Bướu cổ do thiếu Iốt

Bướu cổ do thiếu Iốt

Bệnh bướu cổ do thiếu iốt là một bệnh có tầm quan trọng lớn ở các vùng núi Việt Nam. Theo số liệu của Bệnh viện Nội tiết, vùng bướu cổ Việt Nam hiện nay đã được xác định bao gồm toàn bộ vùng núi thuộc 15 tỉnh với một số dân cần được phòng bệnh khoảng 7 triệu người. Tỷ lệ mắc bệnh chung ở miền núi phía bắc là 38%, ở miền núi trung bộ là 27%, và ở Tây Nguyên là 29%. Ở các vùng bướu cổ nặng tỷ lệ mắc bệnh thiểu trí (Crenitism) vào khoảng 1 8- 2%. Năm 1993 một cuộc điều tra trên 3000 trẻ em lứa tuổi học sinh cho thấy 94% có biểu hiện thiếu iốt trong đó 55% thiếu nặng, 23% thiếu vừa, 16% thiếu nhẹ. Đáng chú ý là ở nhiều vùng đồng bằng củng bị thiếu iốt:

A. Nguyên nhân và ý nghĩa sức khoẻ xã hội

Nội tố của tuyến giáp trạng là tyroxin cần thiết cho sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em và điều hòa tiêu hao năng lượng. Iốt là thành phần cơ bản của tyroxin, đó là một chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cơ thể với nhu cầu hàng ngày chỉ từ 0,1 - 0,15 mg. Hàm lượng chất iốt trong thức ăn cả thực vật và động vật phụ thuộc vào hàm lượng iốt có trong đất ở địa phương đó. ở nhiều nơi, nhất là vùng núi, đất và nước rất nghèo chất iốt. ở một số thức ăn như sắn, bắp cải có một số hợp chất chứa thioglycozit, thioxyanit có khả năng gây bướu cổ trên thực nghiệm nhưng chưa có căn cứ để chứng minh vai trò đó ở người.

Khi thiếu iốt trong khẩu phần, sự tạo thành hocmôn tyroxin bị giảm sút. Để bù trừ vào thiếu hụt đó tuyến giáp trạng dưới sự kích thích của hoocmôn tuyến yên phải sử dụng có hiệu quả hơn nguồn iốt đang có và phì to dần. Trong phần lớn trường hợp, sự phì to tuyến giáp trạng biểu hiện một cơ chế bù trừ nên chức phận của nó vẫn duy trì được bình thường. Tuy vậy nếu tình trạng thiếu iốt quá trầm trọng thì có thể xuất hiện thiểu năng tuyến giáp. Vấn đề nghiêm trọng nhất của thiếu iốt là ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai. Người ta thấy rằng, nếu chế độ ăn thời kỳ có thai nghèo iốt có thể ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ của đứa con sau này. ở vùng bướu cổ nặng ngoài một số ít trẻ bị chứng thiểu trí còn có nhiều trẻ khác khả năng phát triển trí tuệ kém. Điều đó ảnh hường rất lớn đến. cá một cộng đồng sau này.

B. Phân loại

Cách phân loại đơn giản nhất là dựa vào kích thước của bướu cổ.

Bảng 6. Phân loại bướu cổ

Kipkis.com-Dinh-duong-va-an-toan-thuc-pham-16.png

Người ta gọi là bệnh bướu cổ địa phương khi:

- Ít nhất 5% thiếu niên có bướu cổ độ 1 trở lên.

- Ít nhất 30% số người trưởng thành có bướu có độ Ob trở lên.

Ở những nơi có trên 5% số em gái 12-14 tuổi có giáp trạng phì đại (từ độ Ob trở lên) đòi hỏi phải có chương trình can thiệp. ớ các vùng có bướu cổ địa phường, các biểu hiện lâm sàng thường xuất hiện ở các em gái hơn là các em trai. ở nữ giới do nhu cầu iốt tăng lên trong thời. kỳ có thai và cho con bú nên các bướu cổ thường to lên dần ngược lại ở nam giới chúng có khuynh hướng nhỏ dần đi sau thời kỳ dậy thì.

C. Phòng chống bệnh bướu cổ

Phòng chống bướu cổ địa phương là phải thỏa mãn nhu cầu iốt của nhãn dân vùng đó bằng cách này hay cách khác. Thông qua quá trình phát triển kinh tế và mở mang màng lưới giao thông, các thức ăn có nhiều iốt ở vùng biển có điều kiện chuyên chở lên miền núi, đó là những biện pháp dài hơn đòi hỏi thời gian và đầu tư lớn. Vì vậy cần phải song song tiến hành các biện pháp can thiệp trực tiếp, cụ thể là:

1. Trộn iốt vào muối ăn

Đó là biện pháp đã và đang được áp dụng có hiệu quả ở nhiều nước. Mức thích hợp là một phần iốt cho 25.000 đến 50.000 phần muối. ở Việt Nam, công thức trộn là một 2,5 gam kaliiodat và 25,5 gam canxi-cacbonat (chất ổn định) cho túi muối 50 kg.

2. Tiêm bắp dầu iốt hóa.

Ở những vùng quá xa xôi cách trở và nhất là có tỷ lệ mắc bệnh cao người ta áp dụng phương pháp tiêm bắp dầu iốt hóa cho phụ nữ ở thời kỳ sinh đẻ.

Nhờ chất iốt trong dầu hấp thụ chậm nên mỗi lần tiêm có thể đáp ứng được nhu cấu từ 3 đến 5 năm. Nếu biện pháp này được áp dụng khi mới bắt đầu có thai, nó phòng ngừa được tình trạng thiểu trì đối với đứa trẻ sau này.

Vấn đề tồn tại là giá thành quá đắt. ở nước ta, từ những năm 1980, đã áp dụng thí điểm tiêm lipiodol ở một số vùng núi cao và hẻo lánh. Từ tháng 1 năm 1995, chính phủ đã chủ trương toàn dân dùng muối iốt.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
  • Tác giả: Viện thông tin thư viện y học trung ương
  • Nguồn: ebooks.vdcmedia.com
Don't forget to follow us on Facebook!