Ý nghĩa của khái niệm “phát triển” trong giáo dục

3. Ý nghĩa của khái niệm “phát triển” trong giáo dục

Cho tới chương này chúng ta chỉ mới nói chút ít về giáo dục. Chúng ta quan tâm nhiều tới những điều kiện và hàm ý của tăng trưởng. Nếu các kết luận của chúng ta được chứng minh là đúng, chúng kéo theo những hệ quả rõ ràng trong giáo dục. Nếu nói rằng giáo dục là phát triển, thì mọi vấn đề đều phụ thuộc vào việc phát triển được quan niệm như thế nào. Kết luận chung cuộc của chúng ta là, đời sống là sự phát triển, và quá trình phát triển, tăng trưởng ấy là đời sống. Đưa vào lĩnh vực giáo dục, điều đó nghĩa là (i) quá trình giáo dục không có mục đích nào vượt ra ngoài bản thân nó; giáo dục là mục đích tự thân; và (ii) giáo dục là một quá trình liên tục tái tổ chức, tái kiến tạo, biến đổi.

1. Nếu hiểu phát triển theo nghĩa so sánh, tức là so sánh những đặc điểm loại biệt của đời sống của trẻ em và đời sống của người trưởng thành, thì phát triển nghĩa là sự điều khiển năng lực đi theo những kênh đặc biệt: tức là sự hình thành các thói quen đòi hỏi năng lực thực thi, tính xác định rõ ràng của hứng thú, và các đối tượng cụ thể của quan sát và tư duy. Nhưng quan điểm có tính so sánh này chưa phải là kết thúc. Trẻ em có những năng lực riêng; cố tình bỏ qua sự kiện đó tức là làm cằn cỗi và bóp méo các phương tiện của sự tăng trưởng của trẻ em. Người trưởng thành sử dụng các năng lực của mình để biến đổi môi trường và bằng cách ấy anh ta tạo ra sự kích thích mới để rồi sự kích thích đó lại tái điều khiển các năng lực của anh ta và giữ cho các năng lực đó liên tục phát triển. Cố tình bỏ qua sự kiện này đồng nghĩa với sự phát triển bị chặn lại, một sự thích nghi thụ động. Nói cách khác, đứa trẻ bình thường và người lớn cùng tham gia vào quá trình tăng trưởng. Sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn không nằm ở sự tăng trưởng và không tăng trưởng, [sự khác biệt] nằm ở phương thức tăng trưởng phù hợp với những điều kiện khác nhau. Nếu nói tới sự phát triển các năng lực giải quyết vấn đề khoa học và kinh tế học, chúng ta có thể nói rằng đứa trẻ phải tăng trưởng để trở thành người lớn. Nếu nói tới tính dễ hiếu kỳ, tính dễ phản ứng không thiên vị và sự cởi mở tâm hồn, chúng ta có thể nói rằng người lớn có trách nhiệm tăng trưởng để mang những đặc tính của trẻ em. Cả phát biểu này lẫn phát biểu kia đều đúng như nhau.

