Bối cảnh lịch sử của môn học nhân văn

1. Bối cảnh lịch sử của môn học nhân văn

Cần lưu ý rằng triết học cổ đại Hy Lạp không trình bày vấn đề dưới hình thức giống như hình thức trình bày của triết học cận đại. Socrates quả thực dường như đã nghĩ rằng kiến thức về tự nhiên là không thể đạt tới được và không đóng vai trò quan trọng lắm. Điều quan trọng nhất phải biết là chính bản thân Tự nhiên và mục đích của con người. Đó là sự hiểu biết mà toàn bộ những gì mang ý nghĩa sâu sắc đều dựa vào: toàn bộ thành tựu đạo đức và xã hội. Tuy nhiên, Platon lại hiểu rằng, hiểu biết đúng về con người và xã hội phụ thuộc vào hiểu biết về những đặc tính căn bản của Tự nhiên. Chuyên luận quan trọng nhất của ông nhan đề Nhà nước Cộng hòa đồng thời cũng là một chuyên luận về đạo đức, về tổ chức xã hội, và về siêu hình học và khoa học về tự nhiên. Bởi vì ông chấp nhận thuyết của Socrates cho rằng nhận thức đúng về Tự nhiên phụ thuộc vào nhận thức dựa vào lý tính, cho nên ông buộc phải bàn đến bản chất của nhận thức. Bởi vì ông chấp nhận quan điểm cho rằng đối tượng cơ bản của nhận thức là sự phát hiện ra cái “có giá trị” hay mục đích của con người, và bởi vì ông bất mãn với quan niệm của Socrates cho rằng tất cả những gì chúng ta biết chỉ là chúng ta chẳng biết gì cả, cho nên ông gắn sự bàn luận về giá trị của con người với việc xem xét giá trị hay mục đích mang tính bản chất của chính Tự nhiên, cố gắng xác định mục đích của con người tách rời khỏi nhận thức về mục đích chi phối quy luật và tính thống nhất của Tự nhiên, là điều không thể. Vì vậy, việc ông [Platon] coi các môn học có tính văn chương (ông gọi chung bằng cái tên “âm nhạc”) là không quan trọng bằng toán học và vật lý cũng như logic và siêu hình học, là điều hoàn toàn phù hợp với triết lý của ông. Nhưng mặt khác, hiểu biết về Tự nhiên lại không phải là một mục đích tự nó; mà đó là một giai đoạn tất yếu của quá trình nhận thức được mục đích tối cao của đời sống xét như là quy luật chi phối hành động của con người, hành động tập thể và hành động cá nhân. Có thể diễn đạt theo cách nói hiện đại như sau: các môn học về tự nhiên là không thể thiếu, nhưng chúng tồn tại vì lợi ích của các mục đích nhân văn và lý tưởng.

Aristotle thậm chí còn hạ thấp hơn nữa các môn học về tự nhiên, nếu có thể nói như thế. Ông coi các mối quan hệ công dân (xem phần 1 của Chương XIX) là phụ thuộc vào đời sống mang tính nhận thức thuần túy. Mục đích tối cao của con người không thuộc về con người mà thuộc về thần thánh - tức tham dự vào nhận thức thuần túy làm thành đời sống thần thánh, với tính chất như vậy, nhận thức làm việc với cái mang tính phổ quát và tất yếu, và vì thế nó tìm thấy một nội dung đầy đủ hơn ở Tự nhiên trong hoàn cảnh lý tưởng, chứ không phải ở những sự tồn tại nhất thời của con người. Nếu chúng ta nhìn vào những gì mà các triết gia ủng hộ ở đời sống của người Hy Lạp, chứ không phải chi tiết những gì mà họ phát biểu, thì có thể nói ngắn gọn rằng người Hy Lạp quan tâm quá nhiều tới sự nghiên cứu tự do về sự kiện Tự nhiên và về sự cảm thụ thẩm mỹ về Tự nhiên, và họ ý thức quá sâu sắc về quy mô ở đó xã hội bắt rễ từ Tự nhiên và phụ thuộc vào các quy luật của Tự nhiên, đến nỗi họ không còn nghĩ đến việc đặt con người và Tự nhiên ở mối quan hệ đối lập với nhau. Tuy nhiên, có hai yếu tố ở giai đoạn cuối của đời sống cổ đại đã xảy ra với cùng mục đích như nhau để đề cao các môn học mang tính văn chương và nhân văn. Yếu tố thứ nhất là tính chất ngày càng mang tính chất hoài cổ và vay mượn của văn hóa; yếu tố thứ hai là sở thích chính trị và ăn nói khoa trương của đời sống La Mã.

