghĩa duy lý)

Đặt triết học và khoa học cụ thể ngang nhau, phủ nhận ý nghĩa thế giới quan của triết học

  • Xu hướng này nhấn mạnh lấy khoa học tự nhiên thực nghiệm làm nền tảng và triết học trở thành phương pháp luận và nhận thức luận của khoa học tự nhiên.
  • Chủ trương triết học nên giới hạn trong mô tả sự thật kinh nghiệm, có mục tiêu giành lấy kết quả thực tế. Họ muốn xây dựng một thứ triết học loại bỏ siêu hình tư biện, theo đuổi sự tin cậy và xác thực của kiến thức thực nghiệm hình thành chủ nghĩa thực chứng. Bao gồm:
  • Chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa Makhơ, các trường phái triết học phân tích, các trường phái triết học khoa học đương đại, chủ nghĩa thực dụng Mỹ, chủ nghĩa cấu trúc Pháp,...
  • Phần lớn chúng có quan hệ chặt chẽ với những khoa học cụ thể đặc biệt là khoa học tự nhiên. Chúng đề cao, tôn trọng và tin tưởng khoa học. Song phần lớn chúng núp dưới khẩu hiệu chống "siêu hình" bác bỏ việc nghiên cứu quan hệ giữa vật chất và ý thức; muốn vượt ra ngoài sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

b. Loại thứ 2: Chủ nghĩa nhân bản (còn gọi là chủ nghĩa phi lý, chống kỷ trị)

Đối lập triết học với khoa học, cho rằng điểm xuất phát của triết học là cuộc sống phi lý tính, là bản năng, ý chí và tình cảm của con người

  • Trọng tâm triết học tư sản phương Tây hiện đại chuyển từ mô hình triết học truyền thống lấy nhận thức làm hạt nhân, nghiên cứu giới tự nhiên bên ngoài, chuyển sang nhấn mạnh việc nghiên cứu kết cấu nội tâm của bản thân con người. Chuyển từ sự nghiên cứu tách rời giữa chủ thể và khách thể, quan hệ tư duy và tồn tại sang nghiên cứu kết cấu nội tâm của bản thân chủ thể.
  • Họ đã phá bỏ cái khái niệm lý tính phổ biến để khôi phục và bảo vệ sự tồn tại chân chất của con người, phát hiện và phát huy sức sống và tính sáng tạo nội tại của con người hình thành trào lưu tư tưởng nhân bản hoặc là trào lưu tư tưởng chủ nghĩa phi lý tính. Bao gồm: Chủ nghĩa duy ý chí Shopenhauer, Nietzche,Triết học đời sống ở Đức, Pháp,Chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Freud, nhân học triết học,…
  • Các trường phái này khẳng định triết học có ý nghĩa thế giới quan nhưng họ muốn thoát ra khỏi sự đối lập giữa duy vật và duy tâm, chống lại việc tách riêng chủ thể và khách thể.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang
"Like" us to know more!