Cả ba quan điểm từng bị phê phán - bản chất thiếu thốn của tình trạng non nớt, sự điều chỉnh tĩnh trước một môi trường bất biến và tính cứng nhắc của thói quen - đều có liên quan đến một quan niệm sai lầm về tăng trưởng hoặc phát triển, [nghĩa là quan niệm đó cho rằng] tăng trưởng hoặc phát triển tức là một sự vận động để đi tới một mục đích cố định. Tăng trưởng được coi là sự có một mục đích thay vì nó đang là một mục đích. Tương ứng với ba quan điểm sai lầm trên là những quan điểm tương tự trong giáo dục: thứ nhất, giáo dục đã không tính đến các năng lực bản năng hoặc bẩm sinh của trẻ em; thứ hai, giáo dục đã không phát triển năng lực chủ động đối phó với những tình huống lần đầu tiên xuất hiện; thứ ba, giáo dục đã đề cao thái quá sự tập luyện và các phương pháp khác nhằm có được năng lực mang tính cơ giới mà bỏ qua năng lực nhận thức của cá nhân. Trong mọi trường hợp, môi trường của người lớn được chấp nhận như là một chuẩn mực đối với trẻ em. Trẻ em phải được dạy dỗ để đạt tới chuẩn mực đó. Bản năng tự nhiên đã bị coi thường hoặc bị coi là điều gây khó chịu - chúng bị coi là những đặc điểm đáng ghét cần ngăn chặn, hoặc phải bắt chúng tuân phục những tiêu chuẩn đến từ bên ngoài bất kể thế nào. Bởi vì sự tuân phục là mục tiêu, cho nên cái làm thành sự độc đáo riêng của một đứa trẻ lại bị gạt sang một bên hoặc bị coi là nguyên nhân của sự ngỗ nghịch hoặc tính vô kỷ luật. Sự tuân phục được biến thành đồng nghĩa với tính đồng dạng. Do đó điều này đã dẫn đến sự hờ hững với cái mới, sự ác cảm với cái tiến bộ và sợ hãi cái không xác quyết và cái chưa biết. Bởi vì mục đích của tăng trưởng lại nằm ngoài và vượt ra ngoài giới hạn của quá trình tăng trưởng, cho nên người ta phải viện đến những tác nhân bên ngoài để tạo ra sự vận động đi tới mục đích đó. Hễ khi nào một phương pháp giáo dục thể hiện rõ tính chất cơ giới, thì chúng ta có thể tin chắc rằng phương pháp ấy đã phải dùng đến áp lực từ bên ngoài để gây ảnh hưởng nhằm đạt được một mục đích có tính bề ngoài.

2. Bởi vì trên thực tế sự tăng trưởng không có mối liên quan với bất cứ cái gì ngoài việc tăng trưởng hơn nữa, cho nên giáo dục không phụ thuộc vào bất cứ điều gì ngoài việc giáo dục nhiều hơn nữa. Không có gì là mới khi nói rằng giáo dục không được chấm dứt khi học sinh rời nhà trường. Ý nghĩa của câu nói cũ rích này là, giáo dục nhà trường có mục đích đảm bảo tính tiếp diễn của giáo dục bằng cách nó xây dựng năng lực đảm bảo duy trì sự tăng trưởng. Sản phẩm cao quý nhất của giáo dục nhà trường là ở chỗ này: nhà trường tạo ra khuynh hướng học hỏi từ bản thân đời sống và nó cung cấp những điều kiện sống nào đó để cho tất cả mọi người sẽ học tập trong quá trình họ đang sống.

Nếu chúng ta từ bỏ ý định định nghĩa tình trạng non nớt bằng cách so sánh nó một cách bất biến với thành tựu của người lớn, chúng ta buộc phải từ bỏ cách suy nghĩ rằng non nớt tức là thiếu những đặc điểm đáng mong muốn. Khi từ bỏ quan niệm này, chúng ta cũng phải từ bỏ thói quen nghĩ rằng dạy học là phương pháp cung cấp cái bị thiếu nói trên bằng cách đong đầy kiến thức vào một cái lỗ trong trí óc và đạo đức trong khi nó đang chờ đợi sự đong đầy đó. Bởi đời sống nghĩa là tăng trưởng, cho nên một người luôn sống đích thực và tích cực bằng toàn bộ bản tính và những yêu sách tuyệt đối bất kể tại giai đoạn nào của quá trình tăng trưởng. Do đó, giáo dục tức là công việc cung cấp những điều kiện để đảm bảo sự tăng trưởng, hoặc tính đầy đủ của đời sống, bất kể tuổi tác nào. Thoạt đầu chúng ta nôn nóng nhìn vào tình trạng non nớt, coi nó như là điều gì đó phải vượt qua càng nhanh càng tốt. Sau đó, do được đào tạo bởi những phương pháp giáo dục như vậy, người lớn ngoái nhìn lại thời thơ ấu và niên thiếu với nỗi hối tiếc nôn nóng, coi đó như là một sân khấu của những cơ hội đã mất và những năng lực bị lãng phí. Tình trạng trớ trêu này sẽ chỉ chấm dứt khi người ta nhận ra rằng đời sống chứa đựng bên trong nó đặc tính riêng và rằng nhiệm vụ của giáo dục là làm việc với cái đặc tính riêng đó.

