16 bí quyết để hái ra tiền/Lời tự luận

Lời tự luận

Viết quyển sách này, tôi chứng tỏ rằng công việc doanh nghiệp do một khoa học mà ra.

Tôi không dám quả quyết rằng khoa doanh nghiệp là một khoa học đầy đủ; khoa học ấy chưa có phép tắc, định lý, nguyên tắc được mọi người công nhận, và nó còn hỗn độn, đầy-dẫy những điều bất-thường, những ý kiến kỳ quái.

Có lẽ một số nhà doanh nghiệp đại-tài đã xứng danh là bực tiền khu, vì họ đã đưa ra được một ít nguyên tắc và đã thành công một cách rõ ràng.

Người ta cũng từng thấy một số công xưởng được tổ chức trên một nền tảng khoa học và được hưng vượng khác thường.

Kể ra thì "Khoa doanh nghiệp" là một khoa học ít người nói đến. Người ta mới thấy chừng mươi quyển sách có giá trị nói đến khoa ấy. Những tài liệu hiếm hoi thâu góp được đều do trường học dạy ra; chỉ có một số ít người biết dùng những tài liệu ấy.

Tôi tưởng đã đến lúc các nhà đề xướng "Khoa học doanh nghiệp" nên công bố những điều họ đã tìm kiếm được: một khoa học không thể nào sinh trưởng trong bóng tối được.

Khoa học ấy ra đời chắc chắn sẽ bị công kích, nhưng với sự cương quyết của những kẻ chủ trương, nó sẽ phát triển đúng theo đà của nó.

Nếu toán học có những phép tắc nhứt định gọi là định lý thì "Khoa doanh nghiệp" cũng vậy. Khoa doanh nghiệp cũng có những định lý làm thành trụ cốt căn bản cho nó. Định lý ấy đối với nhà doanh nghiệp cũng như kim chỉ nam đối với người thuỷ thủ, cái cưa đối với người thợ làm sườn nhà, cái kẽ chỉ (tire-ligne) đối với nhà kiến trúc.

Để giải nghĩa ràng chữ định lý theo tôi hiểu, tôi muốn nhắc lại mười hai định lý của Euclide. Mười hai định lý ấy như sau nầy:

1.-Hai số lượng đều bằng một số lượng thứ ba, hai số lượng ấy bằng nhau.

2.-Hai số lượng bằng nhau thêm vào hai số lượng bằng nhau, tổng số cũng bằng nhau.

3.-Hai số lượng bằng nhau rút bớt trong hai số lượng bằng nhau, số còn lại cũng bằng nhau.

4.-Hai số lượng bằng nhau thêm vào hai số lượng không bằng nhau, tổng số không bằng nhau.

5.-Hai số lượng bằng nhau rút ở hai số lượng không bằng nhau, số còn lại không bằng nhau.

6.-Hai số lượng đều bằng xấp đôi số lượng thứ ba, hai số lượng ấy bằng nhau.

7.-Hai số lượng đều bằng phân nửa số lượng thứ ba, hai số lượng ấy bằng nhau.

8.-Hai khối để chồng lên nhau và choáng một không gian như nhau, hai khối ấy bằng nhau.

9.-Toàn thể lớn hơn một phàn.

10.-Hai đường thẳng không, làm thành một diện tích.

11.-Tất cả các góc thẳng đều bằng nhau.

12.-Hai đường thẳng gặp nhau thì cả hai không cùng song-song với đường thẳng thứ ba được.(Định lý của Playfair).

Muốn tạo một cơ-sở cho kỹ-hà-học, người ta dùng những định nghĩa, những giả thuyết. Và dựa vào những định nghĩa, những giả thuyết, người ta đặt ra những định lý kỹ hà (théorèmes), và dựa vào những định lý kỹ-hà ấy người ta đặt ra những bài toán. Người ta dùng sự xác định này để tạo ra sự xác định khác, rồi cứ thế dựng thành, một toà tri thức rất chắc-chắn.

Đó là nói kỹ-hà-học. Đến như khoa doanh nghiệp thì người ta gặp nhiều nỗi khó khăn hơn. Công việc doanh nghiệp tuỳ thuộc nhiều yếu tố thường thay đổi: trong công việc ấy người ta không gặp những đường thẳng, những góc nhứt định, những hình rõ ràng, mà lại gặp những điều kiện, những người, những hàng hóa thay đổi luôn luôn.

Khoa doanh nghiệp vô cùng phức tạp hơn kỹ-hà-học. Sự phức tạp ấy không cấm ta đi mạnh vào sự tìm hiểu khoa học ấy được.

Không có một khoa-học nào hoàn toàn. Khoa học đúng đắn hơn hết cũng chỉ là một mớ tri thức nằm giữa một sự huyền bí bao-la, không khác nào một vành ánh sáng nằm giữa những đêm tối bao-la.

Nếu chúng ta có thể chứng minh được rằng công việc doanh nghiệp không tuỳ thuộc sự may-mắn, sự ngẫu nhiên, không tuỳ thuộc những trường hợp riêng của từng người, tức là chúng ta đã bắt đầu dựng nên khoa học doanh nghiệp rồi đó. Khi nào chúng ta có đủ sức giải quyết một vấn đề doanh nghiệp nào đó, chúng ta có thể nói tri thức của chúng ta là khoa học.

