Địa lý

ĐỊA LÝ

Tục ta trọng việc địa lý, phàm việc xây thành, lập quách, cất đình dựng chùa, hoặc là làm cửa làm nhà, để mồ để mả đều phải tìm nơi hình thắng và chỗ cát huyệt. Đất lập cửa nhà gọi là dương cơ, đất để mả gọi là âm phần. Dương cơ trọng hơn âm phần. Có câu rằng nhất dương thắng thập âm. Song dương cơ thì thường dân ít kén chọn, chỉ cốt lấy hướng cho được thuận thì thôi; còn âm phần thì thường nhò thầy địa lý đi tìm tòi cẩn thận lắm.

Phép địa lý có đã lâu. Từ đời nhà Tàu đã có một người ẩn sĩ soạn ra kinh Thanh nang, đên đời nhà Hán thì có ông Trương Tử Phòng soạn ra bộ Bình sa ngọc xích, nhà Tấn có ông Quách Phác soạn ra Táng kinh, đời nhà Tống có ông Trương Tử Vi soạn ra bộ Ngọc tủy chân kinh, còn ông Trần Đoàn soạn ra bộ Kim. tỏa bí quyết, đời nhà Nguyên có ông Lưu Bỉnh Trung soạn ra bộ Kim đâu quyết táng pháp. Còn nhiều nữa, không kể xiết được.

Từ đó phép địa lý truyền khắp đất Tàu, mà nước ta cũng mộ theo phép ấy. Nước ta có ông Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao huyện Nghi Xuân tỉnh Nghệ An, về đời nhà Lê, sang học phép địa lý bên Tàu giỏi lắm, trở về nước nhà làm đất, nôi tiếng lừng lẫy, hẳn bây giò ai ai cũng còn biết tiếng ông Tả Ao.

Sau lại có ông Hòa Chính là tiến sĩ, cũng sang Tàu học được phép địa lý có làm bộ sách để lại.

Phép địa lý trước hết phải phân biệt hình đất. Đất có 5 hình chính là: thủy, hỏa, mộc, kim, thổ, thủy là hình miếng đất lè phè, hỏa là hình miếng đất nhọn, mộc là hình miếng đất dài, kim là hình miếng đất tròn, thố là hình miếng đất vuông. Lại có nhiều các biên hình nữa, ví như: trong miếng đất vuông có hình tròn gọi là thổ phù kim; miếng đất dài có nảy nhánh ra gọi là mộc sinh nha v.v...

Mỗi đất lại có một kiểu riêng, kiểu nào trông địa thế giống như hình gì thì gọi là kiểu ấy. Có kiểu gọi là lục long tranh chẫu\ có kiểu gọi là phượng hoàng ấm thủy, có kiểu gọi là tê ngưu vọng nguyệt, có kiểu gọi là quần tiên hội ẩm, có kiểu gọi là nhất hô trục quần dương v.v... Đất có hợp vào kiểu mới là đại địa.

Lại có chỗ gọi là con rùa, con cá chép, con voi, con ngựa, cái cờ, miếng ấn, ngòi bút, thanh kiếm v.v... cũng tùy theo kiểu đất hình đất và phương hướng nào mà đặt tên.

Phép đi tìm đất, trước hết phải tìm tô sơn, rồi dò theo long mạch mà tìm huyệt. Long mạch có chỗ cao như các gò đông núi non thì gọi là âm long, chỗ đất bình dương thì gọi là dương long. Đi tìm phải trải qua lô nọ đông kia, xét xem hình thế khởi phục nghênh tống thế nào. Khi nào đến chỗ có hai dòng nước giao với nhau, chỗ ấy mới là gần đến huyệt trường.

Huyệt trường tất phải có tiền án, hậu trẩm, tả long, hữu hổ; và phía trước phải có minh đường thủy tụ hội, phía sau phải có long mạch thu thúc, phía ngoài phải có bàng sa triều củng, cốt phải tụ khí tàng phong mới là chân huyệt; nếu chỗ sơn cùng thủy tận thì gọi là tuyệt địa; hoặc chỗ huyền võ tàng đầu (rùa giấu đầu), xương long vô túc (rồng không chân), bạch hô hàm thi (cọp ngậm thây), chu tước bi khốc (chim kêu sầu) thì là đất hung địa; đất ấy chắc bị tàn hại.

Nhà phong thủy đại để chia làm ba môn:

Một là nhật gia học. Môn này linh về việc xem thái dương chiền độ. Tính toán từng phân từng ly cái hoành độ của nhật, nguyệt, ngũ tinh và nhị thập bát tú xem ngày giờ nào chiếu về địa phận nào rồi mới làm đất. Có khi biết trước được ngôi đất đến năm tháng ngày giờ nào thì phát những thế nào.

Hai là hình gia học. Môn này chỉ xem xét hình đất mà làm. Ví như hình đất như con khuyển thì táng tại bụng, hình đất như con voi thì táng tại vòi v.v... Lôi ấy cốt phải xem cho tường hình đất, chớ sai lầm một chút cũng không được.

