Điều tra giáo dục

2. Điều tra giáo dục

2.1. Khái niệm

2.2. Các loại điều tra trong nghiên cứu giáo dục

2.3. Kỹ thuật đặt câu hỏi

a) Loại câu hỏi

b) Những chú ý về việc đặt câu hỏi

c) Cấu trúc bảng câu hỏi

2.4. Kỹ thuậtchọn mẫu điều tra

1) Lấy mẫu phi xác suất

2) Lấy mẫu xác suất

3) Lấy mẫu theo nhóm ngẫu nhiên

4) Qui mô mẫu (kích thước mẫu)

2.1. Khái niệm

Điều tra giáo dục là phương pháp tác động trực tiếp của người nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cần thiết cho công việc của mình.

Điều tra giáo dục là phương pháp nghiên cứu xã hội, khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm, nhằm thu thập rộng rãi các số liệu, hiện tượng, sự suy nghĩ, quan điểm v.v... để từ đó phát hiện các vấn đề cần giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân, chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo.

2.2. Các loại điều tra trong nghiên cứu giáo dục

Điều tra trong nghiên cứu khoa học giáo dục xét về mục đích gồm có hai loại là điều tra cơ bản và trưng cầu ý kiến.

  • Điều tra cơ bản trong giáo dục, như điều tra trình độ học vấn của dân cư trong toàn quốc hay trong một số địa phương, điều tra nhu cầu phát triển giáo dục, điều tra chỉ số thông minh của học sinh.
  • Trưng cầu ý kiến là phương pháp tìm hiểu nhận thức, tâm trạng, nguyện vọng của thầy giáo, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác. Trưng cầu ý kiến là phương pháp thu thập thông tin bằng ngôn ngữ dựa trên tác động về mặt tâm lí xã hội trực tiếp (phỏng vấn) hoặc gián tiếp thông qua phiếu hỏi (bút vấn) giữa người nghiên cứu khoa học và người được hỏi ý kiến.

Trưng cầu ý kiến dựa trên những lời phát biểu của các cá nhân để phát hiện những sắc thái tinh tế nhất về các sự kiện đang xảy ra, đó là nguồn thông tin quan trọng. Khi lập kế hoạch thu thập thông tin, người nghiên cứu cố gắng tính đến các điều kiện có thể ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kể cả những yếu tố ngẫu nhiên khác. Độ tin cậy của thông tin là mức độ độc lập của thông tin với những yếu tố ngẫu nhiên, tức là tính ổn định của thông tin ta thu được.

Căn cứ vào hình thức tổ chức người ta chia trưng cầu ý kiến thành các loại:

  • Bút vấn là loại điều tra có chuẩn bị trước (bằng bảng hỏi). Theo phương cách làm này, nhà nghiên cứu in sẵn bảng câu hỏi rồi giao cho đối tượng (giao trực tiếp, giao qua cộng tác viên hoặc qua bưu điện). Tất nhiên nhà nghiên cứu phải làm sao để đối tượng hiểu được mục đích câu hỏi mà trả lời cho đúng và đúng sự thật. Bút vấn là phương pháp nghiên cứu có nhiều ưu điểm và cũng có nhiều nhược điểm. Bút vấn không phải là phương pháp trưng cầu ý kiến vạn năng. Trong một số trường hợp, nhờ có bút vấn người ta thu được một số thông tin quan trọng, nhưng trong những tình huống khác bút vấn lại chỉ đóng vai trò là phương pháp hỗ trợ. Bút vấn là hình thức trưng cầu ý kiến nhanh nhất giúp ta thu được những ý kiến cần thiết của số đông và tiết kiệm được chi phí.
  • Phỏng vấn là phương pháp điều tra hỏi và trả lời trực tiếp. Theo cách này, người nghiên cứu phải có sẵn chủ đề phỏng vấn để khi làm việc không hỏi lan man. Người phỏng vấn phải là nhà nghiên cứu lão luyện để có thể ứng phó, tự điều chỉnh hướng trao đổi và đặc biệt là có thể có ngay những câu hỏi sắc bén, khéo léo và tế nhị. Phương cách này có thể thực hiện cả bằng điện thoại.Bút vấn và phỏng vấn là hai phương pháp trưng cầu ý kiến, nó luôn luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau, để cho ta những thông tin xác thực có giá trị. Cả hai phương pháp đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo, mục đích, công cụ và kĩ thuật nghiên cứu. Điều đó phụ thuộc vào năng lực của người nghiên cứu khoa học giáo dục.

