Bệnh tê phù (Beri Beri) do thiếu Vitamin B1

Bệnh tê phù (Beri Beri) do thiếu Vitamin B1

Beriberi là một bệnh thiếu dinh dưỡng hay gặp ở những nước ăn gạo. ở nước ta, bệnh còn lưu hành nhất là vào các thời kỳ giáp hạt, sau úng lụt, ở các địa phương và các đơn vị ăn gạo có lệ xay xát cao và nghèo các thức ăn bổ sung. Ba thể lâm sàng hay gặp là:

- Thể ướt biểu hiện bằng phù và thường kèm theo suy tim.

- Thể khô: Viêm đa dây thần kinh.

- Thể trẻ em.

Bệnh có thể xảy ra thành dịch khi nhiều người cùng ăn chế độ ăn giống nhau dựa trên cùng một loại gạo. Thiếu Vitamin Bl còn gây ra một số bệnh cảnh lâm sàng hay gặp ở những người nghiện rượu. Đó là:

- Viêm đa dây thần kinh do rượu mà về lâm sàng không phân biệt được với Be ri be ri thể khô.

- Viêm cơ tim điều trị hiệu quả bằng Vitamin B1.

- Một thể viêm não gọi là hội chứng Wernicke Korsakoff.

A. Các thể lâm sàng

Bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng kín đáo. Trước tiên có thể thấy kém ăn, khó chịu, đi lại khó vì chân yếu và nặng, đôi khi có phù nhẹ ở mặt, thường đánh trống ngực và hay đau vùng trước tim, mạch hơi nhanh. Có cảm giác đau ở các cơ bắp chân và tê ở các chi. Phản xạ gân thường giảm, đôi khi tăng. Tình trạng trên có thể kéo dài, cuộc sống và lao động tuy có vẻ bình thường nhưng năng suất kém. Bất kỳ lúc nào bệnh cũng có thể chuyển sang các thể nặng hơn.

1. Thể ướt

Phù là bệnh cảnh tiêu biểu, có thể xuất hiện nhanh không những ở các chi mà cả ở mặt, thân và các hốc thanh mạc. Một đặc điểm cần lưu ý trong phù do thiếu vitamin B1 là phù từ dưới chân lên và bao giờ cũng đối xứng. Bệnh nhân thường đánh trống ngực và có thể khó thở, ăn kém và khó tiêu.

Các chi thường đau khi đi lại, cơ bắp chân thường sưng và đau khi ấn vào. Các tĩnh ltỉạch cổ thường nổi lên và đập mạnh. áp lực tâm trương thấp và áp lực tâm thu cao lên một cách không cân đối, mạch thường nhanh, da nóng do hiện tượng giãn mạch. Khi tim bắt đầu suy, da lạnh và tái nhất là ở mặt. Điện tâm đồ thường không đổi có khi có điện thế thấp, sóng T ngược chiều, tim to nhất là bên phải. Không có albumin niệu, tinh thần bệnh nhân bình thường. Bệnh nhân có thể phù nặng, suy tim, khó thở và chết.

2. Thể khô

Bệnh cảnh chính là viêm và liệt nhiều dây thần kinh ngoại vi biểu hiện băng sự suy yếu đối xứng hoặc mất cảm giác, vận động và các chức phận phản xạ thường là đoạn dưới của các chi. Các cơ bị teo và suy yếu dần, đi lại trở nên khó khăn. Bệnh nhân gầy mòn, lúc đầu phải chống gậy và cuối cùng không đi lại được ít khi gặp biểu hiện ở thần kinh trung ương. Bệnh mang tính chất kinh diễn và có thể lui khi chế độ ăn được cải thiện. Tình trạng suy mòn, liệt giường và rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiều khi bệnh nhân chết do lỵ hoặc lao phổi.

3. Beriberi trẻ em

Thường gặp ở những trẻ còn bú mẹ từ 2-5 tháng. Mẹ của các cháu có thể không có biểu hiện lâm sàng nhưng đã ăn một chế độ ăn nghèo vitamin và sữa của họ tiết ra cũng vậy.

Có thể cấp tính, có thể kinh diễn. ở thể cấp tính tim suy nhanh chóng: người mẹ có thể nhận thấy đứa trẻ bứt rứt và có triệu chứng khó thở. Đứa trẻ có thể đột ngột tím tái, co giật, khó thở, hôn mê và chết trong vòng 24 -48 giờ. Các trường hợp nặng có thể gặp biểu hiện mất tiếng từng phần hay hoàn toàn, tiếng khóc rên rỉ..

Thể kinh diễn ít gặp hơn, triệu chứng chủ yếu do rối loạn tiêu hóa: nôn, táo bón dai dắng, ngủ hay quấy. Các cơ thường nhão, giảm trương lực cơ. Da nhợt nhạt và thường có tím tái quanh môi. Bệnh nhân có thể suy tim và chết đột ngột.

4. Hội chứng Wernicke-korsakoff

Đó là một hội chứng thần kinh - tinh thần hay gặp ở bệnh nhân nghiện rượu do thiếu tiamin.

Các cơ ớ mặt bị yếu, bệnh nhân khó nhìn lên hoặc hai bên, có khi mất phương hướng và mệt mỏi, có khi mắt bị chứng giật nhãn cầu và người lảo đảo. Trước khi chưa biết điều trị bằng tiamin, tỉ lệ tử vong khá cao.

Các biểu hiện tinh thần thường là giảm trầm trọng khả năng nhớ và học nhưng các quá trình tư duy khác lại ít bị ảnh hưởng. Có khi bệnh nhân quên hắn những chuyện vừa xảy ra trong ngày nhưng lại bịa ra những chuyện đã qua.

Hội chứng này hay gặp ở những người nghiện rượu vì các đối tượng này dự trữ tiamin thường ít, tuy vậy vẫn cần tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa rượu và tiamin và các tổn thương ở não.

B. Điều trị và phòng bệnh

1. Điều trị

Khi đã xác định bệnh tê phù, cần điều trị càng sớm càng tốt. Nghỉ ngơi hoàn toàn và tiêm bắp lập tức liều 25mg tiamin hai lần/ngày, trong 3 ngày, sau đổ cho uống liều 10mg tiamin hai hoặc ba lần mỗi ngày cho đến khi phục hồi. Đồng thời cải thiện chế độ ăn để giảm dần lượng thuốc. ở trẻ em cần cho tiêm bắp liều 10- 20mg/ngày trong 3 ngày đầu. Sau đó cho uống liều 5-10mg/hai lần trong ngày. Đồng thời cho người mẹ uống 10mg tiamin hai lần mỗi ngày. ở các trường hợp nặng hoặc hơn mê, co giật, liều ban đâu có thể lên tới 25-50mg tiêm mạch máu rất chậm.

2. Phòng bệnh

- Gạo là nguồn cung cấp vitamin B1 quan trọng do đó cần chú ý đến tỉ lệ xay xát thích hợp, không được quá trắng và phải bảo quản gạo tốt.

- Tăng cường các thực phẩm giàu vitamin B1 trong khẩu phần ăn hằng ngày đặc biệt là họ đậu, rau đậu..

- Giáo dục dinh dưỡng nhất là đối với người mẹ trong thời kì có thai và cho con bú.

- Ở một số thời kì (sau úng lụt, giáp hạt) hoặc một số đối tượng (người mẹ có thai, cho con bú, trẻ em) có thể bổ sung vitamin hoặc các viên cám.

- Phòng chống nạn nghiện rượu

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
  • Tác giả: Viện thông tin thư viện y học trung ương
  • Nguồn: ebooks.vdcmedia.com
"Like" us to know more!