Ba là pháp gia học. Môn này chỉ chuyên về lý khí, cốt phải tinh về lý âm dương ngũ hành. Phải biện cho rõ chỗ nào là âm chỗ nào là dương, chỗ nào là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cốt làm sao cho sinh khắc chế hòa hợp độ mới được.

Địa lý giỏi thường kiêm cả ba môn, mà ai chuyên về môn nào cũng được.

Làm đất cần phải có cái tróc long và địa bàn. Tróc long nhỏ hơn địa bàn để giắt trong mình đi tìm đất cho tiện. Địa bàn thì có đủ các tinh thần chiền độ và đủ các vòng thu sa nạp thủy, tường hơn tróc long, khi phân kim điểm huyệt mới phải dùng đến.

Phần kim điểm huyệt phải cần biêt thập nhị thần là tràng sinh, mộc dục, quan đái, lâm'quan, đế vượng, suy bịnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng. Thập nhị thần ăn theo mười hai phương, hễ được phương sinh, vượng, mộ, dưỡng, thì tốt; suy, bịnh, tử, tuyệt thì xấu. Có câu rằng: "sinh lai hội vượng, thông minh chí tử phương sinh, vượng khứ nghênh sinh, phú quý chí kỳ sậu chí" nghĩa là được hưởng sinh vượng thì đẻ ra con thông minh và làm nên giàu sang.

Lại có câu rằng: "một dục thủy đáo đường chủ hoang thai, tử tuyệt thủy đáo đường chủ yêu chiết"

nghĩa là nước ở phương mộc dục đến trước huyệt thì chắc có con gái lẳng lơ, nưốc phương tử tuyệt đến huyệt thì trong nhà có người chết yểu.

Lúc hạ huyệt, lại phải đợi đến giờ hoàng đạo, hay giờ tam hợp mối tốt.

Đòi vua Hán Võ đế, cái chuông ở trong cung VỊ Ương không ai dám đánh mà tự nhiên kêu. Vua hỏi ông Đông Phương Sóc. Thưa rằng: đồng là con núi, núi là mẹ đồng, khí loại tương cảm vối nhau. Nay vô cố mà chuông kêu, hẳn là có núi đồng đổ chăng. Ba ngày nữa, quả nhiên ở Nam quận báo tin về có núi đồng đổ. Sách địa lý dẫn điều trên này, cho rằng địa lý cũng một lẽ cảm ứng. Như vậy, có nói rằng người ta chịu cái di thê của cha mẹ, hễ hài cốt của cha mẹ được chỗ sinh khí thì con cái cũng được mát mặt, nghĩa là huyết mạch liên quan với nhau.

Lại xét các nhà phong thủy có tiếng xưa nay, như bọn Quách Phác, Trần Đoàn bên Tàu, ông Tả Ao, Hòa Chính bên ta, cứ như lòi ghi chép trong sách lưu truyền lại thì cũng lắm điều linh nghiệm, không dám quyết là lời hoang đường cả. Song cứ mục kích bây giờ thì chỉ thấy những ông phong thủy nói thánh thì nhiều, mà không thấy gì là hiệu nghiệm. Ông nào cũng có được vài ba bộ sách địa lý, đi đâu cũng có tróc long, có địa bàn, cũng dò dẫm tìm tòi chỗ gò cao nơi nước dễu, chỗ này chỏ con kim, chỗ kia gọi con thỏ. Ông thì tự đắc học được phép cụ Tả Ao, ông thì tự đắc là tìm được kiểu đất Cao

Biền, ông lại nói ngoa rằng mắt trông thấu xuống ba thưóc đất.

Nghe lòi các ông bàn bạc thì rắn trong lỗ cũng phải bò ra, ai chưa học đến địa lý cũng phải chịu. Song chỉ hiềm tai nghe thì hay mà mắt không được trông thấy cái hay đó, hoặc giả sách vở đòi trước, cũng như lòi các anh chăng?

Thôi như mà địa lý dù có dù không, chưa có người kê cứu cho hết lẽ, thì cũng chưa biết thế nào mà dám nói. Duy có một điều mà lại chính là lòi của nhà địa lý dạy, là câu tiên tích đức hậu tầm long (chứa đức trước rồi sau sẽ tìm đất), thì người ta quý hồ cách ăn ở cho phải đạo, chớ bất tất phải vị công danh phú quý mà chỉ chăm một đường đi tìm đất. vả địa lý chính bởi Tàu mà ra, mà Tư Mã Ôn cũng là danh tiếng nước Tàu lại xin cấm hết sách địa lý đi, cho là một sự càn dở, làm cho cổ hoặc nhân tâm. Người Lữ Tài cũng bài bác phép địa lý là yêu vọng, xem vậy thì đủ biết người xưa cũng đã nhiều người không tin.

Lại xem như các nước văn minh bây giờ, có tin gì địa lý, chôn người chết có cần gì, long gì hổ, quản gì phương gì hướng, vậy sao mà lắm người giàu có thiên vạn ức triệu, ấy lại là cái tang chứng rõ ràng không cần gì phải địa lý vậy.

Có thể bạn muốn xem

"Like" us to know more!