2.3. Kỹ thuật đặt câu hỏi

Điều quan trọng thứ nhất trong trưng cầu ý kiến là đặt câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là công cụ điều tra được sắp xếp theo một trình độ logic nhằm tìm để thu thông tin. Câu hỏi có dạng tìm hiểu sự kiện, kiểm tra nhận thức, để biết ý kiến, quan điểm hay để tìm hiểu động cơ của các hành vi. Câu hỏi có thể kiểm tra lẫn nhau.

a) Loại câu hỏi

Câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin dưới dạng viết gọi là anket (hay còn gọi là phiếu câu hỏi điều tra). Phiếu điều tra là bản in những câu hỏi và cả những câu trả lời có liên quan đến những nguyên tắc nhất định. Bố cục, sự sắp xếp câu hỏi, ngôn ngữ, văn phong diễn đạt, những chỉ dẫn về cách trả lời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Câu hỏi có hai loại: đóng và mở.

  • Câu hỏi đóng là loại câu hỏi mà người trả lời chọn một trong các phương án có sẵn để đánh dấu. Ví dụ: + Theo bạn, hình thức trình bày của cuốn SGK "..." là Xấu □ Tạm được □ Đẹp □ Rất đẹp □ + Bạn đánh giá kỷ cương học tập ở trường bạn thế nào? Rất kém □ Kém □ Trung bình □ Khá □ Tốt □ Rất tốt □ + Bạn có cảm giác an toàn thế nào ở nơi làm việc của bạn? Hãy khoanh vào một trong những số dưới đây, chiều tăng là chiều tốt.

1 2 3 4 5 6 7

  • Câu hỏi mở là loại câu hỏi mà người trả lời có thể trả lời tự do để giải trình một vấn đề gì đó. Mục đích của câu hỏi này là bổ sung cho các câu hỏi đóng hoặc nhà nghiên cứu cần hiểu sâu hơn về tâm tư, tình cảm, thái độ của người trả lời đối với vấn đề đang nghiên cứu.Ví dụ: Sau khi dùng các câu hỏi đóng về vấn đề học tập của một lớp học mà giáo viên chủ nhiệm là người trả lời, có thể hỏi thêm một hoặc vài câu hỏi mở: + Bạn cho biết thêm về tính phức tạp của lớp.+ Truyền thống của lớp này (về học tập) từ năm học trước đến bây giờ.+ Các giáo viên chuyên môn đánh giá về lớp này thế nào?

b) Những chú ý về việc đặt câu hỏi

  • Câu hỏi phải đơn giản, thích hợp với mục đích nghiên cứu, dễ trả lời. Tránh việc đặt câu hỏi dài, không cần thiết.Ví dụ:+ Bạn tốt nghiệp đại học sư phạm năm nào? (tốt)+ Trường này có nhiều giáo viên lâu năm, có kinh nghiệm, bạn có cho rằng, bạn thuộc loại giáo viên đó chăng? (dài dòng không cần thiết).
  • Không dùng những từ ngữ, khái niệm khó hiểu, vượt quá khả năng người trả lời, từ ngữ nước ngoài...Ví dụ:+ Bạn lấy bằng Diplom (hoặc Master) khi nào?+ Hình như thí nghiệm của bạn là thí nghiệm mô phỏng?
  • Câu hỏi phải đơn trị (chỉ có một ý trả lời đúng).Ví dụ:+ Bạn có định nâng cao trình độ lấy bằng Thạc sĩ không? (Nâng cao trình độ không trùng nghĩa với bằng Thạc sĩ. Ðây là câu đa trị)
  • Khi không cần thiết, tránh những câu hỏi đi vào đời tư của người trả lời làm người ta khó nói. Ví dụ:+ Tránh hỏi trực tiếp đối tượng là phụ nữ về tuổi tác, đời tư.+ Tránh hỏi trực tiếp (k cần thiết) về trình độ, thái độ bản thân, khả năng... như: Anh dạy có giỏi không? Anh có yêu nghề không?...
  • Trong những trường hợp cần biết những vấn đề ấy cần chuẩn bị một số câu hỏi cầu vòng làm cơ sở để phán đoán (Làm bài tập dưới đây).
  • Tránh những câu mà ta biết chắc câu trả lời.Ví dụ: Thầy/cô đi dạy có soạn giáo án không? (Chắc chắn là có)