Hiểu được đời sống tức là tăng trưởng sẽ giúp chúng ta tránh được cái gọi là sự lý tưởng hóa thời thơ ấu mà trên thực tế đó chỉ là sự dễ dãi lười biếng. Đời sống không tồn tại trong bất kỳ hành động và mối hứng thú hời hợt nào. Cho dù không phải bao giờ cũng dễ dàng phân biệt được sự khờ dại bề ngoài đơn thuần có phải là một dấu hiệu cho biết năng lực nào đó mới xuất hiện và cho tới lúc ấy còn chưa được huấn luyện hay không, chúng ta vẫn cần ghi nhớ không được coi biểu hiện bề ngoài như là mục đích tự thân. Chúng là những dấu hiệu của sự tăng trưởng có thể xảy ra. Chúng phải được biến thành phương tiện của sự phát triển, của việc đưa năng lực tiến lên phía trước, chứ không phải bị bỏ mặc phát triển tùy tiện hoặc được nuôi dưỡng vì lợi ích của chính chúng. Sự đề cao thái quá tới các hiện tượng bề mặt (cho dù nhằm mục đích khiển trách hay khuyến khích) có thể củng cố các hiện tượng đó và do đó chặn đứng sự phát triển. Cái mà động năng tự nhiên đang hướng tới chứ không phải cái chúng đã là, mới là điều quan trọng đối với cha mẹ và thầy cô. Không gì diễn đạt hay hơn cái nguyên tắc tôn trọng tình trạng non nót bằng những lời sau đây của Emerson[1]: “Hãy tôn trọng trẻ em. Hãy bớt tỏ ra như là bố mẹ của chúng. Đừng xâm phạm sự cô đơn của chúng. Nhưng tôi nghe thấy tiếng la ó phản đối lời khuyên này: Có phải ngài sẽ thực sự vứt bỏ sợi dây cương của kỷ luật xã hội và cá nhân; có phải ngài sẽ bỏ mặc trẻ em với sự phát triển điên rồ những tình cảm và ý muốn bất thường của chúng và rồi ngài gọi tình trạng vô chính phủ đó là sự tôn trọng bản tính của trẻ em? Tôi [Emerson] xin trả lời - hãy tôn trọng trẻ em, tôn trọng chúng đến cùng, song hãy tôn trọng cả bản thân chúng ta nữa.... Công việc luyện rèn một cậu bé gồm có hai điểm sau đây: nuôi dưỡng cái tự nhiên của cậu bé và chỉ luyện rèn riêng cái đó mà thôi; nuôi dưỡng cái tự nhiên của cậu bé, song ngăn chặn phản ứng náo động, sự dại dột và sự đùa nhả của cậu bé; hãy nuôi dưỡng bản tính của cậu bé và trang bị cho bản tính ấy sự nhận thức phù hợp với ngay chính hướng phát triển của bản tính ấy.” Và Emerson tiếp tục chứng minh rằng sự tôn trọng dành cho thời thơ ấu và thời niên thiếu thay vì mở ra một lối đi dễ chịu và thoải mái cho người thầy thì nó lại “đòi hỏi ngay lập tức người thầy phải dành rất nhiều thời giờ, sự quan tâm ngay trong cách sống của mình. Nó đòi hỏi thời gian, mục đích sử dụng, sự hiểu biết thấu đáo, sự kiện, toàn bộ những bài học vĩ đại và sự giúp đỡ của Chúa; và chỉ duy nhất việc lưu tâm sử dụng [sự tôn trọng nói trên] mới có thể đem lại tính cách và sự sâu sắc [cho trẻ em]”.

Chú thích

  1. Ralph Waldo Emerson (1803-1882): thi sĩ và tư tưởng gia người Mỹ (ND).

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tên sách: Dân ghủ và giáo dục
  • Tác giả: John Dewey
  • Dịch giả: Phạm Anh Tuấn
  • Công ty phát hành: Phương Nam
  • Nhà xuất bản: NXB Tri Thức, 03/2010
  • Thực hiện ebook: tamchec (3/10/2014)
  • Soát lỗi: thanhhaitq, tamchec
  • Nguồn: tve-4u.org