Bốc phệ

BỐC PHỆ

Lôi bốc phệ khởi trước từ vua Phục Hi, xem tượng Hà Đồ mà vạch ra tám quẻ: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Tám quẻ ấv là tám quẻ chính. Mỗi quẻ chính lại nhân ra tám quẻ trùng quái, tám tám thành ra 64 quẻ. Mỗi quẻ trùng quái có sáu nét vạch gọi là sáu hào, sáu mươi bôn quẻ thì cả thảy có 384 hào.

Trong 384 hào, mỗi một hào biến động lại hóa ra quẻ khác, cho nên cai quát hết muôn việc biến hóa của trời đất. Mà muôn việc trong trời đất thì không điều gì ra được ngoài lỗ âm dương ngũ hành. Phép bốc phệ chỉ suy về âm dương ngũ hành mà đoán hết được mọi việc.

Sau vua Phục Hi có vua Văn Vương đặt ra thoán từ là lòi đoán từng quẻ; ông Châu Công đặt ra hào từ là lời đoán từng hào. Đến Đức Khổng Tử lại đặt ra tượng từ là lời giải nghĩa các thoán từ hào từ của Văn vương Châu Công, từ đó các nhà bói toán cứ theo lời ấy mà đoán quẻ.

Phép bói dịch thì chỉ có hai cách: một là bói rùa, hai là bói cỏ thi. Các nhà thuật sô" về sau, lại suy diễn cái lẽ âm dương ngũ hành mà đặt ra nhiều phép bói như là ưởng bốc (bói bằng tiếng), ngoã bốc (bói bằng ngói), mễ bóc (bói bằng gạo), hoa thảo bốc (bói bằng cành hoa lá cỏ) v.v... Kê ra thì nhiều cách lắm, song tục ta theo dùng thì đại để có mấy lối kể sau này:

Thi bốc

Là phép bói cỏ thi. Phép này, trước hết phải có một bộ năm mươi chiêc cỏ thi, cắt đều nhau dài chừng ba bôn tấc, bỏ vào một cái tụi, đê cho sạch sẽ cân thận. Khi có việc gì cần phải bói thì mới đem bộ cỏ thi ra đặt trên một cái yên, thành kính mà đem việc của mình nghi ngờ, khấn xin thần minh chi giáo. Đoạn bỏ riêng một chiếc cỏ thi vào trong túi, đế sánh với thái cực, còn bốn mươi chín chiếc chia làm đôi mà đặt xuông hai cái khấc một mảnh ván con, rồi tay tả cầm lấy một nắm cỏ thi ở phía tả, lại lấy một chiếc cỏ thi ở cái khấc phía hữu cài vào khe ngón tay bên tả, để sánh với tam tài. Đâu đấy mới lấy tay hữu mà đếm nắm cỏ thi bên tay tả, cứ bổn một mà đếm, nghĩa là thủ tượng với tứ thòi. Đếm như thế rồi còn thừa số’ sau cùng hoặc một, hai, ba, bôn chiếc thì cài vào trong khe ngón tay vô danh. Đó gọi là trả số lẻ mà cài vào trong ngón tay để sánh với tháng nhuận

Đếm xong thì lại trả những sô" đếm rồi đê vào chỗ khấc lớn phía tả rồi cầm lấy một nắm ỏ phía hữu mà đếm bằng tay tả, cách đếm cũng như trước, rồi còn sô thừa thì cài vào khe ngón tay giữa. Đoạn lại trả số dã đếm rồi đê vào khấc lớn phía hữu.

Xong thì hợp cả ba sô" cài trên tay mà đặt xuổng một khấc nhỏ thứ nhất trên mảnh ván.

Đó là một lần đếm. Lần thứ hai dồn những cỏ thi đê hai khấc lớn làm một, rồi chia ra hai bên, lại theo cách trưốc mà đếm. Lần thứ ba cũng làm như vậy. Ba lần đếm như thê" rồi hợp cả sô" đã đêm còn được ba mươi sáu chiếc thì là hào lão dương, gọi là trùng, khuyên một cái vòng tròn làm dấu, còn ba mươi hai chiếc là thiếu âm, gọi là sách. Vạch hai nét như hình chữ bát làm dấu, còn hai mươi tám chiếc là thiểu dương gọi là đơn, vạch một chữ nhất làm dấu, còn hai mươi bốn chiếc là lão ăm gọi là giao, vạch chéo chữ thập làm dấu.

