Đi Mỹ lần hai

9. Đi Mỹ lần hai

Phái người đi nhận tàu

Năm Keiō thứ ba (1867-ND), tôi lại lên đường đi Mỹ. Đó là lần thứ ba tôi được đi nước ngoài. Ngày 23 tháng Giêng năm Keiō thứ ba, tôi rời cảng Yokohama. Về chuyến đi này cũng có rất nhiều chuyện để kể.

Chuyện là trước năm đó, công sứ người Mỹ Robert Hewson Pryun sang Nhật. Lúc đó, Mạc phủ cho rằng, phải xây dựng quân hạm và nhờ ông ta chỉ cho cách mua. Tổng số tiền đã giao trong nhiều lần là 80 vạn đô-la và có lẽ con tàu đã sắp hoàn thành. Vì vậy, khoảng năm Bunkyū thứ ba, một con tàu mang tên Fujiyama (Phú-Sĩ-Sơn) đã được đóng xong, với trị giá 40 vạn đô-la. Thế nhưng sau đó, Mạc phủ rơi vào tình trạng hỗn loạn và phía bên Mỹ cũng xảy ra nội chiến, gọi là Chiến tranh Bắc-Nam (1861-1865) nên từ đó không có thông tin qua lại.

Dù thế nào, trong tổng số tiền đã giao là 80 vạn đô-la mới chỉ có một con tàu trị giá 40 vạn đô-la được trả về, còn sau đó không có gì thêm nữa. Không có manh mối nào nên Mạc phủ quyết định đích thân phía Nhật sẽ đi nhận tàu, tiện thể sẽ mua thêm cả súng, nên khi đó người được phong làm trưởng đoàn là ông Ono Yūgorō (Tiểu-Dã Hữu-Ngũ-Lang). Ông giữ chức phó trong Bộ phận chuyên trách về tài chính với chức vụ Okanjō Gimmi-yaku (Ngự-khám-định Ngâm-vị-chức). Trong chính phủ lúc bấy giờ, ông là người vừa có quyền lực vừa có địa vị cao. Ông được ra lệnh làm trưởng đoàn, còn chức phó thì được phong cho ông Matsumoto Judayū (Tùng-Bản Thọ-Thái-Phu). Điều đó được quyết định từ mùa đông năm trước.

Tôi cũng muốn đi nên nhiều lần đã đến nhà ông Ono nhờ. Tôi xin ông cho tôi đi cùng. Ông nói sẽ dẫn đi và thế là tôi được quyết định tháp tùng ông. Vì là đi nhận tàu, nên trong số những người đồng hành cũng có người là hải quân có cả phiên dịch nữa.

Tàu chở bưu phẩm vượt Thái Bình Dương đầu tiên

Đó là năm mà lần đầu tiên tàu chở bưu phẩm giữa Nhật với Mỹ qua biển Thái Bình Dương được khai thông. Con tàu cập cảng của Nhật đầu tiên là Cololado và chúng tôi lên đó đi. Lần trước đi Mỹ, vì là tàu nhỏ, phải mất 37 ngày lênh đênh trên biển, nhưng tàu Cololado có chân vịt, trọng tải 4000 tấn, nên trên đó thực sự như chốn thiên đường. Và ngày thứ hai mươi hai kể từ khi tàu khởi hành chúng tôi đã đến được San Francisco.

Nói là đến nơi, nhưng không phải như bây giờ, đó là thời chưa có đường sắt, nên phải vòng qua Panama. Chúng tôi nghỉ lại San Francisco hai mươi ngày, từ đó lên một con tàu khác của Công ty tàu biển Thái Bình Dương đi Panama, sau đó lên tàu hơi nước vượt eo biển đó sang phía bên kia, lại lên tàu và đúng ngày 19 tháng 3 thì đến New York. Chúng tôi trọ lại Washington, trước hết gặp Quốc vụ trưởng để nói về chuyện tiền bạc như đã nêu trên.

Những mảnh biên lai

Chỉ qua chuyện này cũng có thể hiểu về tình hình Mạc phủ lúc đó. Họ hiểu rõ là khi chúng tôi lên đường, phải có biên lai ghi 80 vạn đô-la để dùng khi đàm phán với phía bên kia. Thế nhưng chỉ toàn những mảnh giấy vụn ghi nào là 10 vạn, nào là 5 vạn. Có mười tờ như thế. Trong đó, còn có mấy mảnh giấy hình tam giác chỉ biên nhận mấy vạn đô-la và tên một người là Pruyn. Không ghi những khoản ước định như nhận để làm gì, tại sao, hoàn toàn không ghi gì cả, chỉ viết là đã nhận mà thôi.

