"Dương Trừu Mã" quái ảnh

"Dương Trừu Mã" quái ảnh

Người Thục tương đối nổi tiếng với thuật Quỹ Cách quái ảnh. Dương Vọng Tài, người Giang Nguyên châu Thục, tự là Hi Lã, thời thơ ấu khác người, sau khi lớn lên nổi tiếng trong quê hương với thuật số, người Thục gọi ông là "Dương Trừu Mã".

Ở phía trước nhà của Dương Trừu Mã có một cây to, một hôm, ông viết chữ lên mảnh giấy dán lên cửa khuyên răn người, qua đường "Ngày mai vào lúc giữa giờ Ngọ và giờ Mùi, người qua đường không được đi qua chỗ này, nếu đi qua sẽ gặp tai họa". Mọi người đều bảo nhau đừng đi qua. Ngày hôm sau lúc giữa giờ Ngọ và giờ Mùi, cây to tự đổ xuống chắn hết cả giữa đường phố, nhưng nhà cửa hai bên phố đều không hề hư hỏng.

Dương Trừu Mã thích tạo ra những trò ác, có người tố cáo ông có thuật yêu mê hoặc mọi người, theo pháp luật phải khép vào tội chết, thế là bắt Dương Trừu Mã tống vào ngục giam. Cai ngục rất sợ phép thuật của Dương Trừu Mã, không dám thi hành hình phạt, nhưng lại sợ ông ta trốn đi mất, mình chịu không nổi tội. Dương Trừu Mã biết ý bèn nói với cai ngục: "Không việc gì phải sợ tôi, tôi còn có thể mắc lại tội, mệnh số đã định tôi vui vẻ chịu hình phạt. Mấy ngày trước tôi đã làm hai việc phạm luật pháp, lẽ ra phải chịu tội. Qua đi hai lần nạn ách này, tôi mới có thể tu thành chính đạo". Tư lí Dương Thầm đêm thẩm tra lại án này, Dương Trừu Mã nói: "Hiền thúc có thư đến phải không? Thực tế đáng tiếc", Thầm không thèm để ý, không ngờ vừa bước ra khỏi cửa liền có người nhà đến báo tin ông chú mất. Qua mấy ngày Dương Trừu Mã lại nói với Dương Thẩm: "Sang năm nhà chú cò việc vui, bốn người có tên là Vọng và chú". Năm thứ hai bốn người anh em của Dương Thầm là Tòng Vọng, Dân Vọng, Tùng Vọng và Thái Vọng dự thi đều trúng tuyển. Dương Thầm có một cô con gái, tuổi khoảng 15, 16 tuổi bỗng nhiên bị bệnh, tìm thuốc chữa trị đều vô hiệu. Dương Trừu Mã thư phù chữa cho nó, đột nhiên khỏi bệnh. Những năm cuối đời Dương Trừu Mã đến cư trú ở Thành Đô, người gõ cửa để xin hỏi đông như chợ. Nhưng có người hỏi về mệnh thì buột miệng trả lời ngay hoặc làm các bài phú, làm thơ, trường ca tùy ý viết nên. Gặp khi có thi cử thì trước tiên làm một bài thơ biểu thị tên người, nhưng lời lẽ không rõ ràng, không thể đoán được. Đến khi yết bảng, thì tên họ của người thủ khoa tất nhiên sẽ quanh co xem ở trong thơ. Có khi đem toàn bộ tên họ trong bảng dự cáo trước đều viết ra và phong kín lại, tên người phần nhiều đều thiếu thiên bàng (tức thiếu một phần chữ Hán về một phía nào đó), không thành toàn chủ, đợi sau khi yết bảng mới biểu thị người, tất cả những người trúng tuyển tên theo thứ tự trước sau không có ai là không hợp.

Sách "Di kiên chí" của Hồng Mại quyển Nhâm, điều "Dương Trừu Mã quái ảnh" khi nói đến thuật Quỹ Cách quái ảnh của Dương Trừu Mã đã viết như sau: "Dương Trừu Mã quái tượng nói về sinh tử cát hung của người, sang hèn được xác định thường thường như thần".

