Bản chất con người

I. BẢN CHẤT CON NGƯỜI

1. Một số quan niệm triết học trước Mác về bản chất con người

a. Quan niệm duy tâm

  • Con người là sản phẩm của ý niệm (Hegel). Con người và vạn vật do đạo sinh ra, Đạo là nguồn gốc của vũ trụ và con người.
  • Con người do thần thánh hoặc thượng đế sinh ra, cuộc sống con người do đấng tối cao sắp đặt. Con người có 2 phần: thể xác và linh hồn. Thể xác là phần nhục dục, thấp hèn. Tinh thần, linh hồn là vĩnh cửu và cao quý.

b. Quan điểm duy vật siêu hình

  • Các nhà duy vật Pháp thế kỷ 18 và Feuerbach (nhà triết học cổ điển Đức) phê phán quan điểm duy tâm và giải thích nguồn gốc con người theo quan điểm duy vật: Họ thừa nhận con người là một thực thể tự nhiên (Feuerbach) "Không phải chúa tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người". Tinh thần con người là sản phẩm của vật chất, tinh thần phụ thuộc vào thể xác (LaMetrie). Tuy nhiên các nhà duy vật siêu hình đã tách rời những mặt tư nhiên và xã hội (chỉ thấy mặt tự nhiên, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên, coi đó là chỉnh thể bất biến) hoặc là xem xét con người ở những cá nhân riêng lẻ tách khỏi quan hệ hiện thực; hoặc xem con người ở tính loài của nó với bản chất là sống và suy trì sự phát triển nòi giống.
  • Các quan niệm trên chưa lý giải vì sao con người khác nhau ở các thời kỳ lịch sử khác nhau; tâm lý ý thức mỗi người khác nhau; con người khác con vật ở chỗ nào?.v.v..

2. Bản chất con người theo quan niệm của triết học Mác-Lênin

Triết học Mác - Lênin xem xét con người một cách toàn diện trong tính hiện thực và trong sự phát triển thống nhất của mặt sinh học và mặt xã hội. Trong đó mặt xã hội quy định bản chất của con người.

a. Con người là một thực thể sinh học -xã hội

  • Mặt sinh học của con người thể hiện ở chỗ: Con người tồn tại được trước tiên phải có cơ thể sống. Cơ thể sống là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên. Con người phải đấu tranh để sinh tồn và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, các quy luật sinh học (quy luật sinh tử, quy luật về quan hệ giữa cơ thể và môi trường, quy luật dinh dưỡng, quy luật di truyền và biến dị, quy luật đồng hóa, dị hóa…) Con người có quan hệ với tự nhiên. Con người không chỉ sống dựa vào tư nhiên mà còn cải biến tự nhiên. Tuy nhiên triết học Mác không thừa nhận quan niệm cho rằng cái duy nhất tạo nên con người là đặc tính sinh học.
  • Mặt xã hội của con người thể hiện con người là sản phẩm của các quan hệ xã hội đồng thời là chủ thể của lịch sử.
    • Con người là sản phẩm của các quan hệ xã hội nghĩa là hoàn cảnh xã hội tạo ra con người, con người chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, thể hiện ở chỗ con người là con người của lịch sử, con người của giai cấp trong xã hội có giai cấp, con người của dân tộc nhất định.
    • Con người là chủ thể của lịch sử nghĩa là con người không chỉ phụ thuộc một cách giản đơn vào hoàn cảnh sống mà trong chừng mực nhất định con người có thể tác động trở lại hoàn cảnh để cải biến hoàn cảnh sống làm cho hoàn cảnh sống ngày càng thuận lợi hơn, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Bởi vì con người có lao động, có ý thức, có văn hóa.
    • Mac viết: "Hoàn cảnh tạo ra con người trong chừng mực con người cải tạo hoàn cảnh"
  • Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội. Hai mặt này vừa đối lập nhau, vừa quy định ràng buộc và làm tiền đề cho nhau, trong đó mặt tự nhiên quyết định sự tồn tại của con người, còn mặt xã hội quyết định bản chất con người.

b. Bản chất xã hội của con người

  • Con người có bản tính xã hội vì con người khác về chất với động vật ở nhiều điểm, trong đó sự khác nhau cơ bản nhất là con người có lao động sản xuất, con người có hoạt động thực tiễn còn con vật thì không. Bản thân hoạt động sản xuất của con người là hoạt động mang tính xã hội. Hoạt động của con người gắn liền với xã hội và phục vụ cho xã hội. Tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm con người khác con vật. Con người có lao động và giao tiếp xã hội. Từ đó con người có ngôn ngữ, có ý thức và sáng tạo ra văn hóa
  • Ở con người bản năng sinh vật hòa nhập với tiến bộ xã hội làm cho tính sinh vật trở nên tính người. Bằng lao động sáng tạo, con người vượt lên trên khỏi loài động vật cả về quan hệ xã hội và quan hệ sinh học. Văn hóa làm cho con người khác về chất với con vật.
  • Bản chất xã hội của con người không phải được hình thành một lần là xong mà nó cũng biến đổi và không ngừng được hoàn thiện trong quá trình con người lao động cải biến tự nhiên và xã hội. Qua đó, con người cũng cải tạo bản thân mình.

Do vậy bản chất con người là bản chất xã hội trên nền tảng sinh học. Mac viết: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội".

  • Quan niệm đúng đắn của triết học Mác về bản chất con người đã chống lại quan niệm thần thánh hóa con người của chủ nghĩa duy tâm, khắc phục quan niệm siêu hình coi con người chỉ thấy mặt tự nhiên mà không thấy mặt xã hội. Nhưng phải thấy rằng bản chất xã hội là cái chung nhất, sâu sắc nhất quyết định sự vận động và phát triển của con người, chứ không phải là cái duy nhất. Nếu tuyệt đối hoá mặt xã hội mà xem nhẹ mặt sinh học của con người cũng là sai lầm.

c. Liên hệ thực tiễn

Ở Việt Nam vấn đề phát triển con người là một vấn đề có tính chiến lược của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội:

  • Phát triển con người toàn diện cả về thể, trí, đức, mỹ.
  • Muốn giải phóng con người và phát triển con người toàn diện phải xây dựng xã hội không có bóc lột, công bằng, dân chủ, văn minh.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Giáo trình Triết học Mác Lênin
  • Đại học An Giang
"Like" us to know more!