Về mặt lý, chúng tôi ở thế yếu, có thể nói là không có bằng chứng gì. Vì vậy, trước khi lên đường đã có nhiều tranh cãi về chuyện này. Cuối cùng, quyết định một lý lẽ là: Ngược lại như thế lại hay. Bên phía Nhật, mọi sự đều tin tưởng vào công sứ của Mỹ. À, mà không phải tin tưởng vào vị công sứ, mà chính phủ Nhật tin tưởng vào chính phủ Mỹ! Thế nên, không cần viết chứng nhận cũng như không cần cam kết. Nếu đã nhận thì chỉ cần nói bằng miệng rằng, đã nhận là quá đủ. Những mảnh giấy chỉ ghi lại con số cho nhớ thôi và sẽ không đưa ra như những bằng chứng.

Chúng tôi sang đó và đề cập vấn đề thì công sứ Pruyn lập tức ra mặt. Ông ta ra mà không nói gì cả. Ông chỉ bảo giao tiền hay tàu, thế nào cũng được mà không hề có lời phàn nàn.

Mua tàu Azumakan

Trước hết, chúng tôi an tâm về điều đó. Về phía chúng tôi cũng cần mua một con tàu, nên đi lòng vòng nhiều nơi xem xét, cuối cùng thấy con tàu có tên là Stone Wall là được. Con tàu đó sau khi về Nhật đổi tên thành Azumakan (Đông-Hạm). Chúng tôi quyết định mua con tàu có vỏ bọc bằng sắt này và ngoài ra còn mua thêm mấy trăm, mấy ngàn khẩu súng tiểu. Thế mà vẫn còn thừa bảy, tám vạn đô-la. Khoản tiền đó tạm gửi lại chính phủ Mỹ.

Về hành trình của con tàu, chúng tôi về trước, những người thuộc Bộ hải quân sẽ về sau. Và chúng tôi thuê thêm một thuyền trưởng người Mỹ đưa con tàu về Nhật. Mọi chuyện thế là xong.

Trả hai lần tiền

Con tàu đó về Nhật đúng lúc chính phủ Minh Trị của phong trào vương chính duy tân lên nắm quyền, nghĩa là năm Minh Trị thứ nhất (1868-ND). Sau này, khi gặp anh Yuri Kimimasa (Do-Lợi Công-Chính), người nắm kế toán lúc bấy giờ, mới biết là lúc đó đã rất bí khi phải trả nợ. Chính phủ Minh Trị không có tiền, nhưng cuối cùng cũng phải xoay xở mấy chục vạn đô-la để trả. Tôi mới bảo: “Nhầm tai hại quá! Bên phía mình còn thừa bao nhiêu và gửi lại họ cơ mà!".

Nghe thấy thế, anh Yuri mới vỡ lẽ và ngớ người ra vì sửng sốt. Không hiểu thế nào và ở đâu mà đã có chuyện trả chồng chéo hai lần tiền. Không thể có chuyện người Mỹ lấy, mà số tiền đó đã đi lòng vòng đâu mất chứ không sai.

Ghét thói lộng hành vô lối của viên chức

Mạc phủ - Đồng đô-la rẻ

Chuyện đó xin tạm gác lại. Bản thân tôi lại có chuyện không mấy dễ chịu. Là bởi vì tuy tôi làm cho Mạc phủ, nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ phải tìm cách nào để giúp Mạc phủ. Tôi ghét nhất là tỏa quốc và tiếp đến là chế độ đẳng cấp cổ lỗ, phi lý. Thế nên, tất cả những người làm trái với điều này tôi đều cho là kẻ thù của mình. Ngược lại, những người chủ trương tỏa quốc hay những người theo cổ phong cũng hận thù những nhà Tây phương học như những kẻ ngoại đạo.