Người Hy Lạp đạt được thành tựu về văn minh ngay tại xứ sở của mình; nền văn minh của người Ai Cập và người La Mã được thừa hưởng từ nguồn gốc bên ngoài. Vì thế, để có được chất liệu và niềm cảm hứng, nền văn minh ấy ngoái nhìn lại những ghi chép mà nó đã dựa vào, thay vì quan sát trực tiếp Tự nhiên và xã hội. Để chỉ ra những hệ quả đối với lý luận và thực tiễn giáo dục, tốt nhất chúng ta nên trích dẫn lời của Hatch[1]: “Hy Lạp một mặt đã bị mất đi quyền lực chính trị, và mặt khác lại sở hữu một di sản không thể tước đoạt nằm trong nền văn chương rực rỡ... Theo lẽ tự nhiên Hy Lạp phải tìm đến văn chương. Cũng theo lẽ tự nhiên, việc nghiên cứu về văn chương phải được thể hiện bằng khả năng ăn nói... Số đông trong thế giới Hy Lạp đã có xu hướng đề cao hiểu biết về văn chương của các thế hệ đã qua, và coi trọng thói quen ngôn ngữ trau chuốt, kể từ đó trở đi học văn chương đã được gọi chung là giáo dục... Xã hội của chúng ta [nước Anh] có nguồn gốc trực tiếp từ truyền thống của xã hội Hy Lạp. Xã hội Hy Lạp đã đề ra một kiểu cách mà cho mãi tới gần đây nó vẫn thịnh hành theo cùng một kiểu trên toàn bộ thế giới văn minh. Chúng ta tìm hiểu về văn chương thay vì tìm hiểu về Tự nhiên bởi vì người Hy Lạp đã làm như vậy, và bởi vì khi người La Mã và dân tỉnh lẻ La Mã quyết định giáo dục cho con cái của họ thì họ đã sử dụng các ông thầy người Hy Lạp và họ đi theo những con đường của người Hy Lạp.”[2]

Cái gọi là khuynh hướng thực hành ở người La Mã cũng gây ra tác dụng tương tự. Khi phải cầu viện đến những hiểu biết đã được ghi lại của người Hy Lạp, người La Mã không chỉ đi tắt để đạt được một trình độ phát triển về văn hóa, họ còn tìm thấy đúng loại chất liệu và phương pháp phù hợp với năng khiếu quản lý của họ. Bởi thiên tư thực hành ở người La Mã đã không được hướng vào việc chinh phục và kiểm soát Tự nhiên, mà hướng vào việc chinh phục và kiểm soát con người.

Ở đoạn trích dẫn trên, Ngài Hatch đã công nhận hầu hết lịch sử là điều đương nhiên khi nói rằng chúng ta nghiên cứu về văn chương thay vì nghiên cứu về Tự nhiên bởi vì người Hy Lạp, và người La Mã - học trò của người Hy Lạp đã làm như vậy. Đâu là cái mối nối kết các thế kỷ nằm xen giữa? Câu hỏi này gợi ý rằng châu Âu dã man chỉ đơn thuần lặp lại hoàn cảnh của người La Mã trên một quy mô lớn hơn và với một mức độ mạnh mẽ hơn. Châu Âu đã buộc phải học hỏi nền văn minh Hy-La; nó đã vay mượn thay vì phát triển nền văn minh của mình. Không chỉ đơn thuần vì mục đích vay mượn những tư tưởng tổng quát và sự diễn đạt nghệ thuật, mà còn vay mượn cả những mô hình luật pháp nữa, châu Âu đã tìm đến những tài liệu của các dân tộc bên ngoài. Sự phụ thuộc của châu Âu vào truyền thống lại càng trở nên lớn hơn bởi các mối quan tâm thần học chủ đạo của thời kỳ ấy. Bởi các tài liệu gốc mà Nhà thờ thấy hấp dẫn là các tài liệu được soạn bằng tiếng nước ngoài. Mọi thứ đều quy về việc coi học tập là đồng nhất với việc đào luyện về ngôn ngữ và coi ngôn ngữ của người có học vấn là một ngôn ngữ mang tính văn chương thay vì đó là ngôn ngữ mẹ đẻ.