Khoa-học, tức là sự xác định và sự tiên liệu. Sự tiên liệu ấy phải dùng sự khảo-cứu kỹ-lưỡng và sự phân loại các sự thật làm nòng cốt.

Tôi không dám quả quyết rằng với trình độ hiện tại của chúng ta, chúng ta sẽ có ngày đủ sức tiên đoán dễ dàng được một sự khánh-tận, như chúng ta đã tiên-đoán nhựt thực nguyệt thực. Tôi chỉ nói rằng trong bao nhiêu thế kỷ, các nhà thông thái tận lực khảo cứu khoa thiên vắn, do đó chúng ta mới tìm được cách tiên đoán nhựt thực nguyệt thực. Ngược lại, từ xưa, người ta không bao giờ học làm công việc doanh nghiệp. Người ta làm công việc ấy một cách mơ hồ, một cách cầu may.

Cố nhiên "khoa doanh nghiệp" không phải tự các đại học đường mà ra. Những giáo sư đại học đường cố ý đứng ngoài thế giới doanh nghiệp mà họ không bao giờ để ý đến.

Hơn nữa, họ còn cho rằng trong khoa doanh-nghiệp không có gì xứng đáng để họ tìm tòi khảo cứu.

Phần lớn các giáo sư đại học đường coi ân huệ của nền văn minh mà họ được hưởng như là của tạo hoá ban cho. Đối với họ, các thiên tài có công trong nền kỹ-nghệ và thương mãi không có một chút giá trị nào.

Vì lẽ đó mà không một trường học nào được thành lập để tuyên truyền khoa học ấy. Ở Huê-Kỳ, công việc doanh nghiệp chiếm một địa-vị quan trọng hơn nào hết, mà chỉ có năm hoặc sáu đại học đường nhìn nhận sự cần thiết phải khảo cứu khoa học ấy mà thôi..

Cũng vì lẽ đó mà thiên văn học, địa chất học, hoá học, cơ-khí-học, sinh vật học và bao nhiêu khoa học khác đều phát triển rất mạnh, còn khoa doanh nghiệp thì còn ở trong thời kỳ phôi thai.

Nếu quả một khoa học doanh nghiệp đáng gọi là khoa học ra đời được, tất phải nhờ đến những nhà doanh nghiệp đứng ra sáng lập và đeo đuổi đến cùng.

Những nhà sáng lập khoa doanh nghiệp không phải là những người chuộng lý thuyết, không phải những người vô kinh nghiệm. Khoa học ấy lại càng không phải là sự nghiệp của một người: nhiều quan niệm khác nhau, nhiều ý kiến khác nhau được tập hợp lại và vượt quá sức của một người.

Phần to lớn nhứt mà một người có thể góp vào khoa học ấy như Pasteur đã góp vào y học, và Darwin góp vào khoa học tự nhiên, ấy là lập thành vài nguyên tắc căn bổn.

Riêng về phần tôi, lẽ ra tôi phải cáo lỗi đã nhúng tay vào một công việc này. Thật ra tôi không phạm một lỗi nào. Nếu tới thành công được thì tốt, bằng không "cũng vẫn tốt, nhưng ít tốt hơn", nói theo lời của Herbert Spencer.

Những điều tôi có thể nói ra đây, tôi đã gặp được nhiều cơ-hội đặc-biệt, không phải để thu-nhặt tài-liệu, mà còn để thí-nghiệm kết-quả của những điều tôi quan-sát được trong cuộc hoạt-động doanh-nghiệp hiện-tại. Tôi đã bỏ ra đến hai chục năm để hoàn-thành cuộc thí-nghiệm: bao nhiều đó có đủ binh-vực cho sự gắng sức của tôi đây chăng?

Những định-lý của tôi lập thành đây, hẳn có nhiều cái còn khuyết-điểm và có khi tôi đem phổ-thông ra một cách vội-vàng quá. Người đi tiên-phong thường hay phạm vào sự thái-quá ấy. Bởi vậy công-việc tôi làm có lắm chỗ hở cho sự chỉ trích và phỉ-báng.

Nhưng tôi sẽ chứng-tỏ một sự thật mà tôi không có quyền hoài-nghi hay chối-cãi, sự thật ấy hiện có. Sự thật ấy là sự tiến-triển của công-việc doanh-nghiệp phải tuỳ theo những phép-tắc nhứt-định, phải tuân theo những ĐỊNH LÝ. Tôi phải chứng-tỏ rằng công-việc doanh-nghiệp-không phải xây-dựng trên một miếng đất xốp không đủ sức chịu-đựng nần-tảng của khoa-học. Trên miếng đất ấy tôi sẽ xây một cái lòng bằng đá cuội, tôi sẽ đặt nền-móng. Như vậy sẽ có nhiều người đến nữa: họ sẽ xây dựng một cách chắc-chắn hơn.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: 16 bí quyết để hái ra tiền
  • Tác giả: Herbert N. Casson
  • Người dịch: Phạm Cao Tùng
  • Nhà xuất bản Đại Nam
  • Nguồn: TVE-4U
Don't forget to follow us on Facebook!