Quan sát Mạc phủ, tôi thấy họ hoàn toàn là những người theo cổ phong, không hề nghĩ đến việc mở mang đất nước hay chủ nghĩa tự do. Chẳng hạn, gần đây có một doanh nhân của Mạc phủ là ông Mitsui Hachiroemon (Tam-Tỉnh Bát-Lang-Hữu- Vệ-Môn). Ông không chỉ phải nghe Mạc phủ mà thói thường là phải lo cả những việc riêng cho viên chức của Mạc phủ nữa. Bởi vậy, chẳng hạn trong chuyến đi Mỹ lần này, nhận từ Mạc phủ 1 Bu tiền bạc thì khi đi Mỹ phải đổi tiền đó ra đồng đô-la. Nhưng đó đúng là lúc giá cả thị trường của đồng đô-la thay đổi từng ngày, việc đổi tiền rất phiền toái. Thế nên, viên chức trong đoàn gọi người của ông Mitsui đến nhà nghỉ ở Yokohama, hỏi han về thời giá đồng đô-la và bảo: “À, ra thế. Đồng đô-la bây giờ không rẻ. Nhưng ông Mitsui chắc phải có tiền đô-la đã mua vào từ khi còn rẻ trước kia. Ta muốn đổi 1 Bu lấy đồng đô-la rẻ ấy!”. Người của ông Mitsui nghe thấy vậy, nhưng vẫn phải phủ phục: “Con hiểu rồi ạ. Con sẽ đổi đồng đô-la rẻ ấy cho ông!” và đem tiền đô-la đến đổi với giá rẻ là bao nhiêu đó.

Tôi đứng bên chứng kiến cảnh đó và nghĩ: “Nói mà không biết nghĩ! Đổi tiền mà bảo là tiền người ta mua từ lúc còn rẻ. Lấy chứng cớ đâu mà nói như thế? Đắt rẻ thì cũng là do thị trường ngày hôm đó quyết định, ngang nhiên bắt người ta phải làm khác đi mà không hề biết xấu hổ. Thế mà cuộc đời những kẻ đó không phải chịu nhục nhã, vẫn đường đường là đấng võ sĩ, quân tử thì thật là ngạc nhiên! Hơn nữa, người của ông Mitsui không phải là không biết tính toán. Biết rõ ràng mà thản nhiên chịu thiệt, không nói năng gì. Đó không phải tội của con người, mà là thời cuộc bắt người ta phải làm như thế. Thật là tồi tệ! Chính phủ như thế thì không thể khá lên được!”.

Chống lại lý luận về quốc ích

Thế là tôi đi Mỹ. Trong thời gian đó ở Nhật, quốc sự nhiều mối nguy lo, nên phương châm của chính phủ, tất nhiên là mọi việc phải tiết kiệm. Chẳng hạn, chính phủ đã phải ra tay quản lý lợi ích kinh tế và phong chức chuyên trách, gọi là Gokokueki-gakari (Ngự-quốc-ích-hệ). Có người dâng những kế sách mới và tìm mọi cách để chính phủ dung nạp. Người bảo cần phải làm hào ở đâu đó trong nội thành Edo để thu tiền của tàu thuyền qua lại, người lại bảo thu thuế rượu khi vào sông Shinkawa (Tân-Xuyên), cũng có người lại nói rằng, nên cho khai khẩn đất đai và thu thuế ở đó. Có khi còn có ý kiến cho rằng, nên phó mặc việc xử lý phân thải của toàn Edo về một mối và chính phủ sẽ thu lợi ích từ đó.

Nghe thấy thế, một nhà Tây phương học hung hăng bảo: “Chính phủ không thèm để ý đến những quản gia của các lãnh chúa và định chiếm hết lợi ích từ phân thải thì đó là một chính phủ cưỡng áp. Tôi nghe nói, ngày xưa người Mỹ nổi giận, vì chính phủ nước đó đánh thuế vào trà nhập khẩu từ Anh, nên các quý bà không thèm uống trà nữa và thú vui của những hội trà cũng bị mất đi. Thế nên, lần này chúng ta cũng học theo cách của người Mỹ, bỏ hết, không đi vệ sinh nữa cho chính phủ bí một phen!". Đề án đó có khả thi hay không là một chuyện, nhưng đã tạo ra một tràng cười trong đám cử tọa.

Tình hình của Mạc phủ như vậy, nên trong đoàn đi Mỹ lần này cũng có người chịu trách nhiệm về quốc ích. Theo suy nghĩ của ông ta, từ nay ở Nhật, phái Tây phương học sẽ phát triển và giá sách về Tây học cũng sẽ tăng. Vì vậy, ông ta cho rằng, bây giờ mua sách nguyên bản về bán sẽ làm lợi cho đất nước và ngầm ra lệnh cho tôi đi mua.