Ba lần đếm mối thành một hào, thành một hào rồi thì hợp cả lại mà đếm như trước. Đếm hai mươi tám lần thì được sáu hào, mới thành một quẻ. Thành quẻ rồi thì xem hào nào động biến làm sao, rồi cứ chiếu các lời của Văn vương, Châu Công Khổng Tử; hoặc là xét trong quái hoạch của Phục Hi mà đoán. Bói hay dở chỉ tại người đoán cao đoán thấp mà thôi.

Tục ta cho phép bói dịch rất thiêng liêng, cho nên khi xưa nhà vua có việc gì to tát quan hệ, thường sai bói dịch. Các nhà thi thư nước ta tin mến đạo dịch, cũng nhiều nhà chứa sẵn một bộ cỏ thi, để vào túi gấm rất cẩn thận và hương hoa thờ phụng quanh năm. Khi có việc quan trọng đem ra bói, cũng nhiều khi có diều linh nghiệm, nhưng có cao đoán mới hay.

Mai hoa bốc

Là phép bói chiết tự. Phép này của ông Thiệu Khang Tiết đời nhà Tông đặt ra, đã đặt sẵn từng quẻ và có sẵn những lời giải đoán. Ai có việc gì muôn bói thì tùy ý mình, muốn viết chữ gì thì viết, phải viết ra một chữ rồi mới trông hình trạng chữ hoặc đếm nét chữ mà khép vào quẻ, xem lời quẻ thế nào mới đoán được. Hoặc lấy ý nghĩa trong chữ mà đoán. Ví dụ một người bói việc cầu hôn có thành không, viết ra một chữ tử. Người đoán: chữ tử trên chữ nhất dưới chữ uyên.

Thế là nhất sàng cẩm bị túc uyên ương (một giường chăn gấm chim uyên ương ngủ), tất là việc cầu hôn thành. Lại một người xem vợ đi xa dã đến chưa, viết ra một chữ dạng. Người đoán: chữ dạng tựa như chữ ân, mà trên không có đầu; lại giông chữ nghĩa, mà dưới không có chân. Thế là đoạn ân tuyệt nghĩa, tất là không được gặp nhau v.v... Phép này cách đoán cũng mông mênh lắm, ta đôi khi mới có người xem chơi mà thôi.

Kim tiền bốc

Là phép bói gieo tiền đồng. Phép này thì từ Kinh phòng đời nhà Hán đặt ra. Vê sau ông Giã Hạc lại lập sẵn các quẻ, và nghị luận thêm tinh tường, cho nên lại gọi là phép bói Giã Hạc. Phép này giản tiện hơn cả các cách khác cho nên ta theo dùng nhiều, mà nhất là các thầy bói lại chỉ chuyên về phép ây.

Phép bói phải có ba đồng. Người xem bói hoặc bói việc công danh, hoặc hỏi việc tài lợi v.v... thì nói cho thầy bói biết. Thầy bói khâ'n rồi gieo quẻ. Hễ ba đồng ngửa cả gọi là trùng, ba đồng xấp cả gọi là giao, một sấp hai ngửa gọi là đơn, một ngửa hai sấp gọi là sách.

Mỗi lần gieo là một hào; Trùng là hào thái dương, giao là hào thái âm, đơn là hào thiếu dương, sách là hào thiêu âm.

Gieo sáu lần thành một quẻ, bấy giờ mới xem hào nào động, hào nào tĩnh mà đoán.

Sáu hào ăn theo năm việc là phụ mẫu, thê tài, huynh đệ, tử tôn, quan quỷ. Hễ hào nào động thì chủ về việc ấv ví như hào phụ mẫu động thì chủ về việc cha mẹ, hào tử tôn động thì chủ về việc con cháu v.v...

Đoán quẻ cốt nhất phải tính ngũ hành sinh khắc.

Ngũ hành tương sinh:

Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.

Lại cần nhất là phải xem thế ứng đứng vào hào nào. Thế tức là mình ứng là người ngoài, hễ mình đứng vào đâu là chủ vào mình quan hệ với việc ấv.