Hơn nữa, quy mô trọn vẹn của sự kiện trên chỉ được nhận ra khi chúng ta thừa nhận rằng nội dung nói trên đã buộc phải có sự cầu viện đến một phương pháp biện chứng. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, “thuyết kinh viện” thường được dùng như là một từ ngữ chỉ trích. Thế nhưng “thuyết kinh viện” chỉ hoàn toàn có nghĩa là “phương pháp của nhà trường”, tức phương pháp của những người có học vấn. Về bản chất, nó chỉ là một sự hệ thống hóa hiệu quả cao của các phương pháp dạy thích hợp với việc truyền đạt một số lượng lớn các chân lý dựa vào quyền uy. Khi văn chương chứ không phải Tự nhiên và xã hội đương thời là cái cung cấp vật liệu của học tập, khi ấy các phương pháp buộc phải được điều chỉnh cho phù hợp với công việc định nghĩa, dẫn giải, và giải thích vật liệu đã được thừa nhận rộng rãi, hơn là để phù hợp với công việc nghiên cứu, khám phá, và phát minh. Về cơ bản, thuyết kinh viện nghĩa là sự phát biểu hệ thống hóa và vận dụng triệt để và nhất quán những phương pháp phù hợp với sự truyền đạt khi mà vật liệu của truyền đạt được cung cấp sẵn, chứ không phải là điều gì đó mà người học phải tự mình phát hiện ra. Chừng nào mà nhà trường vẫn còn dạy dựa vào sách giáo khoa và vẫn còn trông cậy vào nguyên tắc của quyền uy và nhồi nhét chứ không phải nguyên tắc của khám phá và tìm tòi, chừng đó các phương pháp của nhà trường vẫn là mang tính Kinh viện nhưng lại thiếu đi tính chính xác hợp logic và tính hệ thống của thuyết Kinh viện ở tình trạng tốt nhất. Ngoài tính không chặt chẽ về phương pháp và sự trình bày, khác biệt duy nhất là ở chỗ giờ đây môn địa lý, lịch sử, thực vật học và thiên văn học là một phần của tài liệu có tính quyền uy mà học sinh buộc phải học.

Vì thế, truyền thống Hy Lạp bị uổng phí tại nơi mà mối hứng thú nhân văn được sử dụng làm nền tảng của mối hứng thú tới Tự nhiên, và hiểu biết về Tự nhiên được sử dụng để cổ vũ các mục tiêu được phân biệt rõ là của con người. Đời sống tìm thấy sự cổ vũ ở quyền uy, chứ không phải ở Tự nhiên. Hơn nữa, Tự nhiên còn là một đối tượng của sự nghi ngờ đáng kể. Suy nghĩ về nó bị coi là nguy hiểm bởi điều đó dễ khiến con người không còn tin tưởng vào những tài liệu chứa đựng những nguyên tắc của đời sống. Hơn nữa, chỉ có thể nhận thức được Tự nhiên dựa vào quan sát; điều đó đòi hỏi tới các giác quan - thế nhưng giác quan lại đơn thuần mang tính vật chất xét như nó đối lập lại với một trí óc hoàn toàn phi vật chất. Vả lại, những lợi ích thiết thực của nhận thức về tự nhiên là hoàn toàn có tính vật chất và trần tục; chúng gắn với hạnh phúc về thể xác và mang tính thời gian của con người, trong khi đó truyền thống văn chương thì lại gắn với hạnh phúc có tính tinh thần và vĩnh cửu.

Chú thích

  1. Edwin Hatch (1835-1889): nhà thần học người Anh.
  2. Ảnh hưởng của những quan niệm và tập quán của người Hy Lạp đối với Nhà thờ Thiên chúa giáo, trang 43-44. [J.D]

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org
"Like" us to know more!