Nhưng tôi không dễ dàng nghe theo như vậy. Tôi bảo: “Mua sách nguyên bản về là một việc rất hữu ích. Ở Nhật còn quá khan hiếm, nên nhập về một cuốn cũng là quý. Rất may là lần này đi Mỹ có mang tiền của nhà nước đi thì mua thật nhiều mang về Nhật và bán với giá bìa. Nếu được như thế, tôi thấy rất mừng. Dù bằng cách nào tôi cũng sẽ mặc cả và mua những cuốn hợp lý, những cuốn với giá rẻ. Ông nghĩ thế nào?”.

Nghe thấy thế, ông ta bảo: “Không phải thế! Tôi muốn đem lại lợi ích cho đất nước!”. “À, ra là chính phủ định kinh doanh cơ đấy! Tôi đến đây không phải để tìm mối làm ăn. Nhưng nếu chính phủ quyết định buôn bán, tôi đây cũng sẽ làm doanh nhân! Thay vào đó, tôi sẽ lấy hoa hồng, ông thấy sao? Tôi thì thế nào cũng được. Nếu chính phủ bán ra với giá mua vào thì dù có cực nhọc thế nào tôi cũng sẽ tìm kiếm, mặc cả và mua với giá rẻ để đem bán. Nhưng nếu chính phủ tính chuyện làm lãi thì tôi không để cho riêng chính phủ làm lãi đâu! Tôi cũng sẽ cùng kiếm chác. Đây là chỗ quyết định chính phủ có nên tiến hành làm ăn kinh doanh hay không. Ông thấy thế nào?”.

Tôi vặn vẹo và nói gay gắt làm mất mặt cả người có quyền cao chức trọng. Bây giờ nghĩ lại, không kể ai đúng ai sai, nhưng với bổn phận của người đi tùy tùng thì việc làm của tôi không hay chút nào.

Lật đổ Mạc phủ

Còn một chuyện khác nữa. Có lần, tôi vừa uống rượu vừa tán chuyện với vài người cùng đi, trong đó có cậu Seki Shimpachi (Thước Chấn-Bát). Vì đó là rượu mua bằng tiền công quỹ, nên dù đang trên đường đi, giá không rẻ, nhưng không hề gì mà cứ ăn uống ầm ầm, liên tục gọi rượu mang về phòng uống.

Và thế là rượu vào lời ra: “Thế này là thế nào? Mạc phủ này không thể không lật đổ được! Các cậu thử nhìn tình hình thực tại của Mạc phủ mà xem! Người ta cứ vin cớ là việc công của Mạc phủ và mua bất kỳ thứ gì cũng bảo đó là vì việc của Mạc phủ. Chẳng phải từ việc mua rượu, mua cá họ cũng đều mua với giá do mình tự đặt đó sao? Hễ thuyền từ Kazusa (Thượng-Tổng) hay Bōshū (Phòng-Châu) vào là bảo rằng vì việc công, vào lấy cá trước tiên mà không trả tiền. Cá đó mà Tướng quân ăn thì cũng còn tạm được, đằng này lại không phải thế. Chẳng phải mấy người chuyên nấu ăn lấy cá đó đem đi bán hay sao?

Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ, qua đó có thể suy đoán về những chuyện khác. Thật ra là chính phủ tồi tệ quá! Chuyện đó thì tạm gạt sang một bên. Nhưng còn việc bế quan tỏa cảng thì sao nào? Tôi làm ở bộ phận đó nên biết. Họ cứ dối lòng mà xướng thuyết khai quốc, chứ thử gõ vào sẽ thấy đó là những kẻ đầu têu của phong trào Nhưỡng di! Đã xây ụ pháo Namakodaiba (Hải-Thử-Đài-Trường) ở Shinagawa mà chưa đủ hay sao? Thế mà ông Katsu Rintarō còn đi Hyōgo làm ụ pháo lù lù như cái bếp lò để làm gì? Đó chẳng phải là dụng ý chống người nước ngoài hay sao? Chính phủ như thế thì lật đổ được rồi còn gì nữa?”.