c) Cấu trúc bảng câu hỏi

Thông thng, bảng hỏi có hàng chục câu hỏi. Bên cạnh các câu hỏi còn có những lời giải thích để làm người trả lời hiểu rõ nội dung và cách trả lời. Vì vậy mỗi bảng hỏi bao gồm nhiều trang. Nếu bảng hỏi không sạch, không sáng sủa thì nó sẽ làm người trả lời lúng túng, đôi khi bực bội. Ðiều đó sẽ ảnh hưởng nhiều đến kết quả của cuộc điều tra. Ngoài ra, cần chú ý đến cấu trúc của bảng hỏi. Nó gồm có ba phần chính:

  • n đầu: Gồm những vấn đề chung với nội dung tìm hiểu đối tượng (tên, nơi ở, năm sinh v.v...). Ngoài ra, phần mở đầu cũng nhằm mục đích khởi động cho cuộc giao tiếp, định hướng cho giao tiếp.
  • n chính: Những câu hỏi phục vụ mục đích điều tra.
  • n kiểm chứng: Phần này có thể bao gồm cả hai loại câu hỏi nhằm mục đích làm rõ thêm cho phần chính hoặc đôi khi kiểm chứng lại vấn đề nào đó để xác định đối tượng trả lời thật hay không thật.

2.4. Kỹ thuậtchọn mẫu điều tra

Mẫu điều tra (mẫu khách thể) là số lượng cá thể hay đơn vị được chọn để trả lời câu hỏi của nhà nghiên cứu. Vì yêu cầu của việc nghiên cứu là phải khách quan, đảm bảo tin cậy nên mẫu phải thỏa mãn:

  • Chọn phần tử phải thật
  • Kích thước mẫu (số phần tử trong mẫu) phải đủ lớn.

Một số khái niệm cần biết về mẫu:

  • Mẫu dân số: Tất cả mọi đối tượng mà nhà nghiên cứu hướng tới. Ví dụ: Trong cuộc điều về chất lượng học tập của sinh viên trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật thì mọi sinh viên đều nằm trong mẫu tổng.
  • Mẫu tiêu biểu: Mẫu gồm các thành viên được chọn ra từ mẫu dân số để nghiên cứu.
  • Mẫu đặc trưng: Mẫu bao gồm mọi phần tử có nét đặc trưng cần nghiên cứu. b. Cách chọn mẫu

1) Lấy mẫu phi xác suất

Thực tế việc lấy mẫu này chỉ là để thử bảng câu hỏi, nghiên cứu sơ bộ, nên việc chọn mẫu vẫn mang tính chất ngẫu nhiên, số phần tử không nhiều. Có các hình thức như:

  • Lấy mẫu thuận tiện: Không chú ý đến tính đại diện, chỉ cần thuận tiện (dễ, gần, nhanh) cho nhà nghiên cứu.
  • Lấy mẫu tích lũy nhanh: chọn một số phần tử ban đầu, từ các phần tử ấy nhân ra số phần tử thứ cấp. Ví dụ: chọn 10 học sinh trong lớp, yêu cầu 10 học sinh đó, mỗi em chọn thêm 3 em khác... Tùy theo số phần tử định nghiên cứu, có thể số phần tử thứ cấp ấy lại tiếp tục chọn thêm nữa để đủ số lượng phần tử của mẫu.

