"Liên sơn", "Quy tàng" và "Chu dịch"

"Liên sơn", "Quy tàng" và "Chu dịch"

Bốn yếu tố tạo thành "Kinh Dịch" là: cỏ thi, quái (quẻ), hào và từ. Các thuật sĩ đời nhà Hạ đã có cống hiến chưa từng có trong lịch sử đối với việc xây dựng "Kinh Dịch".

Do thời nhà Hạ, Trung Nguyên đã xuất hiện cục diện thống nhất lâu dài. Trong hoàn cảnh xã hội ổn định này, học thuật đã phát triển một cách ung dung. Các thuật sĩ đã thu lượm tư liệu của các bộ lạc, kinh qua chỉnh lí thống nhất, thêm bớt và cuối cùng đã biên soạn thành bộ sách xem bói toán có quẻ, có từ đầu tiên trong lịch sử, có tên là "Liên sơn". Đây chính là Hạ Dịch (Kinh Dịch thời nhà Hạ).

Sách "Liên sơn" lấy quẻ Cấn làm quẻ đầu tiên, tượng trưng "những đám mây xuất hiện trên núi, liên miên không ngớt".

Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương diệt vong, các thuật sĩ nhà Thương đã không bằng lòng dùng Hạ Dịch. Họ dựa vào những nghiên cứu của mình, tức những kiến thức của bộ lạc của chính họ đã chỉnh đốn lại Hạ Dịch và định ra Thương Dịch mang tên "Quy tàng".

Sách "Quy tàng" lại lấy quẻ Khôn làm quẻ đầu trong 64 quẻ, tượng trưng cho "Vạn vật không có cái gì không chứa đựng ở trong đó".

Đến đời nhà Chu, "Kinh Dịch" lại phát sinh một lần đổi mới nữa. Nghe nói Chu Văn Vương chính là người rất tinh thông "Kinh Dịch", ông đã từng bị vua Trụ giam nhiều năm ở trong ngục, ở đó, ông chuyên tâm nghiên cứu 64 quẻ, đồng thời đã viết ra quẻ từ và hào từ cho từng quẻ. Đợi mãi sau khi ông đánh bại vua Trụ, xây dựng nên Vương triều của mình, thành quả nghiên cứu của ông lúc đó mới trở thành văn hiến kinh điển của quốc gia. Đó chính là "Chu Dịch".

"Chu Dịch" lấy quẻ Càn làm quẻ đầu, đã phản ánh một bước nhảy vọt vĩ đại nữa về quan niệm của các nhà hiền triết Trung Quốc đương thời. Ân Thương lấy quẻ Khôn trước rồi mới đến quẻ Càn là thứ, là coi trọng mẫu hệ, còn người nhà Chu lại lấy Càn đầu, Khôn thứ là coi trọng phụ hệ. Các sách "Liên sơn", "Quy tàng" đều đã thất truyền. Hiện nay "Kinh Dịch" mà chúng ta bàn đến, chính là quyển sách quốc bản của nhà Chu.

Nếu nói Phục Hi vẽ ra Bát quái là hình thức ban đầu của nền văn hóa Trung Quốc, Văn vương phát triển Chu dịch sẽ là mở đầu của nền văn hóa Trung Hoa.

"Dịch đạo thâm, nhân cách tam thánh, thế lịch tam cổ".

"Kinh Dịch" không những là bộ sách kinh điển cổ xưa nhất của Trung Quốc, mà từ xưa đến nay nó còn được tôn sùng hết mức, còn được gọi là "Quần kinh chi thủ".

Con người trong vũ trụ biến hóa khôn lường, sinh tồn và phát triển ra sao, trong xã hội cơ hội và duyên phận phải liệu trước, làm thế nào để làm nên sự nghiệp. "Kinh Dịch" dùng trí tuệ độc đáo của phương Đông, ngửa lên xem thiên văn, nhìn xuống xét địa lí, ở giữa thông hiểu "vạn vật chi tình", nghiên cứu sự giao lưu giữa con người với thiên nhiên, tìm hiểu đạo lí vĩ đại "tất biến, sở biến và bất biến" của đời người, làm sáng tỏ quy luật "tri biến, ứng biến, thích biến" của đời người. Đây chính là những chỗ vĩ đại của "Kinh Dịch".

Vì vậy, chúng ta có thể xem "Kinh Dịch" là mô thức nhận biết của các nhà hiền triết Trung Quốc đối với vũ trụ vạn vật bao la và cuộc sống của con người cơ may khôn lường.

64 quẻ của "Kinh Dịch" tượng trưng cho các hiện tượng của tự nhiên hoặc nhân sự tại một thời điểm nào đó trong quá trình biến đổi không ngừng. Vì thế, ý nghĩa của "Kinh Dịch" là vô cùng coi trọng thời gian. "Thời" nói trong "Kinh Dịch" là những tình huống của con người trong khi đấu tranh, khi vui sướng, khi khốn khó, khi đau khổ v.v...

"Kinh Dịch" nói đến thời gian, tôn trọng "thời trung". Học giả đời Thanh là Huệ Đống nói "dịch đạo thâm, nhất ngôn dĩ tế chi, viết thời trung". (Đạo lí "Kinh Dịch" rất sâu sắc, nhưng nói tóm lại là "thời trung"). Khổng Tử viết "Thoán truyện" nói về thời có 24 quẻ, nói về trung có 35 quẻ; "Tượng truyện" nói về thời có 6 quẻ, nói về trung có 38 quẻ. Tử Tư viết sách "Trung Dung" kể lại những lời nói của Khổng Tử rằng: Quân tử mà thời trung; Mạnh Tử lại nói: "Khổng Tử, bậc thánh bàn về thời. Là phép tắc cùng truyền lại từ thời Nghiêu Thuấn trở lại đây. Hiểu biết được nghĩa của thời trung là đã nắm được Dịch quá nửa vậy!"

Từ đó ta thấy sự coi trọng của "Kinh Dịch" đối với nhân tố thời gian và nguyên tắc trung dung. Nói cách khác, thời trung sẽ là trạng thái tốt đẹp nhất của sự vật hoặc nhân sự.

Hiểu được quy luật của thiên thời mới có thể "an mệnh", thông hiểu nguyên tắc của trung dung mới có thể "thành dĩ". Tác giả của "Kinh Dịch" đã chỉ bảo cho người đời sau rằng: con người sinh ra ở đời, khi lập thân chính nghiệp cần phải giác ngộ đạo lí "thành dĩ an mệnh". Sáng tỏ phép tắc của thiên địa, nghiên cứu đạo lí của âm dương, tu chỉnh đường tính mệnh, rửa lòng nghiền ngẫm thời cơ, làm sáng tỏ điều đức mới, thì mới mong hiển đạt giàu sang.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Thiên thời
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyên An
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Nguồn: tusachcuaban.com
Don't forget to follow us on Facebook!