Xem quẻ lại phải xem nhật thần (ngày) nguyệt tưống (tháng). Hễ nhật nguyệt siqh phù vượng trợ cho mình là tốt, hình xung khắc hại với mình là xấu. Lại xem việc mình sở chủ, như mình chủ cầu danh thì xem hào quan quỷ, chủ việc buôn bán thì xem hào thê tài v.v... Việc sở chủ được sinh vượng thì hay, phải hình xung thì dở.

Phép bói này giản tiện mà cao đoán cũng hay. Nhưng nghề thầy bói thì chỉ thuộc lòng các lề lối, xem gia sự, hễ thây hào quan quỷ động thì cho ngay là có ma làm, đã xui nhà chủ phải cúng cáp thế này thế khác; xem cầu tài, thây hào thê tài động hoặc bị nhật thần nguyệt tướng xung khắc thì cho ngay là thất lợi, xui người ta giữ gìn cho khéo kẻo mất trộm. Thầy bói phần nhiều là nói dựa, may ra một trăm điều, cũng trúng một hai điều thì đã nổi tiếng là hay

Ngoài các phép trên này, ta còn cách bói Kiêu, bói âm dương nữa. Bói Kiều là mình có việc gì muôn được biết hay dở đường nào thì khấn với Thúy Kiều, Kim Trọng xin cho mây câu dòng nào, rồi mở cuốn sách Kiều, bất kỳ chỗ nào, gặp chỗ nào thì lấy mấy câu thứ mấy ở trang ấy mà đoán. Cách này là một cách bói chơi, nhưng cũng nhiều khi có người cho là nghiệm. Bói âm dương là mình có việc gì cầu khẩn với thần thánh, không biết việc ấy có nên không, hoặc hay dở thế nào thì lễ mà khấn xin một keo âm dương. Hễ gieo hai đồng tiền trên cái đĩa, một đồng sấp một đồng ngửa là sở cầu như nguyện; hai đồng xấp cả hoặc ngửa cả đều là không nên việc. Hoặc một đồng ngã một đồng còn quay thì là thần thánh cười chưa cho quyết bè nào, lại phải kêu xin gieo quẻ khác cho được biết chắc.

Nước ta tin việc quỷ thần, cho nên càng theo cách Tàu mà chuộng việc bói toán. Bói cốt là đem việc mình mà bói quỷ thần, đế quyết cái lòng mình ngờ vực. định cái sự mình hồ nghi, cho đặng biết đường hay lẽ phải đê theo về đường lành mà lánh đường dữ.

Việc bôb phệ là của các tiên thánh đặt ra, mà xét trong sử sách, phép bói cũng nhiều điều linh nghiệm lắm. Các thầy bói giỏi như Quản Lộ, Quách Phác xưa kia, đoán trăm quẻ trúng cả trăm, còn rành rành đê chuyện lại đời sau, không nên cho là điểu vô lý cả được.

Duy một điểu: phần ứng nghiệm thì ít mà phần viển vông thì nhiều; mà cũng chang mấy khi cao đoán, chang qua các thầy hói nói rờ nói rẫm, trăm điều làm sao chang tin được một, hai điểu.

Vả lại, người ta nên tin ỏ sức mình tài mình. Việc gì mình đã có chí thì phải làm nên được. Sự hay sự dở do ở mình mà mình làm việc gì thì tất mắt mình trông thấy trước, can gì phải hỏi đâu, mình cứ một mục đích, theo lõ phải, dù may dù rủi mặc dầu, can gi phải hỏi xem hay dở thế nào nữa. Ví dầu có thần thánh thì thần thánh cũng dạy mình theo lẽ phải, không có lẽ thần thánh thấy mình phải mà lại bảo không nên làm được. Còn như cái họa phúc, bảo rằng bói đế nhờ thần thánh dạy cho, đế biết đường trước mà liệu mình. Lời ấy thì lại thiêng lắm. Họa phúc là mình làm lâv chớ không tự đâu mà nếu có sự bât kỳ, một may một rủi, thì chẳng qua là sự xảy ra, chớ người hay, dẫu nghèo khổ cơ cực trăm nghìn năm vẫn còn tiêng hay, người dở dẫu giàu sang sung sướng, trăm nghìn năm vẫn là tiếng người dở, can gì phải liệu mình. Vậy thì phép bói, dù linh nghiệm dù không linh nghiệm thế nào mặc lòng, thiết tưởng người ta không nên tin, nghĩa là tin cũng vô ích không giúp thêm được việc gì mà lại thêm làm ngại lòng cho người ta nữa.

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!