Nghe thấy thế, cậu Seki Shimpachi mới gật gù: “Đúng thế! Không sai chút nào! Nhưng việc chúng ta sang Mỹ cũng là nhờ tiền của Mạc phủ đấy chứ ai? Cơm anh ăn, áo anh mặc chẳng phải là của Mạc phủ hay sao? Mình vừa sống bằng tiền của người ta mà lại tính chuyện lật đổ thì đành sao được?”. “Cũng chẳng sao cả. Trước nay, Mạc phủ dùng mình có phải là vì mình giỏi giang, thông tuệ gì đâu mà chỉ vì mình biết đọc thứ chữ viết ngang thôi. Đấy cũng giống như việc một người biết nghề thuộc da thì họ xếp vào hạng người Eta. Bọn mình cũng có khác gì mấy người làm nghề sửa guốc dép đâu. Các quan lớn của Mạc phủ không thể làm những việc chân lấm tay bùn. May lại có người làm được thì họ bắt làm. Thế thôi, chẳng có gì cả! Người bán hàng rong thì dù có ra vào những phủ lớn cũng không có gì thay đổi. Mạc phủ ấy thì còn gì phải nghĩ nữa, nhanh nhanh mà lật đổ đi thôi! Chỉ có điều bí là ai sẽ đứng ra lật đổ. Như bọn mình thì không dám nghĩ đến chuyện đứng đầu cuộc nổi dậy. Ai dám đứng lên mới là vấn đề quan trọng. Nhìn ra bên ngoài bây giờ có thể gây bạo loạn lật đổ Mạc phủ là Samurai thất nghiệp ở những lãnh địa chủ trương bài trừ nước ngoài như Chōshū hoặc Satsuma. Nhưng nếu những người này giải phóng cho thiên hạ, chắc họ sẽ lại sơn bóng thêm cho chế độ bài trừ nước ngoài mà thôi. Thà cứ để nguyên Mạc phủ bây giờ còn hơn. Nhưng nói gì thì nói, sớm muộn gì cũng phải lật đổ. Chỉ có điều bây giờ chưa có ai, đành chịu ngồi nhìn cảnh này. Đấy chẳng phải là vấn đề nan giải hay sao?”.

Cứ như thế, chúng tôi uống, nói chuyện và lại uống. Mặc dù ngồi trong phòng, nhưng không ngăn người qua lại, cứ nói chuyện ầm ầm như giữa chốn không người. Câu chuyện đó chắc chắn ít nhiều đến tai những vị quyền cao chức trọng có mặt trong chuyến đi.

Bị nhắc nhở phải cẩn trọng

Như tôi đã nói, sau khi từ Mỹ trở về Edo, tôi vẫn làm công việc biên dịch cho Bộ phận chuyên trách về ngoại giao của Mạc phủ và đã bị nhắc nhở: “Trong chuyến công vụ sang Mỹ vừa qua, cậu đã làm điều không hay, nên sẽ bị giam lỏng ở trong nhà!”. Hình phạt giam lỏng của Mạc phủ rất nhẹ nhàng, có thể ra ngoài mà không hề gì. Chỉ cần không đến các sở chức dịch là được, còn lại không có gì phương hại đến bản thân. Ngược lại, tôi còn thấy vui sướng, vì có thời gian rỗi, nên y lệnh ở trong nhà, không đi đâu. Trong thời gian này, tôi đã viết được cuốn Seiyō tabi annai (Tây dương lữ án nội).

Anh ruột của Fukuzawa ở Sasshū!

Tôi từ Mỹ về Nhật là vào hạ tuần tháng 6 năm đó. Tình hình thế sự cũng đã khá lộn xộn. Tôi cứ ở lỳ trong nhà dạy học trò và dịch sách chứ không tham gia vào cuộc bạo loạn nào, nhưng xung quanh có rất nhiều lời bàn tán. Nghe ra còn thấy họ đồn những chuyện không thể nghĩ đến như anh ruột của Fukuzawa hiện đang ở Kagoshima chẳng hạn. Họ xì xào rằng, anh trai liên kết với người của lãnh địa Satsuma thì em trai cũng phải có vấn đề gì đó.