2) Lấy mẫu xác suất

  • Lấy mẫu ngẫu nhiên thông thường:Bằng cách rút thăm và bằng bảng ngẫu nhiên.Ngày nay, máy tính sẽ cho phép ta dễ dàng chọn mẫu ngẫu nhiên này
  • Lấy mẫu hệ thống:Trường hợp này dành cho các đối tượng điều tra giống nhau, khc với lấy mẫu theo phân lớp. Ví dụ: Ðiều tra dân số có đối tượng là mọi người dân; Ðiều tra về học sinh một trường có đối tượng là mọi học sinh đang học trường đó. Các bước làm như sau:

§ Lập danh sách tất cả các phần tử hiện có.

§ Tùy kích thước mẫu mà chọn bước nhảy k (tức là: cách mấy số lấy 1 số)

§ Lần tử theo bước nhảy k với phần tử xuất phát là tùy ý, cho đến khi đủ kích thước mẫu.

3) Lấy mẫu theo nhóm ngẫu nhiên

Ðôi khi cuộc điều tra trên diện rộng về địa bàn hoặc nhiều đơn vị khác nhau, ta có thể chọn mẫu theo kiểu này. Ví dụ, khi điều tra về học vấn của mọi người dân của một tỉnh (mẫu tổng thể - MTT), ta không thể phỏng vấn tất cả dân trong tỉnh đó mà chỉ chọn mẫu ngẫu nhiên (mẫu nghiên cứu - Mnghiên cứu ). Nếu chọn như các kiểu trên thì rất bất tiện. Ta có cách chọn khác: Giả sử Tỉnh có 3 Huyện, các Huyện có số xã khác nhau (sơ đồ). Nếu 3 Huyện có mọi điều kiện tương đương nhau thì chúng ta có thể chọn 2 hoặc 1 Huyện làm Mnghiên cứu . Tuy nhiên không thể lấy hết tất cả các xã ra nghiên cứu . Vậy là phải chọn ngẫu nhiên các xã. Ở mỗi xã cũng chọn ngẫu nhiên ấp rồi tiếp tục chọn ngẫu nhiên gia đình. (xem mục Lấy mẫu xác suất).

Lấy mẫu ngẫu nhiên theo sơ đồ hành chính

4) Qui mô mẫu (kích thước mẫu)

Thông thường, kích thước mẫu phụ thuộc vào các phép tính thống kê, cụ thể phụ thuộc độ lớn của sai số và độ tin cậy cho phép. Độ sai lệch cho phép (γ) do chủ đề tài quyết định.

Các nhà thống kê đã đưa ra những bảng tính sẵn (dựa vào độ tin cậy và sai số ấn định trước) để nghiên cứu lựa chọn kích thước mẫu phù hợp từng loại đề tài. Dưới đây là một loại bảng như vậy dùng cho trường hợp nghiên cứu sản lượng trung bình, điểm trung bình hoặc những nội dung tương tự.

Kipkis.com-Phuong-phap-nghien-cuu-khoa-hoc-giao-duc-03.jpg

Trong đó: γ là độ tin cậy, ε là sai số cho phép. Con số trong các cột 2, 3, 4, 5 là số phần tử của mẫu. Khi nhận đề tài nghiên cứu với chỉ tiêu bằng độ tin cậy và sai số cho phép, ta đối chiếu hàng ngang, hàng dọc tương ứng sẽ có ngay kích thước mẫu cần lấy.

Ví dụ: Ðiều tra để biết mục đích học tập của học sinh trong tỉnh nào đó với độ tin cậy là 90% và sai số là 0,03, ta đối chiếu hàng 3 cột 2 của bảng trên, mẫu cần có 755 phần tử.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
  • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
"Like" us to know more!