Theo truyền thuyết Phí Hiếu Tiên đã từng viết sách "Phân định thư" thuật lại thuật Quỹ Cách quái ảnh, con cháu Đại tướng Địch Thanh nhà Tống được sách này, rất giỏi thuật Quỷ Cách quái ảnh, đã từng chiêm bốc ở đô thị.

Thuật Quỹ Cách quái ảnh bắt nguồn từ những năm Thời Bắc Tống Nhân tống Chí Hòa, thịnh hành rất nhanh chóng. Cho nên ở Bắc Tống, thuật này được giữ với hình thức sơ khai nhất của nó, tức là Thuật sĩ trước tiên phải căn cứ vào năm tháng ngày giờ sinh của người đến xin xem để suy đoán, sau đó vẽ tranh biểu thị điềm báo và phối hợp thơ để thuyết minh, tranh họa và thơ phối hợp làm ra, người bình thường đều hoàn toàn khó hiểu, phần nhiều là sau sự việc đã qua mới hiểu ra ứng nghiệm của nó. Nhưng đến thời Nam Tống, thuật Quỹ Cách quái ảnh đã biến dạng đi, Dương Trừu Mã quái ảnh dẫn ra ở trên đã gần với Tả đạo Vu thuật, cho nên đương thời đã có người tố cáo Dương Trừu Mã dùng "Tả đạo mê hoặc nhiều nguờì", Dương Trừu Mã vì vậy bị khiển trách. Ngoài ra có một số thuật sĩ giở trò thuật Quỹ Cách quái ảnh, tuy có khác với Dương Trừu Mã, nhưng so với thuật Quỹ Cách quái ảnh của Phí Hiếu Tiên thời Bắc Tống truyền lại lại đi quá xa, khâu quan trọng là vẽ tranh đế biểu thị điềm báo đều đã bỏ, cái giữ lại phần lớn đều chỉ có thơ mà thôi, lời thơ hơi tương tự với thơ sấm.

Thuật sấm vĩ khởi đầu từ thời Tần, thịnh hành ở thời Lưỡng Hán. Sách "Thuyết văn giải tự" nói: "Sấm, nghiệm dã" ý nói lừa giả là ẩn ngữ (lời nói bóng) dự quyết cát hung, sấm, trên thực tế là dấu hiệu lời dự đoán tương lai, cũng chính là như lối nhà khoa học Trương Hành thời Đông Hán nói "Lập ra lời đoán trước, có chứng triệu xảy ra ở sau này". Vĩ là một phân Nhánh của Kinh, suy diễn cả đến nghĩa khác, tương truyền Khổng Tử "đã tự thuật Lục Kinh để làm sáng tỏ đạo Trời lẽ Người, biết đời sau không thể khảo xét được ý nghĩa của nó, cho nên lập riêng sấm thư và Vĩ thư đế lưu lại cho đời sau". Câu này là trích dẫn từ sách "Tùy thư. Kinh tịch chí". Ta có thể thấy thuật Sấm Vĩ được phủ cho màu sắc thần học. Nhưng, nó vừa ra đời, đã gặp phải sự phản đối của phái vương triều chính thống đương thời. Bắt đầu Từ thời Hán, nhiều đời đế vương đều đã từng công khai cấm sấm Vĩ, nhưng việc đó cũng không làm cho nó bị diệt mất, trái lại càng diễn ra càng mãnh liệt.

Thuật Sắm Vĩ có thể phân thành hai loại bằng văn tự và tranh vẽ. Sấm biểu thị bằng tranh vẽ trong sách "Sấm thư" đã từng có ghi chép, còn sấm bằng văn tự, do việc ghi chép và lưu truyền thuận tiện và những, câu chuyện nó hàm chứa quanh co kích động lòng người, nên trong các tài liệu lịch sử của Trung Quốc cổ đại còn ghi lại được rất nhiều. Theo hình thức biểu hiện của nó, loại sấm này lại có thể phân thành thơ sấm và lời sấm.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

  • Tác phẩm: Thiên thời
  • Tác giả: Bạch Huyết
  • Dịch giả: Nguyên An
  • Nhà xuất bản Hà Nội 2008
  • Nguồn: tusachcuaban.com
Don't forget to follow us on Facebook!