Chắc có lẽ do tôi lạnh nhạt với tư tưởng Nhưỡng di của Mạc phủ và đã có lần nói lật đổ Mạc phủ là điều nên làm, nên mới khiến người ta dựng lên những lời đồn thổi sai sự thực như vậy. Anh trai tôi đã mất hơn 10 năm trước, không thể có chuyện lại đang ở Satsuma được. Nhưng tôi im lặng, không hề biện minh gì về những lời đàm tiếu của thiên hạ. Đối với Mạc phủ, trong số những chí sĩ có nhiều người dâng tương kế, tựu kế, nhưng tôi thì không can hệ gì, chỉ một mình quan sát thế sự.

Trong khi đó, tình hình càng trở nên cấp bách. Một hôm, anh Nakajima Saburōsuke (Trung-Đảo Tam-Lang-Trợ) đến và bảo tôi: “Sao cậu cứ ở lỳ trong nhà thế?”. “Vì người ta bắt tôi phải thế đấy chứ!”. “Không được! Bên ngoài còn bao nhiêu việc phải làm mà cậu lại cứ ngồi mãi trong nhà là thế nào? Ra ngoài ngay đi!”. “Anh bảo ra ngoài à? Người ta cấm không cho ra thì ra làm sao được?”. “Thôi được. Thế thì để tôi tìm cách lôi cậu ra cho mà xem!”. Anh nói và đi đến chỗ vị Rōjū (Lão-Trung), tên là Inaba Mino-no Kami (Đạo-Diệp Mỹ-Nồng-thủ), người chuyên cố vấn cho Mạc phủ và nhờ ông làm sao để Fukuzawa không bị giam lỏng nữa.

Ông Mino-no Kami vốn là lãnh chúa vùng Yodo trước đây, tức là ông của người mà hiện nay đang thoái chức về Tonosawa ở vùng núi Hakone. Anh Nakamura Saburōsuke là Yoriki (Dự-Lực), ở sở chức dịch Uraga là một võ sĩ kiên trung. Cả hai cha con anh đã hy sinh trong trận chiến ở Hakodate. Tấm bia ghi công anh hiện đang được dựng ở công viên vùng Uraga.

Không vâng lệnh ông trưởng đoàn

Trong chuyến đi Mỹ lần này, tôi bị chỉ trích, nhưng vẫn nghĩ mình đúng. Thực ra không phải như vậy. Bởi vì khởi đầu là do tôi nói muốn đi Mỹ, đến nhờ ông Ono Yūgorō, được những người cùng đi tin tưởng và trở thành một người đi tháp tùng. Vì thế, mọi sự tôi phải theo lệnh của trưởng đoàn. Nếu không làm đúng như vậy thì không được.

Nhưng trên thực tế lại khác. Tôi toàn làm trái lại lệnh của trưởng đoàn. Ví dụ, trong chuyến đi, ông Ono có vẻ như rất bực và bảo: “Công việc đã xong xuôi. Bây giờ, cậu về nước được rồi đấy!”. Tôi nhất định không chịu. Tôi nói với ông rằng: “Ông đã đưa tôi đến tận đây, bắt tôi làm bao nhiêu việc mà bây giờ lại bảo không có việc cần để đuổi tôi về. Quyền đó là của trưởng đoàn à? Tôi rời Nhật là do lệnh của Kakurō (Các-lão). Nói cho nhanh gọn là chính Kakurō đã cho phép tôi đi, nên các ông có bảo tôi về thì cũng chẳng việc gì mà tôi phải về cả!”. Nói thế, nhưng chính tôi mới là kẻ vô lối.

Một hôm khác, khi đang ăn, tiện nói về một chuyện gì đó, tôi mới bảo: “Thú thực tôi chẳng ưa gì Mạc phủ cả. Tỏa quốc, Nhưỡng di có nghĩa lý gì? Vì thế mà xây thêm cả ụ pháo ở Shinagawa là điều không thể chấp nhận được! Kẻ tham gia xây dựng ụ pháo ấy chẳng phải là cũng có mặt bên bàn ăn này hay sao? Làm việc đó mà nghĩ là bảo vệ được Nhật Bản à? Phải nhớ, Nhật Bản là một đất nước quan trọng đấy!”.

Tôi nói oang oang điều đó ngay trước mặt mọi người là việc làm không tỉnh táo. Trưởng đoàn Ono ngoan cố đã đành, nhưng cũng tại tôi bướng quá, nên thành ra bị ghét như thế cũng đáng. Tôi không hề để bụng mà hận ông ấy chút nào.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Phúc ông tự truyện
  • Tác giả: Fukuzawa Yukichi
  • Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế giới
  • Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha